Xu Hướng 2/2024 # 7 Biện Pháp Gây Hứng Thú Cho Học Sinh Theo Từng Môn Để Không Nói Chuyện Riêng Trong Giờ Học # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 7 Biện Pháp Gây Hứng Thú Cho Học Sinh Theo Từng Môn Để Không Nói Chuyện Riêng Trong Giờ Học được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Quar.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tạo hứng thú cho người học luôn là một vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy – học. Bởi vì dạy – học là hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu quả phụ thuộc vào chủ thể nhận thức là người học. Và hôm nay trong bài viết này, chúng mình xin giới thiệu đến bạn các biện pháp gây hứng thú cho học sinh theo từng môn để tránh trường hợp nói chuyện trong giờ học.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn địa lý

Trong quá trình giảng dạy các phân môn thuộc chuyên ngành xã hội, khi nói đến văn thì ngôn ngữ mượt mà, êm dịu, dễ đi vào lòng người, hay có sự lô – gích như sử. Còn nói đến Địa lý thì sao? Theo quan điểm nhìn nhận thực tế của học sinh và của mọi người thì đây là một môn học tuy thuộc lĩnh vực xã hội song lại mang lưỡng tính tự nhiên nhiều hơn. Đa phần có hàm lượng kiến thức khá trừu tượng, khó hiểu. Trông nó có vẻ “khô” quá. Học sinh phần lớn ít có hứng thú học môn này hơn so với văn, sử. Nhằm tạo hứng khởi cho học sinh đối với môn học này, các trò chơi cũng được các thầy cô áp dụng.

Chẳng hạn Ô chữ có 9 hàng ngang và 1 ô hàng dọc. Chia lớp làm 2 đội A-B, mỗi đội lần lượt chọn ô chữ hàng ngang. Trong vòng 10 giây nếu trả lời đúng ghi được 10 điểm, nếu trả lời sai đội còn lại giành quyền trả lời. Đội nào đoán được ô chữ hàng dọc ghi được 30 điểm, nếu sai trò chơi sẽ tiếp tục cho đến khi tìm ra hết các từ hàng ngang. Đội nào ghi được nhiều điểm hơn sẽ giành chiến thắng.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn đạo đức

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn địa lý

Phương pháp động não: Là một phương pháp giúp học sinh trong một thời gian này sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề.

Giáo viên cần nêu vấn đề được tìm hiểu trước lớp hoặc (nhóm nhỏ).

Khích lệ học sinh phát biểu, đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. Bên cạnh đó các em cũng tìm được ra những ý cần tìm hiểu bằng những câu hỏi đặt ra để giữa các em được giao lưu làm sáng tỏ những ý liến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý. Phương pháp còn có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề đạo đức. Song đặc biệt phù hợp với các vấn đề học sinh có kinh nghiệm ứng xử. Các ý kiến phát biểu nêu ngắn gọn, tất cả ý kiến nêu ra đều được giáo viên hoan nghênh, chấp nhận mà không nên phê phán, hoặc nhận định đúng ai. Giáo viên nhấn mạnh kết luận đó là các kết quả của sự tham gia chung của tất cả các em. Ví dụ:

Đi học đều và đúng giờ có lợi gì ? 

Việc giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập là thể hiện rõ điều gì ? 

Điều gĩ sẽ có thể xảy ra, nếu chơi đùa dưới lòng đường ?

Phương pháp đóng vai: Đóng vai là một phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử trong các tình huống giả định. Gây hứng thú cho học sinh có thể thấy ngay tác động và hiệu quả lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.

Phương pháp trò chơi: Phương pháp trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát hiện và chiếm lĩnh những nội dung học tập thông qua việc chơi một trò chơi trong tiết học. Trò chơi phải được tổ chức một cách hợp lý, đúng đắn thì mới mang lại hiệu quả cao. Qua trò chơi trẻ không những phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức.

Phương pháp kể chuyện: Phương pháp kể chuyện đặc biệt phù hợp với học sinh lớp 1. Thu hút học chú ý vào tiết học hăng say. Vì ở lứa tuổi các em rất thích nghe kể chuyện. Phương pháp này còn giúp cho bài học đạo đức đến với trẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, sống động.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn đạo đức

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn khoa học

Tổ chức hoạt động dạy học dưới dạng trờ chơi – gameshow: có chủ yếu 2 dạng:

Trò chơi hình thành kiến thức mới

Trò chơi củng cố kiến thức

Tổ chức cho học sinh thực hành, thí nghiệm: Đây là một hoạt động giúp học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại. Thông qua đó, giúp các em ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tế, rèn luyện những kỹ năng thực hành, đức tính cần cù, chịu khó, đoàn kết. Bên cạnh đó, các em cũng sẽ tin tưởng hơn vào kiến thức mình đã học, tận mắt nhìn thấy những gì mình làm ra, tin vào khả năng thực sự của mình,…

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Việc tạo hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập phải đi đôi với đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp dạy học. Đặc biệt đối với môn Khoa học, trực quan sinh động có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu bài của học sinh. Bởi lẽ có những kết luận có thể diễn giải được bằng lời nhưng cũng có khi không thể trình bày hết được. Nhưng chỉ bằng một lần được quan sát, tận mắt chứng kiến chắc chắn các em sẽ ghi nhớ lâu hơn. Mặt khác, có những kiến thức mà trong thực tế các em khó có điều kiện quan sát, đối với những dạng bài này, việc ứng dụng công nghệ thông tin (chương trình Microsoft PowerPoint) sẽ giúp các em tiếp nhận kiến thức tốt hơn như Video clip, hình ảnh được trình chiếu bằng PowerPoint mà trong thời điểm hiện tại các em không thể quan sát được.

Qua việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học không chỉ tạo ra hình thức quan sát sinh động mà còn giúp giáo viên tiết kiệm thời gian để tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp. Điều này thực sự phát huy tốt tính tích cực, sáng tạo và hứng thú cho học sinh khi tham gia tìm hiểu bài. Nếu không thông qua thực hành, thí nghiệm giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải. Vì lời nói thì trừu tượng mà ví dụ bằng hình ảnh, video clip thì rất cụ thể.

Từ chỗ học sinh nhàm chán mỗi khi học phân môn Khoa học vì chỉ quan sát hình ảnh qua sách giáo khoa, đọc thông tin cho sẵn, phân tích và rút ra bài học thì nay các em đã rất hứng thú khi được quan sát những hình ảnh được chụp từ thực tế để minh họa thêm cho bài học, phim tư liệu kèm theo các âm thanh, hình ảnh động. Các em được hiểu rộng hơn về thế giới thực, về những gì các em có thể chạm vào, nghe thấy, ….các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi tham gia các hoạt động học tập. Chủ động tìm tòi, chủ động khai thác bài học và biết đặt ra các câu hỏi thắc mắc về nội dung bài.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn lịch sử

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn khoa học

Trong hệ thống giáo dục của bất cứ quốc gia nào, Lịch sử luôn là môn học bắt buộc và có vai trò quan trọng hình thành nhân cách, tư tưởng và tinh thần của mỗi người. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy kết quả học môn lịch sử của đại bộ phận học sinh ngày nay vẫn chưa thực sự tốt. Đó phải chăng là vì giáo viên chưa tạo hứng thú, chưa thật sự đầu tư cho tiết dạy, phương pháp dạy học chưa hiệu quả, học sinh thiếu phương tiện học tập. Vậy biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn lịch sử? chúng mình xin giới thiệu một số phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú học môn Lịch sử cho học sinh như sau:

Phương pháp quan sát: kết hợp với việc quan sát các bức hình sau trả lời câu hỏi. Phương pháp này giúp cho học sinh có biểu tượng sinh động, cụ thể về sự kiện lịch sử, kết hợp với việc đối chiếu với sách giáo khoa, phân tích, tổng hợp để tìm ra câu trả lời. Chứ không phải chỉ tưởng tượng suông và đọc sách trả lời, mang cái nhìn cụ thể cho học sinh, bồi dưỡng cảm xúc, tình cảm yêu nước, thương nòi cho học sinh. Lưu ý: Ở Tiểu học, mục tiêu quan sát phải đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.

Phương pháp hỏi đáp: Nếu việc dạy học chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức, thầy đọc trò chép, không phát huy được tính tích cực chủ động học tập của học sinh thì học sinh sẽ nhanh cảm thấy chán nản, mệt mỏi, bị thụ động. Vận dụng phương pháp hỏi đáp vào dạy học Lịch sử là một trong những cách dạy học hữu hiệu tạo hứng thú học tập cho học sinh. Vì phương pháp này kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập, bồi dưỡng học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói và làm không khí lớp học sôi nổi.

Đặt ra những câu hỏi yêu cầu học sinh phải tìm tòi, phải có cảm nhận riêng của mình. Khi trả lời được học sinh sẽ cảm thấy phấn khởi vì trình độ, khả năng của mình so với những bạn khác, các em sẽ có hứng thú học tập tiếp tục chú ý nghe giảng, trả lời các câu hỏi. Những học sinh còn lại sẽ noi theo, muốn trả lời được như bạn để khẳng định mình. Từ đó sẽ tạo nên không khí học tập sôi nổi, vui tươi.

Lưu ý:

Câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ hiểu xoáy vào trọng tâm để tất cả học sinh đều hiểu được yêu cầu của câu hỏi.

Cần đặt câu hỏi cho mọi học sinh trong lớp, tức là câu hỏi có nhiều mức độ, khó, dễ, trung bình.

Cần chú ý lắng nghe câu trả lời của các em khi cần có thể nhận xét, bổ sung, sửa chửa để hoàn thiện nội dung câu trả lời cho các em.

Phương pháp trò chơi học tập: Áp dụng với các kiểu bài có dạng bài ôn tập, tổng kết.Các bài về nhân vật, sự kiện, các bài về các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến. Giáo viên nên vận dụng tổng hợp phương pháp trò chơi học tập kết hợp với những phương pháp khác như hoạt động nhóm, hỏi đáp, quan sát.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Tiếng Anh

Muốn học sinh tiểu học học tốt môn Tiếng anh thì người giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động, mà cần phải gây hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Và một số phương pháp tạo hứng thú sau có thể giúp ích cho các thầy cô:

Sử dụng âm nhạc trong giờ học ngoại ngữ: Khi dạy tiếng Anh cho trẻ em thì điều quan trọng là giáo viên phải thực sự sáng tạo để có thể duy trì sự hứng thú của học sinh đối với môn học. Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo hứng thú cho học sinh khi dạy dạy các kĩ năng như dạy đoạn hội thoại, dạy từ vựng và dạy mẫu câu. Sử dụng âm nhạc là một phương pháp hữu ích để giúp quá trình học tiếng Anh trở nên vui vẻ và đầy hào hứng. Âm nhạc có thể giúp thay đổi bầu không khí trong lớp học một cách nhanh chóng. Thường xuyên lắng nghe các bài hát tiếng Anh và hát cùng bạn bè, thầy cô sẽ giúp các em nhớ bài học tốt hơn, góp phần nâng cao vốn từ vựng, mẫu câu và các kĩ năng nghe, nói, phát âm.

Sử dụng các trò chơi ngôn ngữ: Nhiều tài liệu nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tiếng Anh tiểu học đã cho rằng trò chơi không chỉ là hoạt động để lấp khoảng trống về thời gian trong các tiết học mà nó còn có một giá trị giáo dục rất lớn. Trong thực tế, trẻ em học thông qua các hoạt động vui chơi là chính; vì vậy việc sử dụng trò chơi trong các tiết học Tiếng anh có thể giúp ích cho việc học ngôn ngữ của học sinh.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Tiếng Anh

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Tiếng Việt

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Tiếng Anh

Cũng như các môn học khác, muốn học tốt môn Tiếng Việt, trước hết mỗi học sinh cần phải say mê và hứng thú. Nhưng làm thế nào để vừa kích thích hứng thú học tập của học sinh, vừa thực hiện tốt mục tiêu của tiết dạy là sự trăn trở của tất cả mọi giáo viên nói chung?

Tạo động cơ học tập cho học sinh thông qua việc giúp học sinh ý thức được lợi ích của việc học: Giáo viên giúp học sinh xác định mục đích của việc học tập. Cụ thể là sau khi học xong một môn học các em sẽ lĩnh hội được những gì và nếu như không học thì chúng sẽ không có những gì. Có như thế, học sinh mới nỗ lực học tập. Ngay từ những ngày học sinh mới đến trường, chúng ta cần làm cho các em nhận thức về lợi ích của việc học một cách tích cực và thiết thực với các em: “Con mà biết chữ thì thật là thú vị. Cô có thể viết cho con lời nhắn, con có thể đọc truyện…”,.. Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó. Chẳng hạn, sự cần thiết của dấu phẩy sẽ được làm rõ khi chỉ ra sự khác nhau về nghĩa của hai câu: “Đêm hôm, qua cầu gãy” và “Đêm hôm qua, cầu gãy”.

Giáo viên giúp học sinh thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập – tiếng Việt, văn chương.

Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp nhiều với những tác phẩm văn chương, những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực: Chẳng hạn, trong các tiết Tập đọc, trước khi cho học sinh tìm hiểu nội dung bài, giáo viên cần tổ chức cho học sinh luyện đọc nhiều lần: đọc mẫu, luyện phát âm, luyện đọc đoạn, thi đọc diễn cảm, thi đọc thuộc lòng.

Sử dụng thông tin bên lề giờ học: Hứng thú với tiếng Việt – văn chương còn được tạo ra bằng cách sử dụng các thông tin bên lề giờ học. Chẳng hạn, khi dạy bài Hạt gạo làng ta, giáo viên sẽ kể cho học sinh nghe một vài giai thoại về thi sĩ thần đồng Trần Đăng Khoa. Có như vậy thì giờ học tiếng Việt mới thực sự trở nên hấp dẫn và gây được hứng thú đối với các em học sinh.

Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Ví dụ, giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát con đường từ nhà tới trường trước khi yêu cầu tả nó,… Bên cạnh việc tổ chức cho HS tham quan, cần tổ chức những buổi ngoại khóa tiếng Việt – văn học, nghe nói chuyện về các nhà văn, nhà thơ, các anh hùng, các chiến sĩ cách mạng, về những người có công với nước, về những gương người tốt, việc tốt,…

Sử dụng các thủ pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của học sinh tiểu học, đặc biệt sử dụng các trò chơi, trò thi đố

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Toán

Gây hứng thú cho học sinh từ việc xử lí các tình huống sư phạm: Ngay từ đầu giáo viên phải tạo được niềm tin và tình cảm thực sự từ học sinh dành cho giáo viên. Qua cách ăn mặc, đi đứng, nói năng đúng chuẩn mực đạo đức. Khi vào lớp giáo viên phải tạo được bầu không khí tươi vui, thoải mái, có thể chỉ bằng những câu nói tiếng cười, nét mặt vui vẻ của giáo viên. Giáo viên không nên gây căng thẳng nặng nề trong giờ học, nhất là giáo viên vào lớp mà gắt gỏng hoặc vào lớp với khuôn mặt nặng nề. Giáo viên phải luôn tôn trọng ý kiến trả lời của học sinh, không nên gò ép học sinh vào khuôn phép cứng nhắc, tránh thái độ yêu cầu học sinh trả lời sắp xếp ngay theo thứ tự của mình. Khuyến khích cho điểm động viên học sinh một cách tế nhị, hợp lí khi học sinh trả lời đúng câu hỏi hoặc học sinh không trả lời được câu hỏi. Từ đó sẽ tạo cho học sinh có được niềm tin vào khả năng của bản thân. Giáo viên cần phải cải tiến và sáng tạo đồ dùng dạy học, thiết kế thí nghiệm phù hợp với điều kiện của trường mình, sử dụng phương pháp dạy học nhóm hoặc dùng phiếu học tập hợp lí.

Tổ chức trò chơi trong Toán học: Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi tròchơi trong đó mục đích của trò chơi truyền tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Để tổ chức được trò chơi trong dạy học Toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau:

Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục.

Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu kiến thức.

Trò chơi phải phù hợp với tâm sinh lý của học sinh, phù hợp với khả năng của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường.

Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.

Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo.

Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh…

Sử dụng đồ dùng dạy học để kích thích hứng thú cho học sinh: Để giúp học sinh tự tìm hiểu, tự chiếm lĩnh kiến thức mới, giáo viên nên sử dụng đồ dùng dạy học để kích thích hứng thú học tập cho các em. Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong dạy học nói chung và dạy học toán nói riêng. Trong qúa trình dạy học, học sinh nhận thức nội dunh bài học dưới sự tổ chức dẫn dắt của giáo viên, với sự hỗ trợ của đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy học đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, các khái niệm, quy tắc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo.Đồ dùng dạy học giúp cho học sinh quan sát một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học. Đồ dùng dạy học làm tăng hứng thú, nhận thức của học sinh.

Phân chia các đối tượng học sinh:

Đối với những học sinh hỏng kiến thức: Đối với những em hỏng kiến thức về cộng, trừ, nhân, chia; thường những em này khi đặt tính và thực hiện phép tính hay sai, dễ chán học, không thích làm bài tập. Vì vậy giáo viên nên dành nhiều thời gian để hướng dẫn.

Đối với những học sinh yếu toán: Giáo viên nên sử dụng biện pháp linh hoạt, vui nhộn để động viên tinh thần học toán của học sinh. Những học sinh yếu toán thường mặc cảm, rụt rè, sợ sệt mỗi khi giáo viên hỏi bài.

Đối với những học sinh chưa chú ý học: Đối với những em ham chơi, lơ đãng trong giờ học. Giáo viên nên áp dụng nhiều phương pháp dạy trong một tiết học và liên tục đưa ra những tình huống mới để lôi cuốn các em, giúp các em có thêm hứng thú học tập và ngày càng yêu thích môn Toán.

Để học sinh Tiểu học học tốt được môn Toán thì mỗi giáo viên không chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu có sẵn trong sách giáo khoa, trong sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách rập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra rất đơn điệu và tẻ nhạt, kết quả học tập sẽ không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.

Biện pháp gây hứng thú cho học sinh trong môn Toán

Đăng bởi: Hiệp Đỗ

Từ khoá: 7 biện pháp gây hứng thú cho học sinh theo từng môn để không nói chuyện riêng trong giờ học

12 Trò Chơi Chuyển Tiết, Giữa Tiết Và Trong Giờ Học Cho Học Sinh Tiểu Học Hay Và Thú Vị Nhất

Trò chơi: Lucky number (con số may mắn)

Chơi trong giờ học Tiếng Anh

Giáo viên sẽ kẻ một bảng gồm 15 ô vuông và ghi vào đó 15 số tự nhiên bất kỳ, trong đó sẽ có 12 ô chứa câu hỏi để học sinh trả lời còn 3 câu là 3 con số may mắn gọi là Lucky number.

Mỗi con số may mắn là một điểm 10 và không có câu hỏi.

Luật chơi: 

Giáo viên sẽ chia lớp thành 2 đội và đặt tên cho các đội, mỗi đội cử ra một bạn nhóm trưởng để vằn tù tì xem đội nào được quyền chọn trước.

Lượt 2 đến đội kia chọn ô, nếu chọn vào ô may mắn thì sẽ không phải trả lời câu hỏi và sẽ được vỗ tay chúc mừng, đồng nghĩa với việc nhận được số điểm may mắn là 10 điểm.

Kết thúc trò chơi: Cộng điểm đội nào nhiều điểm thì đội đó thắng, khi đội nào chọn vào ô Lucky number sẽ được tặng một tràng vỗ tay.

* Lưu ý: Giáo viên có thể thay đổi trò chơi để tăng tính cạnh tranh, tạo không khí hào hứng sôi nổi bằng cách quy định điểm, trong 15 ô thì sẽ chứa 12 ô có 5 điểm, 2 ô có 10 điểm và một ô đặc biệt được là 20 điểm.

Trò chơi: Slap blackboard (đập vào bảng)

Trò chơi: Lucky number (con số may mắn)

Mục đích:

Giúp học sinh luyện đọc và củng cố kỹ năng nghe lại từ đã học, cũng như có thể nhận diện mặt chữ.

Luyện phản xạ nhanh cho các em.

Giáo viên cho cả lớp ngồi trật tự tại chỗ, sau đó giới thiệu tên trò chơi và vẽ một số hình khác nhau lên bảng chẳng hạn như: hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình thoi, hình ê líp,…

Tiếp theo, giáo viên ghi lại một số từ mới vừa học vào các hình trên.

Sau đó, giáo viên cho học sinh đứng trên bảng trong tư thế chuẩn bị.

Giáo viên sẽ đọc lần lượt các từ mới.

Học sinh đứng trước bảng, nghe giáo viên đọc và đập nhanh vào chữ đó.

Luật chơi: 

Chơi theo cặp, giáo viên chia lớp làm hai đội và đặt tên cho mỗi đội, lần lượt mỗi đội cử ra từng bạn nên thi đấu với bạn của đội kia.

Hai bạn đứng trước bảng ở một khoảng cách nhất định và nghe giáo viên đọc rồi nhanh chóng đập tay vào chữ giáo viên vừa đọc được ghi trên bảng, ai đập nhanh và đúng sẽ mang về cho đội mình 1 điểm.

Tiếp tục với cặp thi đấu khác, kết thúc là đủ số từ mà giáo viên đã nêu ra trước khi đọc. 

Kết thúc trò chơi: Cộng điểm đội nào nhiều điểm thì đội đó thắng, đội nào thắng sẽ được tặng một tràng vỗ tay.

* Lưu ý: Trò chơi này cũng có thể được thực hiện như sau: cử ra một bạn giỏi lên để đọc những từ bất kỳ vừa ghi trên bảng và giáo viên sẽ cho hai bạn nghe nhận diện và đập tay vào hình có từ vừa đọc.

Trò chơi: Slap blackboard (đập vào bảng)

Trò chơi: Thi đọc tiếp sức

Trò chơi: Slap blackboard (đập vào bảng)

Có thể chơi trong giờ Tiếng Việt lớp 2

Mục đích: Rèn kĩ năng đọc đúng và nhanh bài Tập đọc, luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng câu nối tiếp.

Thời gian chơi: 5 – 7 phút

Chuẩn bị:

– Một đồng hồ (bấm thời gian chơi)

– Chọn một học sinh làm trọng tài

Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội có 5 em

Tổ chức chơi: 12 – 3 đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn (bài quy định sẽ đọc)

– Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh. Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) mới được đọc tiếp câu thứ 2 …cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm; nếu chư chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1 đọc – người số 2 đọc…cho đến hết bài thì dừng lại. Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm.

Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được 1 điểm; không được tính điểm nếu vi phạm một rong các trường hợp sau:

+ Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu.

+ Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong.

+ Đọc liền hai câu trở lên.

– Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và điểm số của từng nhóm. Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách.

Thưởng – phạt:

– Đội thắng: Được giáo viên tuyên dương trước lớp bằng một tràng pháo tay.

– Đội thua: Xếp thành hàng, bắt chước tiếng kêu của các loài động vật: mèo, gà, lợn…

Lưu ý:

– Trong khi chơi, nếu người đọc câu trước lỡ đọc sang câu sau một vài tiếng rồi mới dừng lại thì người tiếp theo vẫn phải đọc lại từ đầu câu mà mình phải đọc, cả nhóm sẽ bị kéo dài thêm về mặt thời gian.

– Trò chơi được sử dụng ở tất cả các tiết Tập đọc. Giáo viên có thể thay đổi các bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng Học sinh.

Nguồn: Internet

Trò chơi: Ghép tranh với hình tương ứng

Trò chơi: Thi đọc tiếp sức

Có thể chơi trong giờ học Tiếng Việt ở lớp 1

Mục tiêu: Hiểu nghĩa của từ để ghép đúng tranh. Rèn luyện sự nhanh nhạy, tự tin.

Chuẩn bị: Một số tranh (ảnh) các con vật, một số thẻ từ (ghi sẵn).

Cách chơi:

Phát tranh và thẻ từ cho các nhóm.

Nêu yêu cầu các nhóm thi đua ghép các tranh (ảnh) với các từ tương ứng. Nhóm nào ghép đúng và nhanh hơn thì thắng cuộc.

Trò chơi: Ai đúng? Ai nhanh?

Trò chơi: Ghép tranh với hình tương ứng

Có thể chơi trong giờ Toán lớp 5

Trò chơi: Ai đúng? Ai nhanh?

Trò chơi: Xây hàng rào

Trò chơi: Ai đúng? Ai nhanh?

Có thể chơi trong giờ Toán lớp 4

Trò chơi: Chuyền điện

Trò chơi: Xây hàng rào

Có thể chơi trong giờ Toán lớp 3

Trò chơi: Chuyền điện

Trò chơi: Ai nhanh hơn

Trò chơi: Chuyền điện

Có thể chơi trong giờ Toán lớp 2

Trò chơi: Ai nhanh hơn

Trò chơi: sắp xếp thứ tự

Có thể chơi trong giờ học Toán lớp 1

Mục đích:

Học sinh nhận biết được thứ tự các số.

Rèn tính nhanh nhẹn chính xác trong khi làm bài tập.

Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị sẵn các tấm bìa, mỗi tấm bìa có ghi sẵn số đã học từ 1 đến 10.

Luật chơi: Xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc từ lớn đến bé.

Cách tiến hành: Giáo viên phát cho mỗi em tham gia chơi một tấm bìa có ghi sẵn số để các em chuẩn bị. Khi nghe giáo viên hô: 1, 2, 3 học sinh lập tức mỗi em cầm tấm bìa có ghi sẵn số lên đứng vào vị trí của mình, khi nghe hô dừng thì các em không được thay đổi vị trí nữa.

Giáo viên cùng cả lớp nhận xét tuyên dương những em biết xếp đúng vị trí.

Trò chơi: Đứng, ngồi, nằm, ngủ

Trò chơi: sắp xếp thứ tự

Có thể chơi: Chuyển tiết, giữa tiết

Yêu cầu:

Đứng: Hai bàn tay nắm, giơ thẳng lên đầu

Ngồi: Hai bàn tay nắm, hai cánh tay vuông góc, bàn tay giơ ngang mặt

Nằm: Hai bàn tay nắm, duỗi tay thẳng phía trước

Ngủ: Hai bàn tay nắm, áp vào má và hô: Khò

Cách chơi:

Giáo viên hô những tư thế, động tác theo quy định trên.

Giáo viên có thể hô đúng hoặc hô đúng làm sai

Học sinh phải làm đúng theo lời hô và các động tác đã quy định

Trò chơi: Đứng, ngồi, nằm, ngủ

Trò chơi: Bàn tay diệu kì

Yêu cầu: Học sinh đứng tại chỗ trong lớp

Nguồn: Internet

Trò chơi: Bàn tay diệu kì

Trò chơi: Chim bay, cò bay

Mục đích: Rèn luyện trí nhớ, phản xạ tốt, khéo léo, là hình thức tập thể dục nhẹ nhàng, vận động cánh ta, cổ tay đỡ mỏi.

Số lượng: Toàn bộ học sinh trong lớp

Địa điểm: Đứng tại chỗ trong phòng học

Đăng bởi: Nguyễn Khánh Huyền

Từ khoá: 12 Trò chơi chuyển tiết, giữa tiết và trong giờ học cho học sinh tiểu học hay và thú vị nhất

Đề Cương Ôn Thi Học Kì 1 Môn Sinh Học Lớp 7 Năm 2023 – 2023 Ôn Tập Học Kì 1 Sinh Học 7

Câu 1: Dinh dưỡng của trùng sốt rét và trùng kiết lị giống và khác nhau như thế nào?

– Giống: cùng ăn hồng cầu.

– Khác:

+Trùng kiết lị lớn,”nuốt” nhiều hồng cầu một lúc và tiêu hóa chúng, rồi sinh sản nhân đôi liên tiếp.

+ Trùng sốt rét nhỏ hơn, nên chui vào hồng cầu ký sinh, ăn hết chất nguyên sinh trong hồng cầu, sinh sản cho nhiều trùng mới cùng một lúc, rồi phá vỡ hồng cầu ra ngoài. Sau đó mỗi trùng chui vào 1 hồng cầu khác cứ thế tiếp diễn.

Câu 2: Bệnh sốt rét hay xảy ở khu vực nào của nước ta? Vì sao?

– Bệnh sốt rét hay xảy ở miền núi và ven biển, đầm lầy, nước đọng.

-Vì nơi đó có nhiều vùng lầy, cây cối rậm rạp nên có nhiều muỗi Anôphen mang mầm bệnh trùng sốt rét.

Câu 3: Em hãy cho biết con đường truyền dịch bệnh và biện pháp phòng chống?

– Con đường truyền dịch bệnh là: qua muỗi Anophen đốt

– Biện pháp phòng chống:

+ Tiêu diệt muỗi, tẩm hóa chất cho màn hoặc phun thuốc diệt muỗi.

+ Phát quang bụi rậm

+ Không để ao tù, nước đọng, khai thông cống rãnh để tiêu diệt ấu trùng muỗi.

+ Khi ngủ phải nằm trong màn.

+ Uống thuốc phòng bệnh.

Câu 4 : Nêu vòng đời của giun đũa?

– Trứng giun theo phân ra ngoài gặp ẩm và thoáng khí, phát triển thành dạng ấu trùng trong trứng

– Người ăn phải trứng giun đưa trứng giun đến ruột non.

– Ấu trùng chui ra, vào máu, đi qua tim, gan, phổi.

– Ấu trùng về lại ruột non lần thứ hai và kí sinh tại đó.

Câu 5: Nêu cấu tạo trong của giun đũa?

– Thành cơ thể có lớp biểu bì và lớp cơ dọc phát triển.

– Chưa có khoang cơ thể chính thức.

– Trong khoang có: ống tiêu hóa thẳng; có lỗ hậu môn, các tuyến sinh dục dài cuộn khúc.

Câu 6: Từ kiến thức đã học về giun đũa, em hãy nêu tác hại và đề ra cho bản thân các biện pháp phòng trừ bệnh giun đũa kí sinh (giun sán kí sinh, kí sinh trùng) ?

*Tác hại của giun sán kí sinh:

– Giun kí sinh lấy các chất dinh dưỡng làm cơ thể suy nhược, xanh xao

– Giun kim xuống hậu môn đẻ trứng gây khó chịu, phền toái

– Giun chui ống mật gây tắc ruột, tắc ống mật

– Gây ra độc tố với cơ thể …….

*Biện pháp phòng tránh :

– Giữ vệ sinh ăn uống: Ăn chín uống sôi, không ăn thức ăn ôi thiu, không ăn thịt lợn, thịt bò tái, sống để tránh ăn phải thịt lợn gạo, thịt bò gạo, …

– Giữ vệ sinh cá nhân và gia đình được sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp.

– Giữ vệ sinh môi trường : rửa tay trước khi ăn, không dùng phân tươi để tưới rau, bón phân cho cây trồng nên ủ để cho hoai mục, trồng rau an toàn, thân thiện môi trường ….

– Vệ sinh cộng đồng: sạch rác, dọn quang ngõ xóm, ao tù, xử lí, phân loại rác thải …

– Tiêu diệt vật chủ trung gian truyền bệnh: ốc, ruồi nhặng, ..

– Tẩy giun 1-2 lần trong 1 năm

– Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về việc giữ gìn vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh tật. Xử lí thực phẩm bẩn, ….

Câu 7: Hãy giải thích vì sao số lượng trứng trong mỗi lứa đẻ của cá chép lên đến hàng vạn?

– Vì cá chép thụ tinh ngoài nên khả năng trứng gặp tinh trùng thấp(nhiều trứng không được thụ tinh) nên số lượng trứng cá trong mỗi lứa đẻ là rất lớn.

Câu 8: Giun đốt có vai trò gì đối với tự nhiên và với đời sống con người?

Giun đốt có vai trò lớn đối với hệ sinh thái và đời sống con người như:

Lợi ích:

+ Làm màu mỡ đất trồng (giun đất)

+ Làm đất tơi xốp, thoáng khí (giun đất)

+ Làm thức ăn cho ĐV (giun đỏ..)

+ Làm thức ăn cho con người (rươi),…

Tác hại:

+ Một số loài hút máu động vật và con người: (đỉa, vắt..)

+ Gây bệnh (đỉa, …)

Câu 9: Vỏ trai có mấy lớp? Tại sao trai chết thì vỏ thường mở? Lớp nào của vỏ sinh ra ngọc trai? Tại sao một số ao không thả trai song vẫn có trai?

– Phải luồn lưỡi dao qua khe hở cắt được cơ khép vỏ trước và sau

– Trai chết tế bào của cơ khép vỏ, dây chằng của bản lề vỏ cũng chết

– Lớp xà cừ sinh ra ngọc trai

– Do ấu trùng trai bám trên da cá

*Giải thích hiện tượng ao đào thả cá, trai không được thả vào nuôi mà vẫn có làvì:

+ Ấu trùng của trai bám vào mang và da cá để sống một thời gian.

+ Khi thả cá vào ao nuôi, ấu trùng trai theo cá vào ao sau vài tuần sẽ rơi xuống bùn và phát triển thành trai trưởng thành

Câu 11: Sau khi học xong ngành thân mềm rất nhiều bạn học sinh thắc mắc: Vì sao “Mực bơi nhanh lại xếp cùng ngành với Ốc sên bơi chậm chạp”. Em hãy vận dụng kiến thức về ngành thân mềm mà em đó được biết giải thích cho các bạn học sinh rõ.

*Mực bơi nhanh xếp cùng ngành với ốc sên bò chậm chạp vì: Mực và ốc sên đều có đặc điểm chung của ngành thân mềm như:

– Thân mềm.

– Cơ thể không phân đốt, có vỏ đá vôi.

– Có khoang áo phát triển.

– Hệ tiêu hóa phân hóa

Câu 12: Nêu vai trò của ngành chân khớp?

* Lợi ích: – Cung cấp thực phẩm cho con người

– Là thức ăn của động vật khác

– Làm thuốc chữa bệnh

– Thụ phấn cho cây trồng

– Làm sạch môi trường

* Tác hại: – Làm hại cây trồng

– Làm hại đồ gỗ, tàu thuyền

– Là vật trung gian truyền bệnh nguy hiểm

Câu 13: Các động vật thân mềm và ruột khoang có vai trò gì với sinh cảnh biển và con người? – Chúng ăn phù du trôi nổi, chất hữu cơ làm sạch môi trường nước.

– Tạo nên hệ sinh thái quan trọng của biển cả thăm quan, du lịch.

– Làm đồ trang sức đẹp, có giá trị, cảm hứng sáng tác nghệ thuật.

– Làm thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, xuất khẩu có giá trị.

– Dùng làm thuốc phòng, chữa bệnh cho người.

– Thức ăn, nơi ở cho động vật khác trong hệ sinh thái.

Câu 14: Em có cách nào để bảo vệ và giữ gìn cảnh quan biển đảo chúng ta hiện nay?

– Không xả rác bừa bãi làm ảnh hưởng môi trường biển

– Không săn bắt bừa bãi, phá hoại động vật biển, đảo.

– Tuyên truyền, phổ biến, vận động, ngăn chặn hành vi vi phạm

– Học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu phát triển, bảo vệ biển.

– Bảo vệ và giữ gìn, thành lập các khu bảo tồn tài nguyên biển.

– Cùng nhau giữ gìn vệ sinh, chung tay dọn rác bãi biển, …

……………….

Hãy khoanh tròn vào câu trả lời đúng nhất trong các câu sau:

I. Thế giới động vật:

Câu 1. Đặc điểm nào có ở động vật:

A. Không di chuyển

B. Sử dụng chất hữu cơ có sẵn

C. Không có hệ thần kinh

D. Có thành xenlulôzơ

Câu 2. Động vật có các đặc điểm:

A. Dị dưỡng, di chuyển, tự tổng hợp chất hữu cơ.

B. Tự dưỡng, di chuyển,lớn lên, sinh sản .

C. Di chuyển,có hệ thần kinh và các giác quan, dị dưỡng và tự dưỡng.

D. Có hệ thần kinh và các giác quan, di chuyển,dị dưỡng.

II. Ngành Động vật nguyên sinh:

Câu 1. Bệnh do một loại trùng roi sống kí sinh trong máu gây ra, làm bệnh nhân rơi vào giấc ngủ li bì và có tỷ lệ tử vong rất cao. Hãy cho biết bệnh lan truyền qua loài nào sau đây?

A. Muỗi vằn

B. Ruồi

C. Bướm

D. Ong

Câu 2. Trùng sốt rét kí sinh trong:

A. Tiểu cầu

B. Bạch cầu

C. Hồng cầu

D. Thành ruột

Câu 3. Động vật cho biết mối quan hệ về nguồn gốc giữa động vật đơn bào và động vật đa bào là:

A. Trùng roi xanh

B. Trùng biến hình

C. Trùng

D. Tập đoàn Vôn vốc

Câu 4: Trùng roi có màu xanh lá cây nhờ:

A . Sắc tố ở màng cơ thể

B. Màu sắc của chất diệp lục

C . Màu sắc của điểm mắt

D . Màu sắc của nhân

Câu 5. Trùng sốt rét vào cơ thể người bằng cách nào ?

A. Qua ăn uống

B. Qua máu

C. Qua da

D. Qua hô hấp

Câu 6. Trùng roi xanh giống tế bào thực vật ở điểm nào ?

A. Có thành xenlulôzơ

B. Có roi

C. Có diệp lục

D. Có điểm mắt

Câu 7. Trùng roi, trùng giày và trùng biến hình có điểm giống nhau là:

A. Chưa có cấu tạo tế bào.

B. Chưa có nhân điển hình

C. Cùng có cơ thể là 1 tế bào

D. Hấp thụ chất dinh dưỡng qua bề mặt tế bào

Câu 8. Động vật nguyên sinh nào có tổ chức cơ thể cao nhất?

A. Trùng biến hình

B. Trùng roi xanh

C. Trùng giày

D. Trùng sốt rét

Câu 9. Ngoài ánh sáng trùng roi dinh dưỡng theo lối:

A. Tự dưỡng

C. Dị dưỡng

B. Vừa tự dưỡng vừa dị dưỡng

D. Không dinh dưỡng

Câu 10. Động vật nguyên sinh có những đặc điểm:

A. Cơ thể đa bào, dị dưỡng, s/s phân đôi .

B. Cơ thể đơn bào,tự dưỡng.

C. Cơ thể đơn bào, dị dưỡng, s/s phân đôi.

D. Cơ thể phân đôi,tự dưỡng.

Câu 11. Trùng kiết kị giống và khác trùng biến hình ở các điểm:

A. Di chuyển, có chân giả. Sống tự do ăn hồng cầu.

B. Chân giả dài,có bào xác. Sống kí sinh, không có hại.

C. Có chân giả, có bào xác. Chân giả ngắn,chỉ ăn hồng cầu.

D. Có bào xác, sống tự do. Không di chuyển, có hại .

Câu 12: Động vật ký sinh ở người và truyền bệnh qua đường tiêu hóa là?

A. Trùng kiết lị

C. Trùng sốt rét

B. Trùng biến hình

D. Trùng roi cộng sinh

Câu 13: Động vật ký sinh ở người và truyền bệnh qua đường máu là?

A. Trùng kiết lị

C. Trùng sốt rét

B. Trùng biến hình

Advertisement

D. Trùng roi cộng sinh

Câu 14: Trùng kiết lị vào cơ thể người bằng con đường nào ?

A. Ăn uống .

B. Hô hấp .

C. Máu

D. Tiêu hóa, hô hấp

Câu 15. Trùng biến hình di chuyển là nhờ:

A. roi

B. lông bơi

C. chân giả

D. cơ vòng, cơ dọc

Câu 16. Trùng sốt rét kí sinh trong cơ thể người ở :

A. Máu

B. Tuỵ

C. Thành ruột

D. Nước bọt

Câu 17. Các động vật nguyên sinh sống kí sinh là :

A. Trùng giày, trùng kiết lị.

C. Trùng sốt rét, trùng kiết lị.

B. Trùng biến hình, trùng sốt rét.

D. Trùng roi xanh, trung giày.

Câu 18. Động vật nguyên sinh nào có khả năng sống tự dưỡng và dị dưỡng?

A. Trùng giày

B. Trùng biến hình.

C. Trùng sốt rét.

D. Trùng roi xanh.

Câu 19. Trùng roi xanh có màu xanh lá cây nhờ:

A. Sắc tố ở màng cơ thể

B. Màu sắc của điểm mắt

C. Màu sắc của hạt diệp lục

D. Màu sắc của hạt diệp lục và sự trong suốt của màng cơ thể.

Câu 20. Nơi kí sinh của trùng kiết lị là:

A. Gan người

B. Tim người.

C. Phổi người

D. Ruột người

Câu 21. Trùng sốt rét vào cơ thể người bằng cách nào?

A. Qua ăn uống

B. Qua máu

C. Qua da

D. Qua hô hấp

Câu 22. Bệnh do một loại trùng roi sống kí sinh trong máu gây ra, làm bệnh nhân rơi vào giấc ngủ li bì và có tỷ lệ tử vong rất cao. Hãy cho biết bệnh lan truyền qua loài nào sau đây?

A. Muỗi vằn

B. Ruồi

C. Bướm

D. Ong

III. Ngành ruột khoang:

Câu 1. Hải quỳ cộng sinh với loài nào sau đây để có thể di chuyển được:

A. Cua

B. Tôm ở nhờ

C. Sứa

D. Ốc

Câu 2. Sứa, hải quỳ, san hô, thủy tức có đặc điểm gì giống nhau:

A. Sống bám

B. Sống bơi lội

C. Ruột dạng túi

D. Ruột phân nhánh

Câu 3. Cơ thể đối xứng toả tròn, ruột dạng túi, thành cơ thể gồm hai lớp tế bào là đặc điểm của ngành ĐV nào?

A. Ruột khoang.

B. Giun dẹp

C. Giun đốt

D. Động vật nguyên sinh

Câu 4. Thành cơ thể thủy tức gồm mấy lớp tế bào?

A. 1 lớp .

B. 4 lớp.

C. 3 lớp .

D. 2 lớp.

Câu 5. Tế bào gai của thủy tức có vai trò gì ?

A. Tiêu hóa

B. Tự vệ , tấn công và bắt mồi

C. Là cơ quan sinh sản

D. Giúp thủy tức di chuyển

Câu 6. Cấu tạo cơ thể hải quỳ có:

A. Hai lớp tế bào

B.Nhiều lớp tế bào

C. Có vỏ đá vôi

D. Một lớp tế bào

Câu 7. Ruột khoang bao gồm các động vật:

A. Thuỷ tức, sứa, san hô, hải quỳ

B. Hải quỳ, sứa, mực

C. Thuỷ tức, san hô, sun

D. San hô, cá, mực, hải quỳ

Câu 8 Các động vật thuộc ngành Ruột khoang có đặc điểm đặc trưng:

A. Ruột dạng thẳng

B. Ruột dạng túi

C. Ruột phân nhánh

D. Chưa có ruột

…………

Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ

Tổng hợp 10 biện pháp tu từ đã học trong chương trình Ngữ văn, khái niệm, tác dụng và ví dụ các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói giảm. nói tránh… mà các em cần ghi nhớ

Biện pháp tu từ là gì?

Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.

Mục đích của biện pháp tu từ là gì?

– Tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm hơn so với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường.

Các biện pháp tu từ đã học là:

So sánh

Nhân hóa

Ẩn dụ

Hoán dụ

Nói quá, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu

Nói giảm, nói tránh

Điệp từ, điệp ngữ

Chơi chữ

Liệt kê

Tương phản

Chi tiết khái niệm, tác dụng của các Biện pháp tu từ đã học 1/

Biện pháp tu từ so sánh

a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:

– A là B:

“Người ta là hoa đất”(tục ngữ)

“Quê hương là chùm khế ngọt”

(Quê hương  – Đỗ Trung Quân)

– A như B:

“Nước biếc trông như làn khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

(Thu vịnh – Nguyễn Khuyến)

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

(Tiếng hát con tàu  – Chế Lan Viên)

– Bao nhiêu…. bấy nhiêu….

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

(Ca dao)

 Trong đó:

+ A – sự vật, sự việc được so sánh

+ B – sự vật, sự việc dùng để so sánh

+ “Là” “Như” “Bao nhiêu…bấy nhiêu” là từ ngữ so sánh, cũng có khi bị ẩn đi.

c/ Các kiểu so sánh:

–   Phân loại theo mức độ:

+ So sáng ngang bằng:

“Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

(Sáng tháng Năm – Tố Hữu)

+ So sánh không ngang bằng:

“Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”

(Bầm ơi – Tố Hữu)

– Phân loại theo đối tượng:

+ So sánh các đối tượng cùng loại:

Ví dụ:

“Cô giáo em hiền như cô Tấm”

+ So sánh khác loại:

Ví dụ:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm!”

(Núi đôi – Vũ Cao)

+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

Ví dụ:

“Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”

(Nguyễn Văn Trỗi – Lê Anh Xuân)

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

(Ca dao)

2/

Biện pháp tu từ nhân hóa

a/ Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

Ôn lại kiến thức và làm bài tập vận dụng: Soạn bài Nhân hóa

b/ Các kiểu nhân hóa:

– Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…

– Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

Ví dụ:

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

“Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

– Trò chuyện với vật như với người:

“Trâu ơi ta bảo trâu này…”

(Ca dao)

3/

Biện pháp tu từ ẩn dụ

a/ Khái niệm: Ẩn dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học lý thuyết đã học: Soạn bài Ẩn dụ

b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

+ Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

Ví dụ:

“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Hình ảnh ẩn dụ: hoa lựu màu đỏ như lửa.

+ Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

Ví dụ:

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

(Ca dao)

“Về thăm quê Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

(Nguyễn Đức Mậu)

+ Ẩn dụ phẩm chất –  tương đồng về phẩm chất

Ví dụ:

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

(Ca dao)

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

Ví dụ:

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

(Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa)

“Cha lại dắt con đi trên cát mịn

Ánh nắng chảy đầy vai”

(Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)

“Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng”

(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

“Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”

(Từ đêm Mười chín – Khương Hữu Dụng)

c/ Lưu ý:

–  Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng:

+ Ẩn dụ tu từ: có tính lâm thời, tính cá thể, phải đặt trong từng văn cảnh cụ thể để khám phá ý nghĩa.

Ví dụ:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

(Thương vợ – Tú Xương)

+ Ẩn dụ từ vựng: cách nói quen thuộc, phổ biến, không có/ ít có giá trị tu từ: cổ chai, mũi đất, tay ghế, tay bí, tay bầu,…

4/

Biện pháp tu từ hoán dụ

a/ Khái niệm: Hoán dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học đã học: Soạn bài Hoán dụ

b/ Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

Ví dụ:

“Đầu xanh có tội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

(Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông)

+ Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

Ví dụ:

“Vì sao trái đất nặng ân tình,

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh”

(Tố Hữu)

+ Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

Ví dụ:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

Ví dụ:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Lưu ý:

Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

–  Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau)

–  Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

5)

Biện pháp tu từ nói quá

, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu

– Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

Ví dụ:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

(Bình NGô đại cáo – Nguyễn Trãi)

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

(Việt Bắc  – Tố Hữu)

6)

Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh

– Khái niệm: Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

Cùng ôn lại kiến thức: Soạn bài nói giảm nói tránh

Ví dụ 1:

“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”

(Bác ơi – Tố Hữu)

Ví dụ 2:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”

(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)

7)

Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

Ví dụ:

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

– Điệp ngữ có nhiều dạng:

+ Điệp ngữ cách quãng:

Ví dụ:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Điệp nối tiếp:

Ví dụ:

“Mai sau

Mai sau

Mai sau

Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

+ Điệp vòng tròn:

Ví dụ:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

8)

Biện pháp tu từ chơi chữ

– Khái niệm: Chơi chữ là biện pháp tu từ lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Bài soạn đã học trước đó: Soạn bài Chơi chữ

– Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thường trong văn thơ, đặc biệt là trong văn thơ trào phúng, trong câu đối, câu đố,….

– Các lối chơi chữ thường gặp:

+ Dùng từ ngữ đồng âm

Ví dụ:

“Bà già đi chợ cầu đông

Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

+ Dùng lối nói trại âm (gần âm)

Ví dụ:

Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp (Danh tướng)

Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.

(Tú Mỡ)

+ Dùng lối nói lái

Ví dụ:

Khi đi cưa ngọn, khi về con ngựa ( Cưa ngọn – Con ngựa)

+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa

Ví dụ:

Đi tu Phật bắt ăn chay

Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

+ Dùng cách điệp âm

Ví dụ:

“Mênh mông muôn mẫu một màu mưa

Mỏi mắt miên mang mãi mịt mờ

Mộng mị mỏi mòn mai một một

Mĩ miều mai mắn mây mà mơ”

(Tú Mỡ)

9/ Biện pháp tu từ liệt kê

– Khái niệm: Liệt kê là biện pháp tu từ sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm.

Bài soạn đã học: Soạn bài Liệt kê

Ví dụ:

“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung 

Không giết được em, người con gái anh hùng!”

(Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý)

10/

Biện pháp tu từ Tương phản

– Khái niệm: Tương phản là biện pháp tu từ sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

Ví dụ:

“O du kích nhỏ giương cao sung

Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế, to gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu”

(Tố Hữu)

Mẫu Kế Hoạch Tổ Chuyên Môn Giáo Viên Tiểu Học Năm 2023 – 2023 Sinh Hoạt Tổ Chuyên Môn Theo Nghiên Cứu Bài Học

Kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học cấp Tiểu học năm 2023 – 2023 là tài liệu hữu ích, giúp giáo viên nhanh chóng xây dựng được mẫu kế hoạch sinh hoạt cho tổ của mình.

Thông qua mẫu kế hoạch sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học giúp giáo viên hiểu được mục đích ý nghĩa, quy trình cách thức thực hiện của sinh hoạt chuyên môn mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Giáo viên không ngại dạy minh họa, không ngại phát biểu, mong muốn cải tiến cách tổ chức các hoạt động để đồng nghiệp chia sẻ ý kiến.

Số: …../KHTCM

…….., ngày …… tháng…..năm 20….

Thực hiện Công văn………………………… của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện ……….. về việc Hướng dẫn các trường tiểu học xây dựng kế hoạch dạy học các môn học theo Công văn……….., thực hiện theo chỉ đạo của Ban Giám hiệu Trường Tiểu học…….., Tổ 4+5 xây dựng kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học năm học 20.. – 20.. như sau:

A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

I. Tình hình đội ngũ và số lượng học sinh:

1. Tình hình đội ngũ GV:

Tổng số giáo viên trong tổ: ….. – Nữ:…….

Trong đó:

– GV trực tiếp chủ nhiệm: ………………..

– GV Tin, Thể dục: ………………………….

– Ban giám hiệu:……………………………..

Tỉ lệ GV đạt trên chuẩn: ……………………

Trong đó:

– Số GV có trình độ trên chuẩn (CĐSP): ….. Tỉ lệ:…..%;

(ĐHSP): ……. Tỉ lệ: ……%;

– Đảng viên Đảng CSVN: …… Tỉ lệ: …..%

2. Số lượng học sinh:

* Khối 4: ……. nữ chia thành ….. lớp. Trong đó: HSKT:……

* Khối 5: …… nữ chia thành ….. lớp.

II. Những thuận lợi và khó khăn:

1.Thuận lợi:

– Hoạt động của Tổ được sự quan tâm, giúp đỡ tạo mọi điều kiện của BGH. Giáo viên đều được tham gia các lớp tập huấn do trường và ngành tổ chức;

– Đội ngũ giáo viên trong tổ đoàn kết, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.

2. Khó khăn:

– Nề nếp sinh hoạt chuyên theo cách truyền thống một thời gian dài nên việc thay đổi cách SHCM theo NCBH cần phải có thời gian.

– GV được phân công dạy minh hoạ do chưa quen và chưa thực sự nắm rõ ý nghĩa của SHCM theo NCBH, chưa tự tin nên GV muốn dạy trước bài học, chuẩn bị sẵn câu trả lời cho HS từ đó việc tổ chức SHCM theo NCBH có thể mang tính “trình diễn” không đạt mục tiêu như mong muốn.

– Một số giáo viên dự giờ nhận thức chưa sâu sắc về SHCM theo NCBH nên việc góp ý kiến xây dựng kế hoạch bài học, cũng như góp ý xây dựng sau tiết học minh hoạ chưa tích cực.

– Số lượng giáo viên ở tổ không nhiều nhưng phụ trách chuyên môn ở nhiều lớp, nhiều môn học khác nhau nên việc nghiên cứu không tập trung được nhiều ý kiến chuyên sâu.

– Phòng học không đủ rộng để bố trí cho GV dự ngồi 2 bên lớp học hoặc phía trước học sinh.

B. MỤC TIÊU:

– Nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.

– Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường. Tạo môi trường làm việc, dạy học, học tập dân chủ, thân thiện cho tất cả mọi người.

C. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH VÀ HỒ SƠ:

I. Thời gian, môn học và số bài học thực hiện:

– Đầu năm học, họp tổ chuyên môn dự kiến chọn môn học cần nghiên cứu, chọn thời gian, phân công giáo viên phụ trách chính như sau:

STT Thời gian Nội dung sinh hoạt Người thực hiện Nội dung

1

Tháng 9,1

Vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học, đánh giá thường xuyên học sinh tiểu học theo Thông tư 22

Hoạt động trải nghiệm – Đạo đức 5

…………….

– Tổ chức tiết dạy minh họa

– Thảo luận, góp ý

– Vận dụng thực tiễn

– Sơ kết, rút kinh nghiệm

2

Tháng 10,2

Vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học, đánh giá thường xuyên học sinh tiểu học theo Thông tư 22.

Tập làm văn-Tập đọc 4

…………….

– Tổ chức tiết dạy minh họa

– Thảo luận, góp ý

– Vận dụng thực tiễn

– Sơ kết, rút kinh nghiệm

3

Tháng 11,3

Vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học, đánh giá thường xuyên học sinh tiểu học theo Thông tư 22

Địa lí-Lịch sử 5

…………….

– Tổ chức tiết dạy minh họa

– Thảo luận, góp ý

– Vận dụng thực tiễn

– Sơ kết, rút kinh nghiệm

2

Tháng 12,4

Vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học, đánh giá thường xuyên học sinh tiểu học theo Thông tư 22.

Toán – Khoa học 4

…………….

– Tổ chức tiết dạy minh họa

– Thảo luận, góp ý

– Vận dụng thực tiễn

– Sơ kết, rút kinh nghiệm

– Tổ chức các hoạt động để triển khai kế hoạch từng bài học như sau :

+ Phiên họp lần 1 của tháng thực hiện bước 1: Xây dựng bài học minh họa.

+ Phiên họp lần 2 của tháng thực hiện bước 2, bước 3: Tổ chức dạy học minh họa và dự giờ; Phân tích bài học.

+ GV vận dụng kết quả sinh hoạt chuyên môn vào bài học hàng ngày (Bước 4).

II. Cách thức tiến hành SHCM theo NCBH:

Bước 1. Xây dựng bài học minh họa

+ Xác định mục tiêu: kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩm chất nào cần đạt?

+ Sử dụng phương tiện dạy học thế nào thích hợp nhất ?

+ Cách giới thiệu bài học như thế nào tạo hứng thú cho HS?

+ Nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào?

+ Dự kiến tổ chức hình thức hoạt động dạy học , phương pháp nào nào đạt hiệu quả ?

+ Dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp ?

+ Đánh giá học sinh bằng hình thức nào ?

+ Dự kiến cách suy nghĩ, khả năng tiếp nhận của HS vào bài học, các tình huống dạy học xảy ra, dự kiến cách kết thúc bài học, vv…

Lưu ý: không tổ chức dạy trước bài minh họa.

Bước 2. Tổ chức dạy học minh họa và dự giờ

– Trên cơ sở bài học minh họa đã được xây dựng, giáo viên thực hiện dạy học để tổ chuyên môn dự giờ, phân tích bài học. Khi dự giờ, cần tập trung quan sát hoạt động học của học sinh kết hợp với việc quan sát hoạt động tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.

– GV dạy minh hoạ có thể chủ động, linh hoạt điều chỉnh nội dung, thời lượng, đồ dùng dạy học, phương pháp và kỹ thuật dạy học, đánh giá quá trình học tập của học sinh,… cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện dạy học, phù hợp với việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

– Người dự giờ luôn phải đặt câu hỏi cho mình:

+ Học sinh học được gì?

+ Học sinh có hứng thú không? Vì sao có? Vì sao không?

+ Học sinh có biểu hiện như thế nào?

+ Hoạt động nhóm có thực sự đảm bảo cơ hội cho học sinh tham gia?

+ Có học sinh nào bị bỏ quên không?

+ Kết quả cuối cùng có được cải thiện hay không?

+ Nếu cần điều chỉnh thì điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào?vv…

Bước 3. Phân tích bài học

– Tạo điều kiện cho GV dạy minh họa chia sẻ cảm nhận, bày tỏ những điều tâm đắc, hoặc những điều chưa hài lòng về tiết dạy.

– Người dự sau khi quan sát việc học của HS, đưa ra minh chứng về những gì họ nhìn thấy được về cách học, suy nghĩ, giải quyết vấn đề của HS trên lớp học, để rút kinh nghiệm, bổ sung, đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả.

+ Học sinh có hiểu rõ nhiệm vụ, chủ động trong các hoạt động học tập hay không?

Advertisement

+ Học sinh có tự tin, tích cực tương tác, hỗ trợ nhau trong quá trình học tập?

+ Học sinh được tiếp cận các câu hỏi/bài tập có tính phân hóa, kích thích tư duy, tích cực hóa hoạt động học tập hay không?

+ Học sinh có tham gia nhận xét đánh giá lẫn nhau trong giờ học về những sai sót về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi?

+ Học sinh có hiểu về kiến thức, có kỹ năng và có thái độ tích cực sau bài học/ giờ học hay không?

+ Học sinh có vận dụng được kiến thức, kĩ năng vào tình huống cụ thể, biết liên hệ kiến thức đã học vào thực tế?

Bước 4. Vận dụng kết quả sinh hoạt chuyên môn vào bài học hàng ngày

Dựa trên kết quả phân tích bài học và những điều đã quan sát, học tập được qua dự giờ, giáo viên chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch bài học (giáo án/bài soạn) và tổ chức dạy học phù hợp.

III. Hồ sơ SHCM theo NCBH:

1. Kế hoạch Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học của năm học 20…. – 20……

3. Giáo án thiết kế tiết dạy minh họa.

D. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Trong quá trình thực hiện, có gì khó khăn vướng mắc, đề nghị giáo viên báo cáo để tổ chuyên môn kịp thời hỗ trợ, giải quyết./.

Hiệu trưởng

………………………..

Tổ trưởng chuyên môn

………………………..

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Biện Pháp Xây Dựng Lớp Học Thân Thiện Học Sinh Tích Cực 2 Mẫu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Công Tác Chủ Nhiệm

I. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Lý do chọn đề tài

Năm 20… – 20… ngành giáo dục phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đây là bước tiến vượt bậc của ngành, tạo cho giáo viên làm việc trong bầu không khí tích cực. Phong trào này giúp cho việc giáo dục học sinh chủ động thân thiện hơn, tích cực hoạt động trong học tập, bước đầu rèn luyện kĩ năng sống cho các em như: Học để biết. Học để làm. Học để tự khẳng định mình. Học để cùng chung sống. Phong trào đã được bộ, sở, trường học, tổ chuyên môn triển khai sâu rộng. Toàn ngành đã ra sức thực hiện phong trào thi đua, đến nay đã thu được những thành tích đáng kể, đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, thi đua dạy tốt, học tốt, đào tạo nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ để xây dựng đất nước. Trường học hiện nay không những cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học một cách có hệ thống, mà còn rèn cho các em những kĩ xảo, kĩ năng sống cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp.

Năm học 20…-20… ngành vẫn tiếp tục chỉ đạo các trường đẩy mạnh thực hiện phong trào này với những yêu cầu cao hơn, thiết thực hơn, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. Để phong trào thi đua “Xây dựng được trường học thân thiện, học sinh tích cực” thực sự có bề rộng và chiều sâu, đem lại hiệu quả cao, thiết thực trong hoạt động dạy và học, giúp các em hứng thú, chủ động, sáng tạo, có các mối quan hệ thật sự thân thiện, tôi luôn băn khoăn, trăn trở với bao câu hỏi tự đặt ra cho bản thân: “Làm thế nào để HS đi chuyên cần?”; “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?”; “Làm sao các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “Làm sao giáo viên nói ít mà học sinh hiểu nhiều hơn ?” Là một giáo viên chủ nhiệm tôi thấy rằng muốn xây dựng được trường học thân thiện, học sinh tích cực thì phải bắt đầu từ việc xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực. Vì mỗi lớp học thân thiện, học sinh tích cực là một viên gạch nền móng vững chắc cho một ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực hoàn thiện và nhanh nhất. Chính những lí do trên đã thúc đẩy tôi nghiên cứu, trải nghiệm đồng thời tích lũy những kinh nghiệm để thực hiện tốt phong trào “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực”. Góp phần vào việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển một cách toàn diện đáp ứng thời kì mở cửa, hội nhập và phát triển của đất nước.

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Thực tế cho thấy ngành giáo dục đã từng bước chuyển mình, có những thay đổi đáng kể để phù hợp với thời kì đổi mới. Nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, cách đánh giá cũng được đổi mới, trường học ngày một khang trang nhưng chất lượng giảng dạy vẫn còn hạn chế. Vẫn còn học sinh đi học chưa chuyên cần, vẫn còn nhiều học sinh chưa chủ động, tích cực, tự giác học tập, không khí lớp học không phải lúc nào cũng thoải mái… Vậy “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?” “Làm sao để các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “Làm sao giáo viên nói ít mà học sinh hiểu nhiều hơn ?” “Làm sao để các em lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, chủ động? ” Làm sao để huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, khắc phục được tính thụ động của học sinh. Đó là một vấn đề rất nan giải, không phải giáo viên nào cũng làm được hay làm được ở tất cả các tiết học.

Cha mẹ học sinh cũng chưa nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc học của con cái. Sự thân thiện giữa giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh có phần hạn chế.

Hiện nay nền giáo dục nước nhà đang chú trọng vào giáo dục con người phát triển toàn diện. Để góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của ngành, nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ta cần phải có bước đột phá trong cách nghĩ cũng như cách làm. Tiếp tục đẩy mạnh việc trang trí lớp, tạo môi trường học tập thân thiện. Đẩy mạnh cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nắm được dấu hiệu đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Xác định được các hoạt động mà giáo viên và học sinh có thể tiến hành trong dạy – học. Tạo ra được môi trường học tập thân thiện trong giảng dạy và giáo dục để cuốn hút học sinh tích cực, chủ động tham gia vào học tập, rèn luyện. Tạo được cơ hội cho học sinh tự khám phá, tìm tòi. Để làm tốt được việc đó thì giáo viên phải tự học, tự rèn để có một số kỹ năng cơ bản, cần thiết và vận dụng linh hoạt vào quá trình dạy học. Người dạy cần thực hiện đúng vai trò của mình chỉ là người cố vấn, tổ chức hoạt động, giúp đỡ và hỗ trợ các em học tập. Học sinh phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập. Tuyên truyền, động viên, khuyến khích được cha mẹ học sinh, các lực lượng khác cùng chung tay góp sức để giúp đỡ các em trong quá trình học tập và rèn luyện.

I.3. Đối tượng nghiên cứu

Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh khối lớp 5 và khối 2 trường TH ………..

I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh khối lớp 5 và khối 2 năm học 20…-20… và 20…-20… của trường TH ………..

I.5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :

– Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu như công văn chỉ

– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.

– Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp.

– Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế.

– Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng bám sát vào 5 nội dung của phong trào từ đó đánh giá học sinh không chỉ về kiến thức mà cả các kĩ năng.

– Đúc rút kinh nghiệm.

II. NỘI DUNG

II.1. Cơ sở lí luận

Như mỗi chúng ta đã biết, một môi trường giáo dục tốt sẽ là nơi học sinh phát triển nhân cách tốt. Các em thấy được mỗi ngày đến trường là một ngày vui, từ đó thêm yêu trường, yêu lớp, gắn bó với “Ngôi nhà thứ hai” của mình. Trang trí lớp học thân thiện là một sự sáng tạo nhưng phải phù hợp với đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học. Giúp học sinh cảm nhận được cái đẹp và có ý thức giữ gìn trường lớp của mình sạch sẽ. Lớp học thân thiện phải là một lớp học không những trang trí đẹp mà phải có ý nghĩa và mang tính giáo dục cao. Ngoài những qui định về trang trí của ngành, giáo viên chủ nhiệm có thể sáng tạo thêm sao cho hài hòa, đẹp. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng là một việc làm hết sức quan trọng. Việc làm này phải thực hiện thường xuyên, liên tục nhưng lại không có một tiết học riêng biệt mà cần phải có sự linh hoạt trong việc tích hợp hài hòa của giáo viên trong các môn học, tiết học. Giáo dục các em những kĩ năng sống cơ bản như biết quan tâm, chia sẻ , động viên, thăm hỏi lẫn nhau…Hình thành cho các em luôn có thái độ thân thiện trong giao tiếp với mọi người. Đối với mỗi giáo viên, để thực hiện tốt nhiệm vụ trồng người, mỗi chúng ta cần tích cực học tập, rèn luyện, không ngừng phấn đấu vươn lên để có cả đức và tài, thực sự là tấm gương sáng cho các em noi theo. Vì ở lứa tuổi học sinh tiểu học khác với những lứa tuổi khác. Giáo viên tiểu học tạo nền móng cho các em vươn lên. Nền móng có vững thì sự phát triển của các em sau này sẽ vững chãi. Người thầy, cô ở tiểu học phải thực sự là người cha, người mẹ thứ hai của các em để các em không có cảm giác sợ sệt mà thay vào đó là sự kính trọng, thân thiện.

Ở tiểu học phần lớn các em rất tò mò, hiếu động, thích tham gia các trò chơi tập thể. Chính vì vậy mà việc tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi tập thể là một việc làm hết sức cần thiết. Thông qua các hoạt động”Học mà chơi – Chơi mà học” giúp các em dễ hòa đồng với bạn bè, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Khi các lớp học đã học đã thực sự thân thiện, học sinh thực sự tích cực thì sẽ góp phần tạo nên một trường học thân thiên – học sinh tích cực. Mối thân thiện giữa thầy và trò, nhà trường với cha mẹ học sinh ngày một tăng thêm. Giúp các em không những nắm được kiến thức một cách chủ động, nhẹ nhàng mà còn rèn cho các em nhiều kĩ năng khác góp phần giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện.

II. 2. Thực trạng

a) Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

– Được Ban giám hiệu quan tâm trang bị tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất như phòng học khang trang, có bảng chống lóa, tủ đựng đồ dùng, thiết bị dạy học, bàn ghế đầy đủ… Hàng năm nhà trường mua sắm bổ sung thiết bị dạy học, giáo viên thường xuyên tự làm đồ dùng để dạy học. Đội là một tổ chức hỗ trợ tốt cho việc thực hiện phong trào này.

– Một số cha mẹ học sinh đã quan tâm đến việc học của con, phối kết hợp với giáo viên giúp các em học tập, rèn luyện tốt. Đóng góp đầy đủ để xây dựng trường. Không những đóng góp kinh phí mà còn tự nguyện tham gia ngày, giờ công để góp phần xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp.

– Một số học sinh đã có ý thức trong học tập, rèn luyện, tích cực hưởng ứng phong trào thi đua.

– Đây chính là kim chỉ nam giúp tôi càng hăng say nghiên cứu đề tài này.

* Khó khăn

– Học sinh còn nhỏ nên khả năng giao tiếp còn hạn chế, bên cạnh đó só em lại ở trọ hoặc sống với cô, dì, ông bà, sự dạy bảo, điều chỉnh các em thực hiện kĩ năng soosngs còn hạn chế.

– Đồ dùng dạy học trong nhà trường chưa được được phong phú, đa dạng.

– Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cũng như tích cực hưởng ứng phong trào thi đua cho học sinh, đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ, tức là phải có năng lực sư phạm, phải thực sự coi mình là người mẹ thứ hai của các em, gần gũi để các em tâm sự, giãi bày.

Cũng có giáo viên đã quan tâm tới việc tích hợp giáo dục kĩ năng nhưng khả năng

tích hợp chưa linh hoạt.

– Để thực hiện được đề tài này đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, chịu hy sinh thời gian của mình để học hỏi, đưa ra nhiều tình huống có thể xảy ra để có hướng giải quyết, phải nhiệt tình, hết lòng vì học sinh. Bước đầu thực hiện nên còn gặp nhiều bỡ ngỡ, chưa có tính linh hoạt.

– Thời gian được tập huấn nội dung này còn ít, giáo viên chưa được tham quan mô hình thực hiện cụ thể mà chỉ mới chỉ thực hiện thông qua học lý thuyết hiểu sao thì làm vậy.

– Học sinh chưa quen với cách học mới, một số em chưa đủ đồ dùng để tham gia học, chưa có ý thức học tập.

– Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học và còn thờ ơ đến việc trang bị đồ dùng học tập cho các em, đóng góp còn chậm. Một số cha mẹ còn coi nặng việc học kiến thức, xem nhẹ việc giáo dục các kĩ năng sống cho các em.

b) Thành công, hạn chế

* Thành công

– Lớp học trang trí đẹp, hài hòa, học sinh thích đến lớp, yêu quí lớp, khơi dậy cho học sinh phải trăn trở mình phải đóng góp gì vào đây để lớp mình thêm đẹp từ đó các em tìm tòi và thể hiện tài năng của mình có thể là vẽ, viết, xé dán…

– Học sinh thoải mái trao đổi, thắc mắc trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới. Nắm, ghi nhớ được chắc kiến thức ngay tại lớp.

– Không khí lớp học tươi vui, tất cả học sinh đều phải làm việc, pháp huy được tính chủ động, tích cực của học sinh, các hoạt động của lớp có sự thay đổi rõ rệt. Các em biết quan tâm tới nhau hơn, tự giác giúp đỡ nhau trong học tập cũng như vui chơi. Lớp học trở thành một khối đoàn kết thống nhất, tích cực thi đua học tập và tham gia các phong trào mà các cấp phát động.

– Giáo viên điều chỉnh được những suy nghĩ chưa đúng đắn, còn lệch lạc, mơ hồ ở học sinh. Tạo được mối quan hệ thân thiện trong giao tiếp với học sinh giúp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh gần gũi hơn. Giảng dạy, giáo dục học sinh không chỉ là kiến thức của bài mà giáo dục toàn diện cho học sinh như các kỹ năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử …

– Giữ gìn được bản sắc văn hóa của dân tộc thông qua các trò chơi dân gian, hiểu để từ đó giữ gìn và phát huy được giá trị văn hóa của dân tộc, địa phương.

* Hạn chế

Một số giáo viên chưa hiểu rõ về tầm quan trọng, tính giáo dục của việc trang trí, cứ thấy đẹp là dán lên nên việc trang trí chưa khoa học, lòe loẹt, phòng học tối vì trang trí nhiều hoa lá trên cửa sổ. Bước đầu thay đổi cách dạy học mới, phần đa giáo viên thấy ngại, để học sinh tự nêu câu hỏi, tự nêu kiến thức mà mình biết được sẽ làm thì mất thời gian vì vậy chọn lối dạy học cũ là làm thay, nói giùm học sinh để đảm bảo thời gian và tránh được người khác đánh giá nề nếp lớp học không nghiêm túc. Giáo viên gặp phải tình huống sư phạm khó xử mà học sinh đưa ra sẽ bị lúng túng, e ngại với học sinh. Một số giáo viên sợ mất thời gian nên thực hiện việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống còn qua loa, đại khái, chưa có hiệu quả cao. Một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình, năng động thì việc hướng dẫn học sinh tham gia trò chơi dân gian, tìm hiểu, phát huy các giá trị văn hóa ở địa phương còn rất nhiều hạn chế.

– Một số ít học sinh nhút nhát, chưa tự tin trước tập thể thì không thích tham gia.

c) Mặt mạnh, mặt yếu

* Mặt mạnh

– Khơi dậy ở các em tính thẩm mĩ, sự sáng tạo trong trang trí cùng với ý thức muốn góp sức để làm đẹp lớp. Phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức vì tập thể của học sinh.

– Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho các em tìm tòi, khám phá kiến thức vì vậy nên các em hiểu bài sâu hơn, ghi nhớ bền lâu hơn. Tránh được tình trạng giáo viên nói nhiều, chỉ mải thuyết trình mà không biết học sinh nắm được gì? Nắm được đến đâu để có hướng khắc phục, điều chỉnh kịp thời. Tất cả các đối tượng học sinh đều được tham gia bày tỏ ý kiến. Tạo cho các em có tính nhút nhát mạnh dạn hơn. Tạo môi trường thân thiên trong quá trình giảng dạy.

– Các em nhanh nhẹn, hoạt bát hơn khi tham gia các trò chơi và các hoạt động tập thể. Tự tin, mạnh dạn trong cuộc sống, khả năng giao tiếp tốt, có những kĩ năng cơ bản để ứng xử kịp thời.

* Mặt yếu

Nếu giáo viên không có sự tìm tòi, sáng tạo, chuẩn bị bài chưa chu đáo, không lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp thì tiết học dẫn đến nhàm chán. Có thể gặp phải tình huống khó xử khi học sinh hỏi. Từ đó sẽ lúng túng, mất tự tin khi dạy, không linh hoạt và có kỹ năng sư phạm tốt thì sẽ làm mất lòng tin tưởng ở học sinh.

– Nếu giáo viên không khôn khéo trong việc tận dụng các nguồn lực thì sẽ không có nguồn kinh phí để thực hiện. Cái gì cũng thuê làm thì cũng không kích thích được sự sáng tạo của học sinh và trách nhiệm, ý thức của các em trong việc bảo vệ, giữ gìn, thái độ tham gia sẽ không được nâng cao.

d) Nguyên nhân

– Trường học được xây dựng kiên cố, nhưng chưa được trang bị đầy đủ các thiết bị đồ dùng dạy học cho tất cả các tiết học, phòng ngoại ngữ, phòng âm

nhạc, khu vui chơi, bãi tập…

– Học sinh còn nhỏ, một số em ở xa đi lại còn khó khăn, nhất là lúc trời mưa.

– Địa phương còn nhiều khó khăn, có nhiều học sinh thuộc hộ gia đình hộ nghèo và cận nghèo.

– Một số cha mẹ các em đi làm xa nhà, để con ở trọ hoặc gửi cho họ hàng nên việc quan tâm đúng mức tới các em còn rất nhiều hạn chế.

– Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, còn ham chơi, chưa ý thức hết được tầm quan trọng của việc học tập, chưa tự giác học tập. Còn nhiều em đi học muộn, đi học chưa chuyên cần vì ngủ quên…, có em không có đủ sách vở và đồ dùng để học tập. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để trải nghiệm nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết của tiết học.

– Phần lớn ở lứa tuổi này các em đều có tính hiếu động, tò mò, muốn được giải thích thắc mắc hay một điều gì mà trong quá trình khám phá các em chưa hiểu. Thích bày tỏ để các bạn và cô giáo thấy được kết quả khám phá của mình dù đúng hay sai. Nếu không nắm được đặc điểm của lứa tuổi thì việc giáo dục gặp rất nhiều trở ngại.

– Một số giáo viên chưa thường xuyên tự bồi dưỡng thêm những kiến thức và kĩ năng sư phạm cũng như các kiến thức tâm sinh lí trẻ thường xuyên nên đôi khi thấy lúng túng trong các tình huống sư phạm. Giáo viên không chuẩn bị đồ dùng dạy học cho một tiết dạy, dạy chay, dạy một chiều tiết học không sinh động. Sự định hướng đúng đắn của giáo viên có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động. Nếu ta chủ quan, lơ là thì kết quả không những không có tính giáo dục mà còn làm mất đi sự hứng thú tham gia của học sinh và cha mẹ các em. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, chán học, bỏ học, thụ động, nhút nhát, mất tự tin, chưa thực sự yêu trường, mến lớp của học sinh.

e) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.

– Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện về sơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc

dạy và học. Thường xuyên động viên khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp, tăng cường làm đồ dùng phục vụ giảng dạy, nâng cao mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, cha mẹ học sinh với giáo viên. Thông qua việc dự giờ góp ý cho giáo viên đổi mới cách dạy, cách trang trí lớp nhằm cuốn hút, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Tổ chức các chuyên đề để giáo viên được trao đổi, học tập lẫn nhau. Tổ chức thi làm đồ dùng dạy học. Hàng tháng có kiểm tra việc tự làm đồ dùng và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên và kiểm tra đột xuất việc chuẩn bị đồ dùng của học sinh, cách trang trí lớp của các lớp.

– Một số giáo viên ngại đổi mới cho rằng kiến thức đơn giản, xưa nay vẫn dạy vậy mà học sinh vẫn lên lớp, vẫn trưởng thành nên cứ thế mà làm, không cần phải mất thời gian nghiên cứu chuẩn bị, vừa tốn kém thời gian nghiên cứu, thời gian làm đồ dùng, tốn kinh phí. Họ chưa hiểu được rằng kiến thức đó sẽ đọng lại trong đầu các em bao lâu, giúp ích gì cho các em trong cuộc sống. Bên cạnh việc nắm kiến thức đó học sinh còn có thêm các kỹ năng gì để vận dụng vào cuộc sống, góp phần giáo dục con người mới phát triển toàn diện phù hợp với tình hình đất nước thời kỳ đổi mới.

– Đồ dùng dạy học và các thiết bị dạy học được nhà trường bảo quản tốt, hàng năm được mua sắm thêm. Mỗi năm giáo viên lại làm thêm nhiều đồ dùng để phục vụ dạy học. Phần lớn vẫn là đồ dùng mong hỏng, rẻ tiền.

– Phương pháp dạy học cũ đã ăn sâu vào một số giáo viên lớn tuổi, ngại đổi mới. Để thay đổi được quả là một vấn đề khó khăn. Qua tập huấn, chuyên đề, dự giờ, góp ý họ cũng một phần nào nắm được phương pháp mới song sự vận dụng còn gò bó, chưa linh hoạt, chưa thường xuyên nên kết quả giảng dạy chưa cao.

– Cha mẹ học sinh của một số em thường xuyên quan tâm, kết hợp với giáo viên để giúp con học tập thì các em đó tiếp thu tốt bài. Bên cạnh đó có một số cha mẹ học sinh do điều kiện kinh tế khó khăn lo lao vào làm kinh tế nên chưa có thời gian quan tâm đến sát sao đến con cái. Không cần qua tâm đến thái độ, hành vi, cách ứng xử của các em. Đồ dùng học tập, sách vở của các em còn thiếu, đi học còn quên đồ dùng. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để trải nghiệm nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết của tiết học. Trong cuộc sống các em chưa mạnh dạn, tự tin, ứng xử chưa thân thiện trong giao tiếp, chưa có kĩ năng ứng xử, đối phó kịp thời khi gặp tình huống trong đời sống hằng ngày.

– Học sinh phần lớn rất thích học theo phương pháp dạy học mới vì các em được thoải mái hơn, thích thú hơn, hiểu bài hơn nên càng có hứng thú học tập. Bên cạnh đó một số em tính nhút nhát thì không thích giao lưu, tiếp xúc với bạn, với giáo viên. Một số em không có đồ dùng thì lo sợ khi nghe yêu cầu mang đồ dùng ra học. Trước những vấn đề đó giáo viên cần có biện pháp kết hợp với cha mẹ các em tốt hơn, tham mưu với hội cha mẹ học sinh của trường, lớp và các đoàn thể để giúp đỡ các em. Tạo cho các em không những nắm tốt nội dung kiến thức mà còn có được những kỹ năng cơ bản của tiết học, mạnh dạn hơn trước tập thể.

Advertisement

III. 3. Giải pháp, biện pháp

a) Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.

– Nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với thực tế của trường, lớp. Tạo cho các em thực sự yêu trường, mến lớp thấy được mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui.

– Giúp học sinh có hứng thú trong học tập, thu hút được tất cả học sinh vào quá trình học. Học sinh chủ động, tích cực học tập, ghi nhớ kiến thức sâu hơn, kĩ hơn, tiết học không nặng nề, đơn điệu. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, thân thiện nhưng vẫn đảm bảo được việc giáo dục toàn diện cho học sinh về thái độ, tình cảm, thẩm mĩ…Cập nhật được những vấn đề xung quanh gắn với đời sống thực tế của học sinh. Phát huy được tính năng động, sáng tạo trong các em.

b) Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

Qua những năm thực tế giảng dạy, tìm tòi học hỏi trên các phương tiện và qua trao đổi với đồng nghiệp tôi rút ra được một số kinh nghiệm để “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” như sau:

* Công tác tham mưu

– Làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo nhà trường để nâng cao về chất lượng sơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Mua sắm thêm tài liệu tham khảo, máy chiếu, đồ dùng phục vụ tốt cho việc dạy và học. Tổ chức có chất lượng các chuyên đề để học tập, trao đổi kinh nghiệm dạy học. Tổ chức dự giờ tập trung để cùng góp ý cho nhau tiến bộ. Triển khai các sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng để cùng học tập. Đăng kí mua báo, tập san về giáo dục thời đại…

– Tham mưu tốt với Ban tự quản thôn nơi học sinh cư trú để tuyên truyền, vận động tốt việc đưa con em đến trường học đúng độ tuổi và trách nhiệm của cha mẹ đối với việc học của con cái.

– Tham mưu với Ban chấp hành hội cha mẹ học sinh, cùng với họ vận động, tuyên truyền, giúp học sinh, phụ huynh tháo gỡ, khắc phục khó khăn tạo điều kiện giúp các em học tốt.

– Kết hợp tốt với các đoàn thể trong nhà trường để giáo dục các em.

– Kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để có biện pháp điều chỉnh, giúp đỡ các em kịp thời.

* Tìm hiểu lí lịch của học sinh

Khi nhận lớp tôi bắt đầu ngay vào việc tìm hiểu lí lịch của học sinh cũng như lực học và sự rèn luyện của các em. Nhận xét mối quan hệ của các em trong lớp từ đó phân chia các đối tượng vào các tổ, các nhóm có đủ các thành phần giỏi, yếu, có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh tốt. Cũng từ đây mà các em có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau vì vậy các em sẽ quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo viên giao.

* Tổ chức họp cha mẹ học sinh đầu năm

* Tăng cường công tác trang trí lớp học

– Không khí lớp học xanh, sạch, đẹp, an toàn thân thiện là yếu tố rất quan trọng góp phần thu hút trẻ đến trường, đến lớp, góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái, sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Các khẩu hiệu trong lớp mang ý nghĩa quan trọng, mang tính giáo dục cao “Dạy tốt, học tốt”, “Mỗi ngày đến lớp là một niềm vui”, nội qui học sinh, bảng ghi năm điều Bác Hồ dạy. Vì thế giáo viên cần phải giải thích để các em hiểu được nội dung, ý nghĩa của mỗi bảng, mỗi khẩu hiệu. Di ảnh Bác Hồ được treo nơi trang trọng nhất, dễ thấy. Giáo dục lòng kính yêu nhớ ơn Bác Hồ, lòng yêu nước.

– Thường xuyên nhắc nhở học sinh giữ gìn tài sản chung của nhà trường từ chỗ ngồi, cửa sổ, lớp học, hành lang cho đến sân trường, “Hãy giữ gìn tài sản chung của chúng ta”.

– Lớp có đủ ánh sáng, quạt, lọ hoa, cây xanh, tạo không khí thật sự thoải mái, thân thiện gần gũi với thiên nhiên hơn. Bàn giáo viên có khăn trải bàn, lọ hoa, tủ đồ dùng phải gọn gàng sắp xếp khoa học, sạch đẹp, dễ đưa vào sử dụng.

– Huy động học sinh và cha mẹ các em cùng tham gia xây dựng “Tủ sách thân thiện”của lớp, tạo điều kiện cho các em ham đọc sách, mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Rèn kĩ năng và trách nhiệm bảo quản tài sản chung, gọn gàng, ngăn nắp.

– Vườn hoa học tập, bảng danh dự, phản ánh rõ ràng, chính xác, công khai kết quả học tập của mỗi em tư đó kích thích học sinh tích cực học tập để đạt được kết quả cao hơn.(như hay có tên mình trên bảng danh dự, tên mình có nhiều bông hoa hơn..)

Sử dụng cuối lớp làm Bảng tin lớp em được trang trí đẹp, nội dung phong phú, phù hợp lứa tuổi của các em.

…………

Cập nhật thông tin chi tiết về 7 Biện Pháp Gây Hứng Thú Cho Học Sinh Theo Từng Môn Để Không Nói Chuyện Riêng Trong Giờ Học trên website Quar.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!