Xu Hướng 2/2024 # Bài Diễn Văn Kỷ Niệm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ 27/7 Diễn Văn Ngày 27/7 Hay Nhất # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bài Diễn Văn Kỷ Niệm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ 27/7 Diễn Văn Ngày 27/7 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Quar.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 1

Kính thưa các đại biểu thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ,

Kính thưa quý vị đại biểu và các đồng chí,

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc xã Luận Thành luôn ghi nhớ những đóng góp to lớn của anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đây là trách nhiệm, tình cảm và nét đẹp nhân văn của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ hằng năm là dịp tri ân những anh hùng, liệt sĩ, người có công trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã anh dũng hy sinh hoặc để lại một phần thân thể ở chiến trường.

Kính thưa các đại biểu thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ,

Kính thưa quý vị đại biểu và các đồng chí,

Nhân dịp Kỷ niệm … năm ngày TBLS, thay mặt các đồng chí lãnh đạo xã .., tôi xin gửi tới các đồng chí thương bệnh binh, gia đình có công với nước lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần, lời tri ân sâu sắc nhất!

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc đã chứng kiến lớp lớp thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước, thương nòi; với ý chí kiên cường, bất khuất và lòng thủy chung, nhân hậu đã không tiếc máu xương, công sức của cải để giữ gìn độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, xây đắp giang sơn. Với sự hy sinh của đông đảo quần chúng, của chiến sĩ, anh hùng kế tiếp nhau trong lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Chứng kiến những hy sinh, mất mát lớn của dân tộc, Người không chỉ dành tình cảm đặc biệt đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và gia đình có công với Tổ quốc “xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.

Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước; với Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đánh đổ ách thực dân, giải phóng một nửa giang sơn. Và với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, quân và dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ gian khổ, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất nước. Họ ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại người thân yêu nhất của mình.

Cứ đến tháng bảy hàng năm, cả nước lại tràn ngập không khí tri ân những người có công với nước. Ngày càng có nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa, quan tâm đời sống các gia đình liệt sĩ, thương binh, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc nhà bia tưởng niệm, tổ chức những hoạt động về nguồn đầy xúc động… Tri ân những người hy sinh vì nước đã trở thành một nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội. Những việc làm đó còn có ý nghĩa giáo dục cho lớp trẻ hôm nay về một thời oanh liệt của đất nước, về đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Kính thưa các đại biểu thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ,

Kính thưa quý vị đại biểu và các đồng chí,

Hôm nay, mọi người được sống trong thanh bình, chúng ta càng nhớ tới công lao và sự hy sinh to lớn của các thương binh và liệt sĩ. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công.

Các cấp, các ngành, đoàn thể, Đảng và chính quyền địa phương, các cơ quan, trường trạm trên địa bàn trong và ngoài xã đã thể hiện bằng những việc làm thiết thực để chăm sóc sức khỏe, tạo công ăn việc làm, giúp đỡ về nhà ở; con em của họ được ưu tiên xét tuyển, giảm tiền đóng góp xây dựng trường, được tặng học bổng, trợ cấp, tổ chức tặng quà, thăm hỏi, động viên thương bệnh binh ốm đau…

Không những chăm lo người còn sống, chúng ta còn có nhiều hoạt động quan tâm chăm sóc nơi an nghỉ của những người đã khuất như: xây dựng đài tưởng niệm, cầu siêu cho hương hồn các liệt sĩ được ấm lòng nơi chín suối… phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã và đang lan tỏa sâu rộng ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương mang lại hiệu quả thiết thực.

Xin kính chúc sức khỏe các vị đại biểu và các đồng chí.

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 2

Kính thưa các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng,

Kính thưa các vị lão thành cách mạng,

Kính thưa các đại biểu thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước,

Kính thưa quý vị đại biểu và các vị khách quý,

Kính thưa các đồng chí và các bạn cùng các em thân mến,

Trong những ngày tháng bảy lịch sử này, cùng với cả nước, thành phố, quận và phường đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ. Hôm nay, trường ……… trang trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ. Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, thay mặt ban lãnh đạo trường ……………, tôi xin gửi đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, các thân nhân liệt sĩ, các gia đình có công với cách mạng những tình cảm sâu nặng, lòng biết ơn sâu sắc cùng lời thăm hỏi ân cần, thân thiết nhất.

Kính thưa quý vị!

Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ tổ quốc của dân tộc. Đất nước ta và nhân dân ta, đã phải trải qua biết bao gian khổ, đau thương mất mát. Hàng triệu người con ưu tú đã anh dũng hy sinh trên khắp các chiến trường. Hàng ngàn, hàng vạn các đồng chí thương binh, bệnh binh đã để lại một phần cơ thể nơi chiến trường để cho chúng ta có được sống trong độc lập, tự do, hoà bình và phát triển như ngày hôm nay. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam đời đời biết ơn các anh hùng liệt sỹ, biết ơn các đồng chí Thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng, mãi mãi biết ơn các gia đình đã hiến dâng những người con, người chồng, người cha thân yêu của mình vì độc lập, tự do của Tổ Quốc. Ghi công, tôn vinh, tưởng nhớ và biết ơn những người có công với dân, với nước dó chính là bản chất và nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Để bày tỏ lòng biết ơn và thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “tri ân với những người đã khuất” – Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến công tác chăm sóc các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ. Hồ Chủ Tịch đã từng nói: “Thương binh, Bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc với nhân dân, cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ”.

Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền cùng một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Sau khi xem xét, các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27/7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ năm 1955, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đổi tên ngày ”Thương binh toàn quốc” thành “Ngày thương binh liệt sĩ” nhằm thể hiện đầy đủ hơn tình cảm của Đảng, nhà nước cùng nhân dân đối với tất cả những người đã hy sinh xương máu của mình cho Tổ quốc.

Kính thưa quý vị

Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, lớp lớp các thế hệ thanh niên đã hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc. Các anh đã chiến đấu anh dũng trên khắp các chiến trường, đóng góp cùng quân dân cả nước làm nên những chiến công hiển hách, vẻ vang, giải phóng toàn dân tộc, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Ngày hôm nay, chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày 27/7 không chỉ để tri ân các anh hùng liệt sĩ, những người có công với cách mạng mà còn là dịp để giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay, giáo dục học sinh trường ta về truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất của cha anh. Cũng giống như ”Uống nước phải biết nhớ nguồn”, ”ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây” và đó chính là đạo lý cao đẹp mà biết bao thế hệ đã vun đắp.

Kính thư quý vị

Thưa toàn thể các đ/c CBGVNV!

Việc làm của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường những năm qua về công tác thương binh – liệt sĩ có thể nói là một sự nỗ lực rất lớn nhưng so với công lao của các thương binh – liệt sĩ thì vẫn thật là ít ỏi và khiêm tốn. Trong thời gian tới, thay mặt lãnh đạo nhà trường, tôi đề nghị các đoàn thể, các tổ chức cùng toàn thể CBGVNV và học sinh hãy phát huy hơn nữa trách nhiệm của mình đối với công tác thương binh – liệt sĩ; dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp mang lại hiệu quả thiết thực, nhằm làm cho công tác thương binh – liệt sĩ thật sự trở thành lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả những người đang sống.

Mặt khác, phải thường xuyên tuyên truyền nâng cao truyền thống yêu nước và đạo nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” trong các tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ và những người có công với nước, để từ đó biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp ấy thành hành động cách mạng thiết thực trong việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công và trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Và cũng nhân buổi lễ hôm nay, tôi xin được thiết tha kêu gọi các đồng chí thương binh, thân nhân thương binh liệt sĩ, hãy phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào tại địa phương, trong mọi lĩnh vực công tác, giảng dạy cũng như học tập, từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng quê hương đất nước, xây dựng nhà trường ta ngày càng vững mạnh!

Kính thưa các đ/c CBGVNV!

Các em học sinh thân mến!

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng trong hàng trăm công việc mà toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phải quyết tâm phấn đấu vì sự phát triển, sự giàu mạnh của quê hương, nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng, xuyên suốt các thời kỳ, giai đoạn của sự nghiệp Cách mạng chính là tập trung thực hiện tốt công tác Thương binh – Liệt sỹ và Người có công với nước. Và hoạt động đền ơn đáp nghĩa lớn nhất, quan trọng nhất chính là phát huy truyền thống, phát huy mọi nguồn lực tinh thần lẫn vật chất, cần kiệm, sáng tạo cũng như năng động trong xây dựng quê hương, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng quê hương phát triển về mọi mặt, kinh tế, xã hội thật sự văn minh, mọi người, mọi nhà đều có cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Đó cũng chính là khát vọng của bao người đã ngã xuống, đó là mục tiêu mà để đạt được biết bao thế hệ đã nối tiếp nhau chiến đấu hy sinh. Đó cũng chính là quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương với các Anh hùng Liệt sỹ, với những thế hệ đi trước đã chiến đấu, hy sinh và với thế hệ con cháu mai sau.

Chính vì thế, thế hệ chúng ta hôm nay không chỉ chăm lo công việc hiện tại, mà cũng phải suy nghĩ và hành động theo gương những thế hệ đi trước, đồng thời bồi dưỡng cho thế hệ mai sau kế thừa xứng đáng sự nghiệp của cha anh. Tôi luôn tin tưởng chắc chắn rằng với truyền thống giàu lòng yêu nước, cần cù sáng tạo, nhân ái thủy chung, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ lập được thật nhiều thành tích hơn nữa để báo công với chủ tịch Hồ Chí Minh, với các anh hùng liệt sĩ trong năm học 2023- 2023 và những năm tới.

Tôi cũng xin thay mặt toàn thể cán bộ GVNV và các em học sinh, xin hứa sẽ kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà các anh hùng, liệt sĩ đã chuyển giao và nguyện: ”Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ”!

Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe quý vị đại biểu!

Chúc cho các đồng chí cùng các em học sinh có mặt trong buổi lễ hôm nay những điều tốt đẹp nhất.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 3

Kính thưa:

Các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng;

Các Anh hùng lực lượng vũ trang;

Thưa các đồng chí và các bạn!

Trong không khí sôi nổi kỷ niệm XX năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2024) cho phép tôi được thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh nhiệt liệt chào mừng và chúc sức khoẻ tới các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang cùng các vị đại biểu khách quý, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ và toàn thể các đồng chí về dự Hội nghị. Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng, Liệt sỹ, Thương binh, Bệnh binh cùng những người đã chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Hơn nửa thế kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã nhất tề đứng dậy quyết tâm thực hiện lợi kêu gọi của Bác Hồ vĩ đại ” Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không làm nô lệ”, Nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn, trở ngại, gian khổ hy sinh để đánh thắng các thế lực xâm lược giành độc lập tự do, thống nhất Tổ Quốc.

Để làm nên chiến thắng to lớn ấy, đã có hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta đã chiến đấu và anh dũng hy sinh trên những chiến trường, những trận địa. Cùng với đồng bào cả nước, nhân dân tỉnh ta tiễn đưa hơn ………….. ngàn thanh niên ra chiến trường bảo vệ Tổ Quốc… Để đền đáp công ơn to lớn đó, kế tục và phát huy đạo lý ”Uống nước nhớ nguồn” của ông cha ta, trong những năm qua cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta đã hết lòng chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng và người có công với cách mạng. Tuy là một tỉnh tuy kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thế nhưng Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta, bằng tình cảm và trách nhiệm đã thường xuyên làm tốt phong trào tình nghĩa ở khắp các địa phương trong tỉnh, với rất nhiều hoạt động phong phú, nhiều việc làm nhân ái chẳng hạn như: lập quỹ đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, nhận chăm sóc thương binh, bệnh binh khó khăn,… Chúng ta không thể kể hết được những việc làm mà Đảng bộ, nhân dân ta, ở khắp mọi địa phương trong tỉnh đã và đang làm để có thể bày tỏ lòng biết ơn đối với anh chị em thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng trong những năm qua.

Thưa các đồng chí!

Cùng với những việc làm đó, chúng ta hết sức trân trọng và cảm động trước những cố gắng to lớn của đông đảo anh chị em thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng trong tỉnh, đã tự mình vượt lên trên mọi đau thương, mất mát mà khắc phục khó khăn nhiều mặt, tận tâm tận lực cống hiến phần sức lực còn lại cho công cuộc đổi mới đất nước, làm rạng rỡ thêm lời dạy của Bác Hồ là “Tàn nhưng không phế”, tiếp tục phát huy truyền thống của “Anh bộ đội cụ Hồ” nhằm xây dựng cuộc sống mới cho bản thân và gia đình, đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều đồng chí đã nỗ lực vươn lên hăng hái tham gia lao động sản xuất và sản xuất giỏi, đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh doanh, không những tìm được việc làm cho gia đình mình mà còn có thể giải quyết được nhiều lao động ở địa phương, nhiều tấm gương tiêu biểu mẫu mực cho chúng ta học tập và noi theo.

Ở tỉnh ta có rất nhiều tấm gương tiêu biểu, về dự Hội nghị hôm nay, có trên ………. đại biểu là các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, các thương binh, Bệnh binh, gia đình liệt sĩ và rất nhiều các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong công tác thương binh, liệt sĩ, người có công và phong trào Đền ơn đáp nghĩa ở khắp các địa phương. Đây đều là những tấm gương hết sức tiêu biểu đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu vươn lên nối tiếp truyền thống anh hùng trong học tập, công tác và lao động, sản xuất, kinh doanh và hoạt động xã hội, nhiều anh chị em đã thành đạt, trở thành những bông hoa tươi đẹp trong rừng hoa đẹp đã vượt khó vươn lên trong lao động sản xuất, làm giàu chính đáng để ổn định đời sống gia đình, đóng góp xây dựng Quê hương ngày càng giàu và đẹp. Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và Nhân dân trong tỉnh nhiệt liệt biểu dương và ghi nhận các thành tích cố gắng của các đồng chí đã khắc phục khó khăn, gian khổ vươn lên xây dựng cuộc sống gia đình và góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Với trách nhiệm và nghĩa tình sâu nặng, Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm rất nhiều việc để cuộc sống của các thương binh, thân nhân liệt sĩ và những người có công ngày càng được đầy đủ và tốt đẹp hơn, thế nhưng vẫn chưa đáp ứng được hết các yêu cầu. Khi mà còn rất nhiều những gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với nước cuộc sống còn nhiều khó khăn; việc chăm sóc sức khỏe khi đau yếu, việc chữa trị những vết thương chiến tranh, việc chăm lo học hành và giải quyết việc làm chưa được chu đáo và vẫn còn những người, những gia đình có công chưa được hưởng đầy đủ những chính sách ưu đãi của Ðảng và Nhà nước ta; và cho đến nay vẫn còn nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, danh tính, đang để lại nỗi thương đau khắc khoải trong lòng những người thân cũng như trong mỗi chúng ta.

Đất nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vì dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu đáp ứng khát vọng của toàn dân, do đó hơn lúc nào hết công tác Chăm sóc Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, vừa là trách nhiệm và tình cảm của toàn dân. Mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta có rất nhiều cố gắng chăm lo cho công tác Thương binh – Liệt sĩ, thế nhưng so với yêu cầu, chúng ta còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Tôi luôn tin tưởng các ngành, các cấp, những tập thể, cá nhân sẽ làm tốt hơn nữa công tác chăm sóc phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, chăm sóc Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Cũng nhân dịp này, thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN, tôi đề nghị các ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị đóng quân trên địa bàn tiếp tục tổ chức thực hiện tốt hơn nữa các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, nhất là quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho những người có công và con em của họ; giúp đỡ thiết thực và có hiệu quả các gia đình chính sách về vật chất lẫn tinh thần, trước hết là đối với những người, những gia đình còn nhiều khó khăn trong cuộc sống để có thể thực hiện bằng được mục tiêu: các gia đình có công với nước đều có mức sống ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư.

Một lần nữa, xin bày tỏ lòng biết ơn đối với anh chị em thương bệnh binh, các Mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, các gia đình có công với với cách mạng. Xin nhiệt liệt biểu dương các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội cùng các cá nhân đã đóng góp vào việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Mong rằng mỗi người, mỗi ngành, mỗi tổ chức xã hội, hãy làm thật tốt hơn nữa công tác chăm sóc Thương binh, liệt sĩ và người có công, coi đây là trách nhiệm, tình cảm và vinh dự của chúng ta, tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người có công đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và Bảo vệ tổ quốc Việt nam.

Chúc các đồng chí đại biểu thương binh, gia đình liệt sĩ, các đồng chí đại biểu về dự hội nghị sức khỏe, hạnh phúc.

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 4

Kính thưa đồng chí …………………………………………………………

Kính thưa các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí Thương, Bệnh binh, gia đình Liệt sỹ, gia đình có công cách mạng!

Kính thưa các đồng chí đại biểu, các vị khách mời 

Trong những ngày tháng bảy lịch sử này, cùng với cả nước, cả tỉnh, huyện ta đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2024). Hôm nay, Huyện uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN huyện long trọng tổ chức buổi Lễ trọng thể này. Thay mặt lãnh đạo và nhân dân huyện nhà, tôi xin gửi đến các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí Thương binh, Bệnh binh, các thân nhân Liệt sỹ và gia đình có công cách mạng những lời thăm hỏi ân cần, lòng biết ơn vô hạn và những tình cảm thắm thiết nhất.

Kính thưa các đồng chí và toàn thể đồng bào!

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Từ đây, nhân dân Việt Nam vươn lên làm chủ cuộc đời của mình trong độc lập, tự do, hạnh phúc. Thành công ấy, hạnh phúc ấy được đổi bằng xương máu, sự hy sinh của biết bao đồng bào, chiến sỹ. Đã có hàng triệu đồng bào, đồng chí mãi mãi nằm xuống vì sự nghiệp Cách mạng và nhiều người trở về đã không còn nguyên vẹn, một phần thân thể của họ nằm lại nơi chiến trường.

Được Bác Hồ khởi xướng tháng 6 năm 1947, tại xã Phú Minh – Đại Từ (Thái Nguyên) các cơ quan Chính phủ, các Hội và Đoàn thể chính trị ở Trung ương đã tổ chức một Hội nghị quan trọng quyết định chọn ngày 27/7/1947 làm ngày “Thương binh toàn quốc”. Lần đầu tiên sau khi giành được độc lập, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại xã Hùng Sơn – Đại Từ – Thái Nguyên trang trọng đọc bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào cả nước, Người căn dặn yêu “ Thương binh, gia đình Liệt sỹ là người có công với nước, vì vậy bổn phận của chúng ta là phải đền ơn giúp đỡ họ”.

70 năm đã trôi qua nhưng lời dạy của Bác Hồ kính yêu vẫn nóng hổi trong trái tim mỗi người chúng ta:“Máu đào của các Liệt sỹ đã làm cho lá cờ Cách mạng thêm đỏ chói, sự hy sinh Anh dũng của các Liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do, nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các Liệt sỹ”. Lời Người như thôi thúc, nhắc nhở chúng ta về đạo lý làm người, đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Từ đó, ngày 27/7 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một ngày thiêng liêng nhất – ngày của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội bày tỏ lòng tri ân các Anh hùng -Liệt sỹ và bằng những việc làm thiết thực chăm sóc giúp đỡ Thương, Bệnh binh, gia đình có công Cách mạng.

Kính thưa quí vị đại biểu, thưa toàn thể đồng bào!

Quê hương Tiên Phước chúng ta tự hào là nơi có phong trào cách mạng liên tục bền bỉ qua suốt các thời kỳ lịch sử. Dù phải trải qua nhiều hy sinh gian khổ nhưng vẫn kiên cường, bất khuất, các thế hệ nhân dân Tiên Phước kế tiếp nhau cùng nhân dân cả nước quyết tâm đánh đổ cường quyền để mưu cầu độc lập, dân quyền, hạnh phúc. Đặc biệt từ khi có Đảng lãnh đạo thì chủ nghĩa Anh hùng cách mạng của nhân dân huyện nhà càng được nhân lên bội phần và suốt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hình ảnh toàn dân đánh giặc là sự thể hiện sinh động lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của toàn thể nhân dân Tiên Phước. Người người sẵn sàng kề vai sát cánh cùng nhau đứng lên đấu tranh trực diện với quân thù. Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổ ra hết sức quyết liệt. Và có biết bao đồng bào, đồng chí của ta đã ngã xuống trên mảnh đất này. Hơn 330 đồng bào, đồng chí hy sinh trong cuộc đấu tranh Cây Cốc Tiên Thọ vào tháng 10 năm 1954; gần 400 cán bộ, đảng viên và những người yêu nước của ta đã bị địch sát hại dã man trong các vụ thảm sát ở Sơn – Cẩm – Hà trong năm 1955 là chứng tích về tội ác tày trời mà bè lũ phản động đã gieo rắc trên quê hương chúng ta. Rồi những tháng ngày đen tối dưới ách thống trị đẫm máu và rùng rợn của quân đao phủ Mỹ – Diệm với những chiêu bài “quét sách địa bàn”, “Huấn chính tố cộng” dã man của kẻ thù, hàng ngàn người con ưu tú của Tiên Phước đã Anh dũng hy sinh. Sự hy sinh Anh dũng của các đồng chí, đồng bào đã thổi bùng ngọn lửa căm hờn trong lòng dân Tiên Phước, để rồi 21 năm sau, ngọn lửa ấy đã thiêu cháy sự tàn bạo và hiếu chiến của bè lũ Mỹ – Ngụy, ghi tiếp những trang sử hào hùng vang dội chiến công.

Lịch sử Cách mạng huyện nhà mãi mãi biết ơn và ghi danh các Anh hùng Liệt sĩ đã xả thân vì quê hương đất nước. Dũng khí Cách mạng kiên trung bất khuất của các đồng chí Nguyễn Liệu, Nguyễn Hữu Ngọc, Đào em, Phạm Hàn… Tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của các Anh hùng Liệt sĩ Trần Ngọc Sương, Lê Duy Đình, Nguyễn Có, Trần Đình Cường, Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Mới và biết bao tấm gương liệt sĩ khác là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Cùng với những chiến sỹ ngày đêm chiến đấu trên các chiến trường, biết bao đồng bào đã tham gia vào các phong trào đấu tranh chính trị, binh địch vận, thi đua sản xuất, nuôi dấu, che chở, bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở Cách mạng. Hình ảnh đồng chí Bùi Phụng vác tấm ván xông tới cản đường đạn của giặc trong cuộc đấu tranh Cây Cốc, bác Trần Ngọc Hoàng dẫn đầu đoàn biểu tình xông vào tiến công địch và Anh dũng hy sinh. Hình ảnh mẹ Nhạn, bác Nghiêm hiên ngang trong đoàn quân đấu tranh chính trị xông vào ấp chiến lược của địch, mẹ Trĩ 11 năm trời sắt son cất giữ lá cờ Đảng trong sự truy tìm lùng sục của bọn giặc, mẹ Thịnh, mẹ Hòa cất giấu từng lon gạo, hạt muối để tiếp tế cho Cách mạng. Và kể sao hết những tấm gương dũng cảm kiên trì bám trụ “một tấc không đi, một li không rời” quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ Cách mạng, những hình ảnh mà hôm nay nhắc lại, chúng ta không khỏi xúc động và tự hào về người dân và mảnh đất Tiên Phước Anh hùng, kiên cường, chung thuỷ. Biết bao người con ưu tú của quê hương đã ngã xuống hoặc mang thương tật suốt đời, những người cha, người mẹ, người vợ và những người con mãi mãi không thể gặp lại người thân yêu nhất của mình.

Tại buổi lễ trọng thể này, chúng ta kính cẩn tri ân đồng bào đồng chí các Anh hùng Liệt sỹ những người con ưu tú của quê hương đã không tiếc máu xương vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, để hôm nay đất nước trường tồn, quê hương hồi sinh, phát triển.

Kính thưa quí vị đại biểu, thưa toàn thể đồng bào!

Sau ngày đất nước thống nhất, chúng ta có những điều kiện thuận lợi hơn để làm tốt công tác Thương binh, Liệt sỹ, giải quyết chu đáo hơn, đạt được kết quả lớn hơn trong thực hiện chính sách, chế độ cũng như trong cuộc vận động toàn dân chăm sóc Thương, Bệnh binh, gia đình Liệt sỹ, gia đình có công Cách mạng. Công tác tìm kiếm, xác minh đề nghị công nhận Liệt sỹ, Thương binh, Bệnh binh được tập trung cao. Toàn huyện đã xét và đề nghị Nhà nước công nhận, suy tôn và tặng Bằng Tổ quốc ghi công cho trên 4.100 Liệt sỹ, giải quyết chế độ cho trên 12.560 thân nhân Liệt sỹ; xác nhận và giải quyết chế độ Thương Bệnh binh và người hưởng chính sách như Thương binh cho trên 784 người; thực hiện trợ cấp cho trên 1.848 người tham gia kháng chiến; giải quyết chế độ một lần cho trên 206 người tham gia kháng chiến bị tù đày; giải quyết chế độ cho trên 2.026 người có công giúp đỡ Cách mạng; 162 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học; 7 cán bộ Tiền khởi nghĩa. Tập trung triển khai có hiệu quả Pháp lệnh ưu đãi người có công Cách mạng, xác lập thủ tục, hồ sơ đề nghị Chủ Tịch Nước tuyên dương danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 331 Mẹ, hiện nay 18 Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống phong tặng danh hiệu AHLLVT cho 11 tập thể và 03 cá nhân.

65 năm qua, chính sách ưu đãi về người có công đã không ngừng đổi mới hoàn thiện, trở thành chính sách lớn, quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước ta, đã đi vào cuộc sống, tạo sự đồng thuận giữa ý Đảng, lòng dân, góp phần ổn định xã hội, tạo tiền đề thuận lợi để thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trân trọng và ghi nhận sự hy sinh, đóng góp to lớn của quân và dân huyện nhà trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm; kế tục, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” và để thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, 65 năm qua, dù ở giai đoạn lịch sử nào Đảng, Nhà nước đã không ngừng phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, thực hiện tốt hơn hơn công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với Thương binh, Bệnh binh, gia đình Liệt sỹ và người có công với nước.

Song song với việc thực hiện các chế độ chính sách ưu đãi người có công và phát động các phong trào đền ơn đáp nghĩa, đã tích cực huy động lực lượng sưu tra, qui tập hài cốt liệt sỹ vào nghĩa trang. Đến nay toàn huyện có 06 Nhà bia, 09 Đài tưởng niệm, 15/15 xã, thị trấn đã có Nghĩa trang Liệt sỹ với 4.158 mộ được qui tập. Huyện đã đầu tư nâng cấp Nghĩa trang Liệt sỹ Tiên Kỳ thành Khu tưởng niệm các Anh hùng – Liệt sỹ của huyện. Công tác sửa chữa, tôn tạo các công trình tưởng niệm được thực hiện thường xuyên đã góp phần làm tăng vẻ mỹ quan, tạo không gian trang nghiêm để mọi người đến thăm viếng, tưởng niệm, tri ân những người đã khuất.

Phát huy truyền thống Cách mạng, gia đình chính sách đã tham gia đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương. Qua các phong trào thi đua đã xuất hiện hàng trăm, hàng ngàn Thương Binh, Bệnh binh, gia đình Liệt sỹ, Người có công Cách mạng xuất sắc, điển hình trên các lĩnh vực phát triển kinh tế và tham gia hoạt động xã hội. Đặc biệt là các đồng chí Thương binh, Bệnh binh, các gia đình chính sách đã vượt qua khó khăn, bệnh tật nỗ lực vươn lên thoát nghèo và tích cực tham gia phong trào đền ơn đáp nghĩa và đã dành một phần thu nhập giúp đỡ các gia đình, đối tượng chính sách còn neo đơn, khó khăn, trở thành những hình ảnh đẹp, đáng trân trọng.

Kính thưa các đồng chí và toàn thể đồng bào!

Những thành tích có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc của công tác Thương binh – Liệt sỹ trong 65 năm qua của huyện ta là hết sức quan trọng. Thể hiện sự trân trọng, ghi nhận của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã không tiếc máu xương vì sự nghiệp đấu tranh Cách mạng thống nhất đất nước. Thông qua sự chăm sóc, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân các đối tượng chính sách cảm thấy ấm lòng và tự hào những gì mình đã đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân. Từ đó tăng thêm ý chí, nghị lực để vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, tiếp tục có những đóng góp mới cho công cuộc xây dựng quê hương đất nước hôm nay.

Mặc dầu đạt được những kết quả quan trọng, nhưng công tác Thương binh – Liệt sỹ và Người có công Cách mạng ở địa phương vẫn còn những khó khăn, hạn chế, thiếu sót: Phong trào đền ơn đáp nghĩa tuy đã được nhiều người hưởng ứng và tâm huyết đem lại kết qủa, song việc huy động các lực lượng xã hội tham gia chưa triệt để, thường xuyên. Việc chăm sóc các đối tượng chính sách có nơi, có lúc chưa chu đáo, chưa đáp ứng tâm tư nguyện vọng của đối tượng. Giải quyết chế độ người có công cách mạng còn chậm, có sai sót, đến nay vẫn còn những trường hợp chưa được kiểm tra, xác minh, đề nghị công nhận. Công tác sưu tra qui tập mộ liệt sỹ chưa đạt kết quả như mong muốn. Đời sống của một bộ phận chính sách còn khó khăn nhất là ở những xã có số lượng đối tượng chính sách đông, nhiều con em gia đình liệt sỹ, thương binh chưa có việc làm ổn định.

Kính thưa các đồng chí và toàn thể đồng bào!

Những thành quả đạt được trong công tác Thương binh Liệt sĩ ở huyện ta thời gian qua là vô cùng quan trọng. Song trong xu thế phát triển hiện nay, khi đời sống xã hội không ngừng được nâng lên, thì việc chăm lo cho đối tượng chính sách cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới. Đòi hỏi trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội cần tiếp tục quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn nữa đối với gia đình chính sách và những người có công với nước. Trong thời gian đến, cùng với việc tập trung phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quê hương giàu mạnh, công tác chăm sóc người có công phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu, thường xuyên và liên tục, lâu dài.

Trước hết phải đặc biệt quan tâm thực hiện tốt việc giáo dục ý thức chính trị, tư tưởng, truyền thống cách mạng, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lớp trẻ. Qua đó hun đúc thêm ý chí “không có gì quí hơn độc lập tự do”, ý chí tự cường dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp Cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Biến tư tưởng nhận thức trở thành sức mạnh nguồn lực to lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân huyện nhà trong tiến trình xây dựng phát triển quê hương và thực hiện tốt chính sách Thương binh Liệt sỹ và Người có công với nước. Tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục sâu rộng trong nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công, nhất là các chế độ chính sách mới ban hành.

Tiếp tục thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Thương binh Liệt sỹ và người có công cách mạng. Tập trung giải quyết dứt điểm hồ sơ còn tồn đọng và đẩy nhanh tiến độ xác nhận, thẩm định đề nghị giải quyết chế độ trợ cấp đối với Thương binh, Bệnh binh, thân nhân gia đình Liệt sỹ và Người có công. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát đảm bảo cho việc thực hiện chính sách với người có công đúng đối tượng, hiệu quả. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, sưu tra, quy tập mộ Liệt sỹ vào nghĩa trang. Xây dựng, cải tạo, nâng cấp nghĩa trang liệt sỹ, Nhà bia, Đài tưởng niệm ghi công các Anh hùng, Liệt sỹ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hoá công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, mở rộng phong trào “Toàn dân chăm sóc Thương binh, gia đình Liệt sỹ, Người có công”, động viên các gia đình chính sách tích cực tham gia các hoạt động xã hội, vươn lên bằng ý chí, nghị lực của bản thân, phát triển kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống. Đặc biệt quan tâm hỗ trợ tạo điều kiện trong học tập, đào tạo thế hệ con, cháu Liệt sỹ, Thương binh, Bệnh binh trở thành những cán bộ, người lao động có đủ đức, đủ tài tiếp nối sự nghiệp Cách mạng của cha anh. Phát huy các yếu tố điển hình, bài học kinh nghiệm của các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị, cá nhân làm tốt công tác Thương binh Liệt sỹ và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, làm nòng cốt để nhân rộng phong trào. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những nhân tố mới, điển hình mới là các Thương, Bệnh binh, gia đình Liệt sỹ, Người có công đã tự lực tự cường vươn lên trong sản xuất kinh doanh, học tập, công tác, trở thành “Người công dân kiểu mẫu” và “Gia đình Cách mạng gương mẫu”.

Kính thưa các đồng chí và toàn thể đồng bào!

Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ là việc làm có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, thể hiện sự trân trọng quá khứ, chăm lo xây dựng hiện tại và hướng đến tương lai. Tri ân các Anh hùng Liệt sỹ đã trở thành truyền thống, là nghĩa cử của thế hệ đi sau đối với những người đã xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước và Anh hùng Cách mạng đã trở thành truyền thống quý báu vô giá của nhân dân ta cần phải được giữ gìn và phát huy trong công cuộc xây dựng và phát triển quê hương Tiên Phước hôm nay và mãi mãi mai sau. Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta đời đời biết ơn công lao và sự hy sinh to lớn của các Anh hùng, Liệt sỹ, các Thương binh, Bệnh binh và những người có công với Cách mạng. Thay mặt Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN huyện, một lần nữa xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí Thương binh, Bệnh binh, thân nhân gia đình Liệt sỹ, gia đình có công Cách mạng đã hy sinh máu xương cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng, của dân tộc, làm rạng rỡ cho quê hương Tiên Phước Anh hùng. Mong tất cả các đồng chí Thương binh, Bệnh binh, thân nhân gia đình Liệt sỹ tiếp tục phát huy truyền thống bộ đội cụ Hồ, truyền thống cách mạng gắng sức cùng với Đảng, Nhà nước khắc phục khó khăn, vươn lên thoát khỏi đói nghèo, làm giàu cho gia đình và xã hội. Xin nhiệt nhiệt liệt biểu dương và cảm ơn các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, lực lượng vũ trang nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, các tập thể và cá nhân trong cộng đồng đã có những đóng góp to lớn và ý nghĩa cùng Nhà nước chăm lo đời sống tinh thần, vật chất đối với Thương binh, gia đình Liệt sỹ và Người có công với nước trong những năm qua. Trong điều kiện một huyện miền núi còn khó khăn, công tác chăm sóc người có công chưa thể đáp ứng tâm tư nguyện vọng của đối tượng, thì sự giúp đỡ kịp thời của cộng đồng, xã hội là việc làm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đáng biểu dương, trân trọng.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng trong hàng trăm công việc mà toàn Đảng, toàn dân huyện nhà phải quyết tâm phấn đấu vì sự phát triển, sự giàu mạnh của quê hương, nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, xuyên suốt các thời kỳ, giai đoạn của sự nghiệp Cách mạng là tập trung thực hiện tốt công tác Thương binh – Liệt sỹ và Người có công với nước. Và hoạt động đền ơn đáp nghĩa lớn nhất, quan trọng nhất chính là phát huy truyền thống, phát huy mọi nguồn lực tinh thần và vật chất, cần kiệm, sáng tạo và năng động trong xây dựng quê hương, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng quê hương Tiên Phước phát triển về mọi mặt, kinh tế, xã hội thật sự văn minh, mọi người, mọi nhà đều có cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Đó cũng chính là khát vọng của bao người đã ngã xuống, đó là mục tiêu mà để đạt được biết bao thế hệ đã nối tiếp nhau chiến đấu hy sinh. Đó cũng chính là quyết tâm sắt đá, là lời hứa thiêng liêng, là cam kết đầy trách nhiệm của Đảng bộ và nhân dân Tiên Phước với các Anh hùng Liệt sỹ và những thế hệ đi trước đã chiến đấu, hy sinh và với thế hệ con cháu mai sau.

Xin cảm ơn các đồng chí!

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 5

Kính thưa các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng,

Kính thưa các vị lão thành cách mạng,

Kính thưa các đại biểu thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước,

Kính thưa quý vị đại biểu và các vị khách quý,

Hôm nay, giữa lúc nhân dân cả nước đang hướng về Kỳ họp thứ nhất, Quốc Hội Khoá … đang diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam huyện Thăng Bình tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thương binh liệt sĩ – ngày mà cách đây 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào cả nước: “ Là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh” – lúc đầu gọi là “ Ngày thương binh toàn quốc”. Người từng căn dặn: “ Họ là những người đã hi sinh gia đình, hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào… vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

Từ năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi tên ngày “Thương binh toàn quốc” thành “Ngày thương binh liệt sĩ ” để thể hiện đầy đủ hơn tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với tất cả những người đã hi sinh xương máu của mình cho Tổ quốc.

Hằng năm, cứ đến ngày 27/7, nhân dân cả nước lại sôi nổi tổ chức kỷ niệm ngày thương binh – liệt sĩ và coi đó là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc… Trong giờ phút trang nghiêm và xúc động này, chúng ta kính cẩn tưởng nhớ các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của quê hương đã anh dũng hi sinh trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại “ Vì sự nghiệp độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người ”.

Cho phép tôi thay mặt Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam huyện Thăng Bình xin nhiệt liệt chào mừng và cảm ơn các Bà Mẹ VNAH, các đại biểu thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công, các vị lão thành cách mạng và người cao tuổi, quý vị đại biểu, các vị khách quý, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí và các em học sinh đã về dự buổi lễ kỷ niệm hôm nay.

Thưa các đồng chí,

Thưa toàn thể đồng bào,

Bác Hồ kính yêu từng nhắc nhở: “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta… Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh dũng cảm của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta”. Chỉ nói riêng về huyện ta, để đạt đến đỉnh cao của niềm tự hào hôm nay, quân và dân Thăng Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phải cống hiến đến tột cùng của sự hy sinh, mất mát. Hàng vạn sinh linh đã ngã xuống, biết bao tài sản quý giá về kinh tế, văn hóa đã bị chiến tranh tàn phá. Biết bao bà mẹ đã tiễn đến đứa con cuối cùng của mình lên đường đánh giặc và không bao giờ còn được gặp lại !… “Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng” – bạn bè năm châu đã nói về dân tộc ta như vậy. Tại mảnh đất Thăng Bình này, sự kiện anh hùng, hành động anh hùng, con người anh hùng được xem là lẽ sống của mọi người – lẽ sống đó là sự kết tinh của lòng yêu nước thương nòi, của ý chí quật cường, của tinh thần: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí!

Cách đây hơn 500 năm, Thăng Bình ngày ấy mang tên là huyện Lệ Giang thuộc phủ Thăng Hoa – là vùng đất mới được khai phá bằng cuộc di dân về phía Nam từ thế kỷ thứ 15. Từ đó cho đến nay nhân dân Thăng Bình đã bền bỉ đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sự khắc nghiệt của thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Quá khứ ấy chứng minh rằng nhân dân Thăng Bình có truyền thống cần cù, thông minh, hiếu học, sáng tạo trong lao động và dũng cảm đấu tranh chống mọi kẻ thù xâm lược.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, hưởng ứng lời kêu gọi của các bậc sĩ phu yêu nước, nhân dân Thăng Bình đã hòa nhập vào các phong trào cứu Quốc như phong trào Đông Du, Duy Tân… Đặc biệt trong thời kỳ này, nhiều người con của quê hương đã trở thành những nghĩa sĩ có tên tuổi trong phong trào Cần Vương như cụ Tiểu La – Nguyễn Thành, Nguyễn Uýnh…

Vào những năm 30 của thế kỷ 20, phong trào đấu tranh cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đã sớm đến với nhân dân Thăng Bình, nhiều tổ chức quần chúng được thành lập như: Hội ái hữu, Hội tương tế, Hội trợ tang, Nghĩa hòa tường… đã trở thành phong trào đều khắp.

Đầu năm 1940, để kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân trong huyện, các Chi bộ Đảng lần lượt ra đời như: Chi bộ Vân Nam, Tứ Xuyên, Phúc Kiến, Quảng Đông… cùng với cả tỉnh, cả nước lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng Tháng Tám thành công, đập tan sự thống trị của thực dân Pháp và chính quyền tay sai – Nhà nước Công Nông chính thức ra đời, ước vọng ngàn đời của nhân dân ta đã trở thành hiện thực.

Từ đó đến nay dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện, với tinh thần cách mạng tiến công: “Thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lớp lớp thanh niên, nông dân, trí thức… Thăng Bình lên đường ra trận cùng một lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Một thực tế diễn ra ở Thăng bình đã thành tính quy luật: Địch càng tăng cường đánh phá, ta càng chủ động tiến công. Một số trận đánh mãi mãi được ghi nhận như những nét son chói lọi trong lịch sử chiến đấu của quân và dân Thăng Bình… Nhiều em bé, cụ già, bà mẹ đã trở thành những chiến sĩ quả cảm trên các mặt trận, góp phần làm nên bài ca Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.

Trên thế giới chưa có cuộc chiến tranh nào tàn khốc và lâu dài như cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam. Chỉ tính riêng một huyện như huyện Thăng Bình của chúng ta, quân và dân địa phương đã đánh trên 3000 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 22.951 tên giặc, diệt 19.724 tên (trong đó có 333 tên Mỹ, 145 tên lính đánh thuê Triều Tiên) làm bị thương 3.227 tên, bắn rơi 56 máy bay các loại, phá hỏng 1143 xe quân sự của địch. Cuộc đấu tranh Hà Lam – Chợ Được và các cuộc đấu tranh chính trị của “Đội quân tóc dài” đã giáng cho địch những đòn thất điên bát đảo…

Với những thành tích đó, quân và dân Thăng Bình đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT, 17 xã và 01 đơn vị trong huyện được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT – Riêng xã bình Dương 03 lần được tuyên dương anh hùng. Những cá nhân anh hùng đã được Nhà nước phong tặng như: Đồng chí Đoàn Bường, Huỳnh Thị Nhuận, Trần Ngọc Thái, Trần Hớn, Phan Nhu, Nguyễn Văn Hiệu, Phan Tình, Hồ Quỳ,…; đặc biệt có 843 bà mẹ được Nhà Nước phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ VNAH.

Nhà văn Nguyên Ngọc – một người con của quê hương Thăng Bình từng viết: “Máu thắm đượm rãnh cày ta gieo hạt giống, máu thắm đượm mảnh sân con ta nô đùa ngày bé, máu thắm đượm bờ ao em ta ngồi giặt áo…; máu thắm đượm con đường nơi mẹ ta lau nước mắt ngày tiễn ta ra đi!” – Thật vậy, hậu quả của chiến tranh đối với Thăng Bình hết sức nặng nề, đã cướp đi 26.712 sinh mạng, 11.803 người bị thương; ba phần tư gia đình vườn không nhà trống, tám vạn người không có nhà ở, hơn sáu ngàn ha ruộng đất bị hoang hóa và đầy rẫy bom mìn, thép gai, mảnh đạn. Nhiều làng xã trong huyện đã thành vành đai trắng, đời sống của nhân dân gặp vô vàn khó khăn, nhất là các gia đình thuộc diện chính sách…

Từ những việc làm “Hiếu nghĩa bác ái” theo lời kêu gọi và theo gương Bác Hồ, kế thừa đạo lý truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ ở huyện ta đã phát triển toàn diện bằng nhiều hình thức, việc làm phong phú, góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội, làm đẹp thêm tình làng nghĩa xóm và đẩy mạnh nhiều mặt công tác ở địa phương, cơ sở. Nhất là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, nhiều hình thức, nhiều mô hình chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ xuất hiện và phát triển đều khắp, làm cho công tác thương binh – liệt sĩ đã và đang được xã hội hóa.

Trong suốt mấy chục năm qua, huyện ta đã xác nhận và đề nghị suy tôn 10.756 liệt sĩ với trên 10.000 thân nhân liệt sĩ, trong đó có 2310 người đang hưởng trợ cấp hằng tháng. Xác nhận 1600 thương binh bệnh binh các hạng, trong đó có 77 thương bệnh binh hạng 1/4; có 1240 người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp… Có thể nói đây là việc làm khá công phu cả về thời gian, công sức và trí tuệ. Hiện nay huyện Thăng Bình thực hiện chi trả hằng năm bình quân trên 16 tỉ đồng, trong đó ngân sách huyện tuy còn khó khăn nhưng vẫn dành hơn 1 tỉ đồng cho công tác thương binh, liệt sĩ.

Cùng với việc phát động phong trào “Toàn Đảng, toàn dân chấp hành chính sách”, huyện đã chủ trương xây dựng hàng trăm tổ gia đình chính sách liên cư liên địa, có nội dung sinh hoạt định kỳ, hàng năm bình chọn danh hiệu “Người công dân kiểu mẫu” và : “Gia đình cách mạng gương mẫu”, tổ chức trao tặng danh hiệu này vào dịp 27/7 – Phong trào trên đã lôi cuốn nhiều gia đình cùng thực hiện. Từ phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương thương binh tiêu biểu trong xây dựng “Gia đình văn hóa” và xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư.

Nhằm giúp những gia đình thương binh, liệt sĩ thực sự có nhu cầu về nhà ở, bằng nguồn lực của cả cộng đồng, huyện đã xây dựng được 493 ngôi nhà tình nghĩa, xóa được 880 ngôi nhà tạm cho các đối tượng chính sách, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp 463 ngôi nhà cấp 4, với tổng kinh phí 16 tỉ đồng.

Quê hương Thăng Bình là nơi diễn ra cuộc đấu tranh Hà Lam – Chợ Được ngay từ những ngày đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược – một trong những sự kiện lịch sử có ý nghĩa dân tộc rất lớn, thúc giục quân và dân miền Nam đứng lên chống lại bọn xâm lược Mỹ và chế độ độc tài, bù nhìn Ngô Đình Diệm. Để tưởng nhớ những đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh bất khuất ấy. Trung ương và tỉnh đã đầu tư 1,2 tỉ đồng để huyện xây dựng tượng đài Hà Lam – Chợ Được (công trình đã hoàn thành trong năm 1997). Tập thể cán bộ, giáo viên , công nhân viên chức và học sinh ngành giáo dục huyện Thăng Bình đóng góp kinh phí trên 100 triệu đồng cùng với ngân sách huyện xây dựng Nhà bia tưởng niệm đồng bào đã hy sinh tại Bàu Bàng xã Bình Phục – nơi khởi đầu cho cuộc đấu tranh Hà Lam – Chợ Được lịch sử.

Nhằm phục vụ cho việc giáo dục truyền thống yêu nước và tôn vinh công đức của các bậc tiền bối, năm 1998 cùng với sự hỗ trợ kinh phí của Tỉnh, huyện đã đầu tư hoàn thành công trình Lăng mộ chí sĩ yêu nước Tiểu La – Nguyễn Thành tại thôn Quý Thạnh xã Bình Quý (quê hương của cụ Tiểu La).

Trong lịch sử nhân loại, hiếm có một dân tộc nào mà hàng vạn bà mẹ đã cùng chồng, con hy sinh cho Tổ quốc như dân tộc Việt Nam. Sự cống hiến, hy sinh vĩ đại của các Mẹ trở thành biểu tượng cao quý của thời đại và của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Trong số trên 44 ngàn BMVNAH trong cả nước, Thăng Bình đã có tới 843 Mẹ (hiện còn sống 77 Mẹ), là một trong những huyện có số BMVNAH nhiều nhất của tỉnh Quảng Nam. Tất cả các Mẹ còn sống đều được các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh nhận phụng dưỡng suốt đời. Những mẹ liệt sĩ neo đơn, già yếu dược các Hội, đoàn thể địa phương nhận chăm sóc chu đáo cả về tinh thần và vật chất – Từ phong trào tự nguyện nhận làm “Con hiền dâu thảo

Advertisement

” của Hội LHPN xã Bình Minh, đến nay đã phát triển ra nhiều xã khác trong huyện.

Tất cả những việc làm nói trên, đều nhằm “Đền ơn đáp nghĩa” những người, những gia đình đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc; chăm sóc những người đã hoàn thành nghĩa vụ chiến đấu, lao động hoặc có sự đóng góp nhất định cho xã hội; quan tâm giúp đỡ các thành viên trong xã hội có nhiều khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống như: Trẻ mồ côi, người già cô đơn, người tàn tật không nơi nương tựa, nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam,… Đảm bảo một bước cho mọi người được “Yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”, như lời Bác Hồ kính yêu đã từng nhắc nhở.

Thành tích của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Thăng Bình đạt được trong suốt 32 năm qua về công tác thương binh – liệt sĩ là cả một sự nỗ lực rất lớn, vượt ra ngoài khả năng thực tế của huyện nhà. Tuy nhiên, hiện tại toàn huyện vẫn còn 33 hộ gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công thuộc diện nghèo. Vì vậy, cùng với việc tổ chức thực hiện quốc kế dân sinh, thay mặt lãnh đạo huyện tôi đề nghị các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội hãy phát huy hơn nữa trách nhiệm của mình đối với công tác thương binh – liệt sĩ; dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp đem lại hiệu quả thiết thực, nhằm làm cho công tác thương binh- liệt sĩ thực sự trở thành lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả những người đang sống. Nhân buổi lễ trọng thể này, tôi xin được thiết tha kêu gọi các đồng chí thương binh, bệnh binh, thân nhân các anh hùng liệt sĩ, những người có công với nước hãy phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào cách mạng tại địa phương, trong mọi lĩnh vực công tác, lao động và học tập, góp phần tích cực vào việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng vững mạnh, cùng với toàn huyện phấn đấu thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội!

Kính thưa đồng bào, đồng chí,

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ X, con đường cách mạng Việt Nam càng thêm rộng mở, mỗi người dân Thăng Bình đang chung sức, chung lòng, đem hết tài năng và trí tuệ đẩy mạnh tốc độ xây dựng và phát triển quê hương, làm rạng rỡ truyền thống anh hùng của một huyện anh hùng, cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi thời đại đều sinh ra một thế hệ, mỗi thế hệ đều có trách nhiệm, nghĩa vụ với Tổ quốc. Thế hệ đương thời không chỉ chăm lo công việc hiện tại, mà còn phải suy nghĩ và hành động theo gương những thế hệ đi trước, đồng thời bồi dưỡng cho thế hệ mai sau kế thừa xứng đáng sự nghiệp của cha anh. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng với truyền thống giàu lòng yêu nước, cần cù sáng tạo, nhân ái thủy chung, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ lập được nhiều thành tích hơn nữa để báo công với các anh hùng liệt sĩ trong những năm tới.

Tôi xin thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ, nhân dân huyện nhà xin hứa sẽ kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà các anh hùng, liệt sĩ đã chuyển giao và nguyện: “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ ”!

Xin mãi mãi biết ơn các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, kính chúc các Mẹ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ sức khỏe và hạnh phúc!

Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe quý vị đại biểu, toàn thể đồng bào, đồng chí cùng các em thiếu nhi, học sinh có mặt trong buổi lễ hôm nay.

Kính chào thân ái và quyết thắng.

Diễn văn kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7 – Mẫu 6

Kính thưa các đại biểu thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ,

Kính thưa quý vị đại biểu và các vị khách quý,

Kính thưa các đồng chí CBGVNV cùng các em học sinh thân mến!

Mỗi năm cứ đến ngày 27/7 thì Đảng, chính quyền và nhân dân cả nước lại cùng nhau tổ chức kỷ niệm ngày Thương binh – Liệt sĩ. Đây được xem là một sự kiện vô cùng quan trọng, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc. Hôm nay, được sự cho phép của chi bộ Đảng, HĐQT, trường XX tổ chức kỷ niệm XX năm ngày Thương binh Liệt sĩ.

Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được thay mặt Ban lãnh đạo trường XX gửi lời chào mừng thân ái và cảm ơn các đại biểu thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ, quý vị đại biểu, các đồng chí CBGVNV và các em học sinh đã về dự buổi lễ kỷ niệm hôm nay.

Kính thưa quý vị!

Về lịch sử ngày Thương binh – Liệt sĩ, tôi xin tóm tắt ngắn gọn như sau: Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền cùng một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Sau khi xem xét, các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27/7 là ngày “Thương binh toàn quốc”.

Từ năm 1955, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đổi tên ngày ”Thương binh toàn quốc” thành “Ngày thương binh liệt sĩ” nhằm thể hiện đầy đủ hơn tình cảm của Đảng, nhà nước cùng nhân dân đối với tất cả những người đã hy sinh xương máu của mình cho Tổ quốc.

Trong hơn XX năm qua, Đảng, nhà nước cùng nhân dân ta đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm đền ơn đáp nghĩa với các thương binh, thân nhân liệt sỹ, người có công với cách mạng. Và trong ngày hôm nay, trong giờ phút trang nghiêm, xúc động này, chúng ta kính cẩn tưởng nhớ đến các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của quê hương đã anh dũng hi sinh nơi chiến trường ”Vì sự nghiệp độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người”.

Kính thưa quý vị

Bác Hồ kính yêu của chính ta đã từng nhắc nhở: “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta… Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh dũng cảm của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta”. Chỉ nói riêng về địa phương ta, để có được sự giàu mạnh như hôm nay, quân và dân XX đã có nhiều cống hiến hy sinh, mất mát trong suốt 2 cuộc kháng chiến: chống Pháp và chống Mỹ. Đã có rất nhiều chiến sỹ và đồng bào ta ngã xuống, biết bao tài sản quý giá về kinh tế, văn hoá đã bị chiến tranh tàn phá một cách không thương tiếc. Biết bao bà mẹ đã tiễn đứa con duy nhất – tiễn đến đứa con cuối cùng của mình lên đường đánh giặc và không bao giờ còn được gặp lại dù chỉ một lần sau cuối. Là con em của mảnh đất XX, là người Việt Nam, chúng ta có quyền tự hào về những chiến công anh hùng, hành động anh hùng, con người anh hùng của quê hương XX đã không tiếc tuổi thanh xuân, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập – tự do của dân tộc.

Kính thư quý vị

Thưa toàn thể các đ/c CBGVNV!

Từ bao lâu nay, chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày 27/7 để tri ân các anh hùng liệt sĩ, những người có công với cách mạng và cũng là dịp để giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay, giáo dục học sinh trường ta về truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất của cha anh. Cũng giống như ”Uống nước phải biết nhớ nguồn, ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây”, đó chính là đạo lý cao đẹp mà biết bao thế hệ đã vun đắp.

Kính thưa toàn thể quý vị,

Thưa các đ/c CBGVNV và các em học sinh!

”Hiếu nghĩa bác ái” theo lời kêu gọi và theo gương Bác Hồ, kế thừa đạo lý truyền thống ”Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, phong trào chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ của trường ta diễn ra với rất nhiều các hình thức, việc làm phong phú, góp phần xoa dịu đi nỗi đau chiến tranh, động viên khuyến khích các gia đình thương binh liệt sĩ vươn lên trong giai đoạn mới, trong lao động sản xuất cũng như học tập chẳng hạn như: dâng hương tại nghĩa trang liệt sĩ, thăm và tặng quà gia đình thương binh – liệt sĩ, miễn giảm học phí cho con em thương binh – liệt sĩ, chất độc da cam, đóng góp vào quỹ đền ơn đáp nghĩa,… Tất cả những việc làm nói trên, đều vì mục đích ”Đền ơn đáp nghĩa” những người, những gia đình đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, đồng thời chăm sóc những người đã hoàn thành nghĩa vụ chiến đấu, lao động hoặc có sự đóng góp nhất định cho tổ quốc,…

Việc làm của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường những năm qua về công tác thương binh – liệt sĩ có thể nói là một sự nỗ lực rất lớn nhưng so với công lao của các thương binh – liệt sĩ thì vẫn thật là ít ỏi và khiêm tốn. Trong thời gian tới, thay mặt lãnh đạo nhà trường, tôi đề nghị các đoàn thể, các tổ chức cùng toàn thể CBGVNV và học sinh hãy phát huy hơn nữa trách nhiệm của mình đối với công tác thương binh – liệt sĩ; dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp mang lại hiệu quả thiết thực, nhằm làm cho công tác thương binh – liệt sĩ thật sự trở thành lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả những người đang sống. Nhân buổi lễ hôm nay, tôi xin được thiết tha kêu gọi các đồng chí thương binh, thân nhân thương binh liệt sĩ, hãy phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào tại địa phương, trong mọi lĩnh vực công tác, giảng dạy cũng như học tập, từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng quê hương đất nước, xây dựng nhà trường ta ngày càng vững mạnh!

Kính thưa các đ/c CBGVNV!

Các em học sinh thân mến!

Mỗi thời đại đều sinh ra một thế hệ, mỗi thế hệ đều có trách nhiệm, nghĩa vụ với Tổ quốc. Chính vì thế, thế hệ chúng ta hôm nay không chỉ chăm lo công việc hiện tại, mà cũng phải suy nghĩ và hành động theo gương những thế hệ đi trước, đồng thời bồi dưỡng cho thế hệ mai sau kế thừa xứng đáng sự nghiệp của cha anh. Tôi luôn tin tưởng chắc chắn rằng với truyền thống giàu lòng yêu nước, cần cù sáng tạo, nhân ái thủy chung, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ lập được thật nhiều thành tích hơn nữa để báo công với chủ tịch Hồ Chí Minh, với các anh hùng liệt sĩ trong năm học 201X- 201X và những năm tới.

Tôi cũng xin thay mặt toàn thể cán bộ GVNV và các em học sinh, xin hứa sẽ kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà các anh hùng, liệt sĩ đã chuyển giao và nguyện: ”Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ”!

Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe quý vị đại biểu!

Chúc cho các đồng chí cùng các em học sinh có mặt trong buổi lễ hôm nay những điều tốt đẹp nhất.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!

Bài phát biểu tri ân tại Lễ viếng Đài tưởng niệm các anh hùng Liệt sĩ

Kính thưa anh linh các anh hùng liệt sỹ!

Kính thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể các đồng chí!

Kính thưa anh linh các anh hùng liệt sỹ, thưa các đồng chí!

Kế thừa truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong các cuộc đấu tranh trường kỳ vô cùng gian khổ và ác liệt vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 85 năm qua. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ tổ quốc của dân tộc. Đất nước ta và nhân dân ta, đã phải trải qua biết bao gian khổ, đau thương mất mát. Hàng triệu người con ưu tú đã anh dũng hy sinh trên khắp các chiến trường. Hàng ngàn, hàng vạn các đồng chí thương binh, bệnh binh đã để lại một phần cơ thể nơi chiến trường để cho chúng ta có được sống trong độc lập, tự do, hoà bình và phát triển như ngày hôm nay.

Kính thưa các vị đại biểu, thưa các đồng chí!

Trên quê hương XX thân yêu của chúng ta đã sinh ra những người con đã chiến đấu, hy sinh khi Tổ quốc gọi tên mình. Và đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã làm cho nước Việt của chúng ta được nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Các anh đã ngã xuống trên đất mẹ, để lại biết bao tiếc thương cho những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ cùng những người con yêu dấu đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình dù chỉ một lần sau cuối. Sự hy sinh mất mát này là hết sức to lớn, là không gì bù đắp được. Nhưng chính sự hy sinh của các anh đã làm rạng rỡ quê hương đất nước, đã ươm những mầm xanh, những chồi non lộc biếc của hòa bình và khát vọng. Tinh thần của các anh sẽ luôn sống mãi với quê hương, sống mãi với tình yêu thương của đồng bào, đồng chí. Đó chính là sự trường tồn, bất diệt và cũng là chân lý, là lẽ sống, mà không thể bất cứ một thế lực nào có thể khuất phục được. Đảng bộ quân và dân huyện XX mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh to lớn đó.

Kính thưa anh linh các anh hùng liệt sỹ, thưa các đồng chí!

Công trình Đài tưởng niệm các liệt sỹ huyện XX được xây dựng từ năm XXXX. Và đây chính là nơi quy tụ hồn thiêng các anh hùng liệt sỹ của huyện còn nằm yên nghỉ ở các nghĩa trang trên cả nước, ở đó có mộ phần liệt sỹ đã ghi tên, có mộ phần liệt sỹ vẫn là vô danh, còn có cả những liệt sỹ vẫn nằm ở cánh rừng, lòng sông, con suối mà cho đến giờ những người còn sống vẫn đã và đang đi tìm….

Kính thưa toàn thể các đồng chí!

Ngày nay Tổ quốc ta đã hoàn toàn thống nhất, nhân dân ta đã hoàn toàn được tự do, chúng ta đang tập trung xây dựng đất nước phát triển và vững mạnh hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước….

Hôm nay đây, đứng trước anh linh các anh hùng liệt sỹ, thay mặt Huyện ủy – UBND – UBMTTQVN huyện xin hứa: Các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà luôn tự hào và nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, đồng thời phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, tiếp bước truyền thống vẻ vang của các lớp cha anh đi trước, vẫn sẽ tiếp tục chăm lo, thăm hỏi các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, giúp đỡ cũng như tạo điều kiện cho các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, các Mẹ Việt Nam anh hùng vượt lên trên khó khăn, mất mát, để cùng hòa nhập với cuộc sống, cùng nhau phát triển kinh tế, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn.

Bằng tất cả sự thành kính và tin tưởng, chúng ta nguyện cầu Anh linh các Anh hùng liệt sỹ phù trợ cho huyện XX có thêm sinh khí mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ huyện XX lần XX, nhiệm kỳ 201X – 20XX đã đề ra.

Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện nhà xin hứa: sẽ kế thừa, phát huy xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã chọn.

Xin đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ.

Xin kính chúc sức khỏe các vị đại biểu và các đồng chí.

Xin trân trọng cảm ơn.

6 Bài Viếng Nghĩa Trang Liệt Sỹ Nhân Ngày 27

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ ngày 27 – 7 (số 6)

Hỡi anh linh các Anh hùng liệt sĩ!

Thịt xương các anh kết thành khí thiêng sông núi,

Cho Bắc Nam sum họp một nhà.

Có những cái chết mãi thành bất tử

Chiến công này lịch sử dấu còn ghi

Hào khí non sông chung đúc thật diệu kỳ

Hỡi các chị, các anh

Trên chiến trường ngã xuống

Máu của anh chị, của chúng ta không uổng

Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam

Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa Ban lại trắng, vườn cam lại vàng…

Cho Điện Biên ngày nay yên ả thanh bình,

Mọc lên những phố phường phồn hoa đô hội,

Trong tình thương yêu của đồng bào các dân tộc,

Tạo nên bản anh hùng ca bất diệt.

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 5)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ ngày 27 – 7 (số 6)

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo.

Kính thưa quý vị đại biểu.

Thưa các bạn đoàn viên thanh niên thân mến.

Sáng nay trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động, đứng bên tượng đài Tổ quốc, trước những hàng bia mộ, và vong linh của các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta cùng tưởng nhớ đến công ơn của các thế hệ đi trước đã ngã xuống trên mãnh đất thương yêu này.

Trong những ngày tháng ba trọng đại này tuổi trẻ cả nước đang tích cực lập thành tích mừng sinh nhật lần thứ 75 của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và 31 năm ngày quê hương Bình Long hoàn toàn giải phóng với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng, lớp người trẻ hôm nay tìm hiểu và nhớ về quá khứ hào hùng của các thế hệ cha ông với lòng ngưỡng mộ và sự khâm phục, tri ân sâu sắc.

Tổ quốc Việt Nam đời đời ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống để dựng lên giang sơn gấm vóc. Chiến công của các anh là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng ta hôm nay ghi nhớ và học tập ,mãi mãi được ghi vào sử sách.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đồng chí thương binh, các gia đình có công với cách mạng, những Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Nguyện sẽ làm hết sức mình những gì có thể để đền đáp công ơn đối với những người đã không tiếc máu xương để hiến thân mình cho Tổ quốc.

Kính thưa quý vị đại biểu .

Chiến tranh đã đi qua, thời gian đã làm lành những vết thương trên da thịt, quá khứ của những tháng ngày lầm than của dân tộc nay đã nhường chổ cho niềm vui hạnh phúc .Nhưng trên mãnh đất này vẫn còn đó nỗi đau của những trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, của những người lính khi trở về đã để lại nơi chiến trường một phần cơ thể. Dấu ấn một thời oanh liệt vẩn còn in đâïm trong trí nhớ của mọi người, làm sao có thể kể hết được những chiến công hào hùng của các anh, các chị những người con thương yêu của dân tộc đã làm rạng danh đất mẹ Việt Nam.

Trước mưa bom bão đạn các anh chị đã chiến đấu kiên cường anh dũng sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh xứng danh là con Lạc cháu Hồng. Đất nước hòa bình, đồng đội, bạn bè của các anh chị đã trở về trong vòng tay yêu thương của người thân còn các anh đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ. Những người thương yêu đã không dược nhìn thấy anh trở về, nước mắt mẹ già không còn để khóc cho con trẻ.

Các anh nằm đó những hàng bia mộ thẳng tắp như hình ảnh của những đoàn quân ngày nào xung trận nhưng có biết bao người lịch sử vẫn chưa một lần được biết tên anh, trên tấm mộ bia này không có một tấm hình một dòng địa chỉ hay sự ghi nhận một chiến công? Những thế hệ trẻ ngày nay và mai sau của đất nước sẽ còn mãi ghi nhớ công lao của các anh như một cội nguồn của niềm tin và sức mạnh, để càng mến yêu và biết ơn đến sự hi sinh của các anh các chị.

Nhìn lại quá khứ, dòng chảy thời gian đã gắn kết các chặng đường lịch sử dân tộc ta đã phải trải qua hàng trăm năm chiến đấu đầy hy sinh gian khổ đã nhất tề đứng dậy chặt hết xích xiềng nô lệ để giành lại độc lập tự do cho Tổ Quốc, sự hy sinh và những chiến công oanh liệt của các anh mãi mãi là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam, mãi mãi được khắc ghi vào bia đá sử vàng và là điểm tựa vĩnh hằng cho thế hệ mai sau.

Hôm nay cũng tại nơi tôn nghiêm này, chúng ta long trọng tổ chức lễ kết nạp “Lớp đoàn viên 75 năm ngày thành lập Đoàn” các bạn trẻ sẽ cảm nhận được sự thiêng liêng và là dấu ấn khó quyên trong thời khắc ghi tên của mình vào hàng ngũ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trước vong linh của những anh hùng liệt sỹ chúng ta xin hứa sẽ sống cho xứng đáng là thế hệ thanh niên mang tên Bác Hồ kính yêu ,xứng đáng với sự hy sinh của bao chiến sỹ đồng bào.

Xin được thắp thêm một nén hương và đặt một nhành huệ trắng tỏ lòng tôn kính ,sưởi ấm mộ phần các anh hùng liệt sỹ, những người con kiên cường bất khuất đã làm rạng danh đất mẹ anh hùng. Tổ Quốc ta, nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sỹ nguyện bước tiếp con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, xứng đáng với sự hy sinh to lớn của các anh. Vinh quang đời đời thuộc về các anh hùng liệt sỹ, dòng chữ “Sống chiến đấu chết vinh quang” mãi tô hồng đài tưởng niệm hôm nay.

Xin kính cẩn nghiêng mình dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sỹ. Nhạc chiêu hồn và mùi trầm hương như đang làm ấm lòng các vong linh những người đã khuất.

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 5)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 4)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 5)

Kính thưa anh linh các anh hùng liệt sỹ!

Kính thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể các đồng chí!

Kính thưa anh linh các anh hùng liệt sỹ, thưa các đồng chí!

Kế thừa truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong các cuộc đấu tranh trường kỳ vô cùng gian khổ và ác liệt vì độc lập tư do, thống nhất Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 85 năm qua. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ tổ quốc của dân tộc. Đất nước ta và nhân dân ta, đã phải trải qua biết bao gian khổ, đau thương mất mát. Hàng triệu người con ưu tú đã anh dũng hy sinh trên khắp các chiến trường. Hàng ngàn, hàng vạn các đồng chí thương binh, bệnh binh đã để lại một phần cơ thể nơi chiến trường để cho chúng ta có được sống trong độc lập, tự do, hòa bình và phát triển như ngày hôm nay.

Kính thưa các vị đại biểu, thưa các đồng chí!

Trên quê hương XX thân yêu của chúng ta đã sinh ra những người con đã chiến đấu, hy sinh khi Tổ quốc gọi tên mình. Và đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã làm cho nước Việt của chúng ta được nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Các anh đã ngã xuống trên đất mẹ, để lại biết bao tiếc thương cho những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ cùng những người con yêu dấu đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình dù chỉ một lần sau cuối. Sự hy sinh mất mát này là hết sức to lớn, là không gì bù đắp được. Nhưng chính sự hy sinh của các anh đã làm rạng rỡ quê hương đất nước, đã ươm những mầm xanh, những chồi non lộc biếc của hòa bình và khát vọng. Tinh thần của các anh sẽ luôn sống mãi với quê hương, sống mãi với tình yêu thương của đồng bào, đồng chí. Đó chính là sự trường tồn, bất diệt và cũng là chân lý, là lẽ sống, mà không thể bất cứ một thế lực nào có thể khuất phục được. Đảng bộ quân và dân huyện XX mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh to lớn đó.

Công trình Đài tưởng niệm các liệt sỹ huyện XX được xây dựng từ năm XXXX. Và đây chính là nơi quy tụ hồn thiêng các anh hùng liệt sỹ của huyện còn nằm yên nghỉ ở các nghĩa trang trên cả nước, ở đó có mộ phần liệt sỹ đã ghi tên, có mộ phần liệt sỹ vẫn là vô danh, còn có cả những liệt sỹ vẫn nằm ở cánh rừng, lòng sông, con suối mà cho đến giờ những người còn sống vẫn đã và đang đi tìm….

Kính thưa toàn thể các đồng chí!

Ngày nay Tổ quốc ta đã hoàn toàn thống nhất, nhân dân ta đã hoàn toàn được tự do, chúng ta đang tập trung xây dựng đất nước phát triển và vững mạnh hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước…. Hôm nay đây, đứng trước anh linh các anh hùng liệt sỹ, thay mặt Huyện ủy – UBND – UBMTTQVN huyện xin hứa: Các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà luôn tự hào và nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, đồng thời phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, tiếp bước truyền thống vẻ vang của các lớp cha anh đi trước, vẫn sẽ tiếp tục chăm lo, thăm hỏi các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, giúp đỡ cũng như tạo điều kiện cho các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, các Mẹ Việt Nam anh hùng vượt lên trên khó khăn, mất mát, để cùng hòa nhập với cuộc sống, cùng nhau phát triển kinh tế, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn.

Bằng tất cả sự thành kính và tin tưởng, chúng ta nguyện cầu Anh linh các Anh hùng liệt sỹ phù trợ cho huyện XX có thêm sinh khí mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ huyện XX lần XX, nhiệm kỳ 201X – 20XX đã đề ra.

Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện nhà xin hứa: sẽ kế thừa, phát huy xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã chọn.

Xin đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ.

Xin kính chúc sức khỏe các vị đại biểu và các đồng chí.

Xin trân trọng cảm ơn.

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 3)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 4)

Kính thưa các hương hồn các anh hùng liệt sỹ!

Đất nước Việt Nam là đất nước của vùng tâm bão với lịch sử liên tiếp chống giặc ngoại xâm rất đỗi quật cường. Những con người Việt Nam đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép, sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình vì độc lập tự do cho tổ quốc. Cũng chính những con người ấy họ đã viết lên bản anh hùng ca chói lọi nhất trong lịch sử chống thực dân pháp và đế quốc Mĩ.

Rời vòng tay yêu thương của gia đình, các anh – những người chiến sĩ mang trên vai gánh nặng non sông, từ giã những người thân yêu nhất của mình để ra tiền tuyến, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết là vô cùng mong manh. Nhưng vượt lên tất cả, khi cuộc chiến không còn có thể nhân nhượng, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đứng lên.

Ngoài tiền tuyến, các anh đã chiến đấu không ngơi nghỉ, nhưng bên cạnh đó là những khoảng lặng không tên. Ở đó, các anh vốn là những người xa lạ, nhưng chẳng hẹn mà quen nhau, xem nhau như tri kỷ, vì các anh cùng chung cảnh ngộ và lý tưởng chiến đấu.

Tình đồng chí, đồng đội ở các anh thật cảm động biết bao, nét đẹp đó đã đi vào những câu thơ bất hủ trong bài “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu:

“Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Vẻ đẹp của các anh còn được thể hiện ở thái độ, tư thế hiên ngang trước sức mạnh của quân thù. Trong sâu thẳm trái tim người lính là lòng nhiệt tình cách mạng, ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường. Ở hậu phương, có bóng hình người mẹ, người vợ vẫn ngày ngày đợi chờ các anh, để rồi lại giấu nỗi đau vào tim khi được tin các anh mãi mãi không trở về.

Vẫn biết chiến tranh là có mất mát hy sinh, vết thương thịt da có thể lành lặn, nhưng vết thương trong lòng sẽ mãi còn với thời gian.

Giờ đây chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng mỗi tấc đất của quê hương đã chứa đựng tâm hồn và thể xác của các anh, để bây giờ chúng tôi, những người thanh niên Việt Nam được sống trong hòa bình, ấm no và hạnh phúc.

Các anh là những người hát bè trầm để đất nước vươn tới đỉnh bè cao. Một ngôi sao xa long lanh nước mắt, một nụ cưòi em nhỏ mới sinh, một sườn núi xanh, một nấm mồ năm trong bát ngát, em muốn biết tên anh người liệt sỹ vô danh đã làm nên tổ quốc. Mười nghìn bát hương, mười nghìn đồng đội còn mười nghìn nữa, 10 nghìn đồng đội nằm dải ở Trường Sơn, 10 nghìn đơn côi nằm trong cõi vắng, 10 nghìn khát vọng được về bên nhau. Vâng! các anh – những con người đã vì cuộc sống hoà bình, vì nụ cười của lớp trẻ thơ của chung ta hôm nay đã ngã xuống nơi đây để đất được hồi sinh, để dòng nước mát thêm ngọt lành.

Chúng em kính dâng lên các anh vòng hoa nghĩa tình tại nghĩa trang liệt sĩ trong buổi chiều 27 tháng 7 lộng gió, những ngọn nến lung linh sẽ được thắp lên, thể hiện lòng tri ân sâu sắc nhất của chúng tôi đến những người đã chiến đấu hết mình cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Ngày hôm nay được học tập vui chơi dưới bầu trời hoà bình, chúng cháu luôn nhắc nhở nhau phải biết ơn sự hy sinh của các bậc cha anh và luôn cố gắng phấn đấu tiếp bước cha anh rèn đức luyện tài, tu dưỡng mọi mặt luôn phấn đấu là con ngoan trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ, xứng đáng với sự hy sinh cảu các anh hùng liệt sỹ nơi đây.

Xin được kính cẩn nghiêng mình trước những linh hồn đời đời bất diệt mãi mãi vinh quang.

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 2)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 3)

Trong những ngày tháng ba trọng đại này tuổi trẻ cả nước đang tích cực lập thành tích mừng sinh nhật lần thứ 75 của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và XX năm ngày quê hương …hoàn toàn giải phóng với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng, lớp người trẻ hôm nay tìm hiểu và nhớ về quá khứ hào hùng của các thế hệ cha ông với lòng ngưỡng mộ và sự khâm phục, tri ân sâu sắc.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng tất cả chúng ta – những người dân Việt Nam không lúc nào nguôi ngoai những mất mát, những nỗi đau mà nó để lại. Những người con anh dũng của Tổ quốc, có người còn sống nhưng cũng có người đã nằm lại với đất mẹ thân yêu. Thế nhưng những chiến công và tên tuổi của các anh đã trở thành bất tử, khắc ghi vào lịch sử dân tộc và mãi mãi được thế hệ những người Việt Nam tưởng nhớ.

Trước mưa bom bão đạn các anh chị đã chiến đấu kiên cường anh dũng sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh xứng danh là con Lạc cháu Hồng.

Đất nước hòa bình, đồng đội, bạn bè của các anh chị đã trở về trong vòng tay yêu thương của người thân còn các anh đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ. Những người thương yêu đã không dược nhìn thấây anh trở về, nước mắt mẹ già không còn để khóc cho con trẻ.

Hôm nay cũng tại nơi tôn nghiêm này, chúng ta long trọng tổ chức lễ kết nạp “Lớp đoàn viên XX năm ngày thành lập Đoàn” các bạn trẻ sẽ cảm nhận được sự thiêng liêng và là dấu ấn khó quyên trong thời khắc ghi tên của mình vào hàng ngũ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trước vong linh của những anh hùng liệt sỹ chúng ta xin hứa sẽ sống cho xứng đáng là thế hệ thanh niên mang tên Bác Hồ kính yêu, xứng đáng với sự hy sinh của bao chiến sỹ đồng bào.

Bằng hết tâm, hết sức, mỗi người dân Việt hãy chung lòng cùng Đảng, Nhà nước, góp phần dựng xây đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong mỏi và lớp lớp cha anh đã chiến đấu, hy sinh vì giống nòi dân tộc. Đối với mỗi thương binh đều luôn khắc ghi lời Bác, “tàn nhưng không phế”, luôn là tấm gương sáng, giáo dục thế hệ đi sau gắng sức học tập, công tác và mỗi anh linh liệt sĩ vẫn dõi theo và phù giúp cho tiền đồ dân tộc.

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 2)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 1)

Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 (số 2)

Kính thưa hương hồn các anh hùng liệt sỹ!

Đại thắng mùa xuân lịch sử năm 1975 đã khẳng định sức mạnh đại đoàn kết của nhân dân Việt Nam trước thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa Dân tộc Việt Nam từ đêm trường đau thương nô lệ tiến lên giải phóng nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Đất nước, giang sơn Tổ quốc được thu về một mối, đất nước hoà bình thống nhất và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trải qua hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu cả dân tộc Việt Nam đã ra trận, hàng triệu người con tuổi trẻ ưu tú khắp mọi miền của Tổ quốc đã cùng chung một chiến hào đánh Pháp đuổi Mỹ cứu nước vì một chân lý “Độc lập tự do” cho dân tộc. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là bản anh hùng ca bất diệt, ghi vào lịch sử của dân tộc bằng những trang vàng chói lọi, làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Suốt 56 ngày đêm bền bỉ và anh dũng chiến đấu, Bộ đội ta đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng sự đóng góp, hi sinh của các anh hùng liệt sỹ sẽ mãi mãi ghi vào trang sử oanh liệt của dân tộc ta, của quân đội ta như một bài ca bất diệt…Khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, cả nước lại cùng miền Nam gồng mình để chống lại sự hung ác, bạo tàn của đế quốc Mỹ.

Chúng ta dễ đâu quên được một miền Nam “Thủy chung son sắt”, “Một miền Nam gan góc dạn dày”

Thưa các đồng chí và các bạn!

Cùng với khí thế của cả dân tộc ra trận, những người con …. đã phát huy truyền thống anh dũng của quê hương văn hiến giàu truyền thống cách mạng luôn sẵn sàng xung phong lên đường tham gia chiến đấu bảo vệ non sông thống nhất Đất nước. Trong suốt chặng đường dài của cuộc kháng chiến đánh Pháp, chống Mỹ, có biết bao người con của đất …, nhất là tuổi trẻ …đã không tiếc máu xương, tuổi xuân của mình để góp phần vào đài hoa chiến thắng của dân tộc, những bông hoa đẹp nhất giữa mọi thời đại.

Các anh, các chị có những người đã về yên nghỉ trên mảnh đất quê hương và còn có biết bao anh hùng liệt sỹ đang yên nghỉ trên khắp mọi miền tổ quốc, đó là một chứng tích lịch sử ghi lại tội ác “Trời không dung, đất không tha” mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng bè lũ bán nước đã gây ra đối với nhân dân ta. Những cống hiến lớn lao và sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sỹ thể hiện sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh vì độc lập tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội.

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” trong chương trình tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, tri ân các anh hùng liệt sỹ của Tuổi trẻ… nhân kỷ niệm XX năm ngày Thương binh liệt sỹ, tuổi trẻ… cùng với các tổ chức, các ban, ngành đoàn thể, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tổ chức trao trên … (nêu các hoạt động ý nghĩa) tổ chức hoạt động “Thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sỹ” vào tối ngày 26/7.

Kính thưa các đồng chí và các bạn!

Với những quyết tâm đổi mới đưa quê hương đất nước ngày càng phát triển theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Hôm nay, nhân dịp kỷ niệm 62 năm ngày Thương binh liệt sỹ tuổi trẻ tỉnh nhà đã hội tụ về đây để kính dâng những ngọn nến, hương, hoa đến với âm linh các anh hùng liệt sỹ, thể hiện sự tri ân sâu sắc các thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương, tuổi xuân dâng trọn đời mình cho độc lập tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân và tuổi trẻ hôm nay. Đây là dịp để chúng ta tự nghĩ về trách nhiệm của mình với quê hương đất nước, để mỗi bạn trẻ chúng ta biết vượt lên chính mình hãy làm một việc thiết thực nhất cho bản thân và cho quê hương đất nước để góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, hoà bình mà các thế hệ cha anh trước lúc hy sinh luôn hằng mong ước.

Kính thưa các anh hùng liệt sỹ!

Trước anh linh các anh hùng liệt sỹ chúng tôi xin được kính cẩn nghiêng mình để tưởng nhớ linh hồn các bậc tiền bối, anh hùng liệt sỹ, những người con ưu tú đã anh dũng ngã xuống, đánh đổi xương máu và để lại một phần thân thể của mình trên chiến trường cho nền độc lập, tự do và sự thống nhất của Tổ quốc ngày hôm nay.

Những nén nhang, những bông hoa của chúng tôi đem về đây đặt trên đài tưởng niệm của các anh, các chị thể hiện lòng biết ơn vô hạn của thế hệ trẻ hôm nay với những người con bất tử, đã hi sinh cho Tổ quốc, chính các anh, các chị đã viết nên những trang sử vàng chói lọi, soi đường cho thế hệ trẻ chúng tôi tiếp bước theo sau. Máu đào của các anh, các chị đổ xuống đã nhuộm đỏ thêm màu cờ Tổ quốc, làm xanh thêm những mảnh đất quê hương, vinh quang ấy thuộc về các anh các chị, các anh hùng liệt sỹ. Xin nguyện đem hết trái tim này để dũng cảm hi sinh cho Tổ Quốc, với tình yêu quê hương cháy bỏng trong mình. Tuổi trẻ… sẽ đem hết sức trẻ trí tuệ của mình để phụng sự cho đất nước, cho nhân dân. Tuổi trẻ…sẽ không sống cho riêng mình mà cống hiến tất cả cùng chung vì nhân loại. Để hoà bình mà các anh đã giành được, sẽ làm hoà bình mãi mãi cho con cháu mai sau… (Xin nguyện chung sức chung lòng tiếp tục truyền thống vinh quang của các anh các chị, nguyện trung thành với lý tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, mãi mãi đi theo con đường của Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn, nguyện đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn gian khổ, ra sức thi đua “Rèn đức, luyện tài”, xung kích tình nguyện xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc và nhân dân cần).

Trong giờ phút thiêng liêng và xúc động này, tuổi trẻ … nguyện phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của thế hệ cha anh đi trước, nguyện ra sức thi đua học tập, rèn luyện, lao động sản xuất, phát huy tinh thần trí thức, sáng tạo của tuổi trẻ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xung kích tình nguyện xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần công sức của mình thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp văn minh.

Để tưởng nhớ tới các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, đề nghị các đồng chí để một phút tưởng niệm. Phút tưởng niệm bắt đầu.

Đăng bởi: Hòa Nguyễn

Từ khoá: 6 Bài viếng nghĩa trang liệt sỹ nhân ngày 27-7 hay và ý nghĩa nhất

Diễn Văn Khai Mạc Văn Nghệ Ngày 26/3 (3 Mẫu) Bài Phát Biểu Khai Mạc Văn Nghệ Ngày 26/3

Kính thưa các quý vị đại biểu, khách quý! Thưa toàn thể các đồng chí!

Trong không khí náo nức thi đua sôi nổi của tuổi trẻ cả nước lập nhiều thành tích chào mừng ngày thành lập Đoàn 26/3. Tuổi trẻ xã ………. cũng góp 1 phần mình vào công cuộc chung đó. Ngày hôm nay chúng ta có mặt ở đây để cùng nói lời chúc mừng Đoàn ta ….. mùa hoa

Kính thưa các quý vị đại biểu, khách quý! Thưa toàn thể các đồng chí!

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên. Ngay sau khi ra đời, Đảng ta đã quyết định thành lập Đoàn thanh niên cộng sản, một đoàn thể riêng của thanh niên cách mạng – do Đảng trực tiếp lãnh đạo – để tập hợp, đoàn kết, giáo dục thanh niên theo lý tưởng cách mạng của Đảng. Ngày 26-03-1931 Đoàn thanh niên cộng sản chính thức thành lập, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong phong trào thanh niên nước ta. Từ đó đến nay Đoàn đã nhiều lần thay đổi cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng thời kì cách mạng

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước được độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, tổ chức Đoàn thanh niên trong cả nước đã thống nhất, mang tên là Đoàn thanh niên Lao động Hồ Chí Minh và ngày nay là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với Đoàn và thế hệ trẻ nước ta. Nó không chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên thiết tha mong muốn nước nhà thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mà còn đem lại cho Đoàn một sức chiến đấu mới, cho thế hệ trẻ cả nước một niềm tin tưởng, phấn khởi

Tuy nhiều lần đổi tên, nhưng mục đích lý tưởng, vai trò, vị trí của Đoàn không bao giờ thay đổi: Đoàn thanh niên vẫn luôn luôn là một tổ chức thanh niên cộng sản, do Đảng ta và Bác Hồ kính yêu trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; chiến đấu cho lý tưởng độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; là cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng; là đội quân xung kích của cách mạng; là đội tiên phong chiến đấu, là trường học cộng sản chủ nghĩa, là người đại diện cho lợi ích và quyền làm chủ tập thể của thanh niên Việt Nam

Được Đảng và Bác Hồ kính yêu quan tâm, chăm sóc, tổ chức Đoàn đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Khi mới thành lập, Đoàn chỉ có một nhóm gồm 8 đoàn viên, ngày nay Đoàn đã phát triển rất rộng rãi, có tổ chức cơ sở ở khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, tập hợp trong đội ngũ của mình trên 4 triệu đoàn viên thanh niên trong cả nước

Ngót nửa thế kỉ qua, lớp lớp đoàn viên của đoàn đã kế tiếp nhau chiến đấu dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Đảng và Bác Hồ kính yêu; đã lập nên những thành tích to lớn, có những cống hiến xuất sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng 8; của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với những thành tích to lớn và những cống hiến xuất sắc đó, tháng 2 năm 1974 Quốc hội và chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã quyết định tặng phong trào thanh niên và Đoàn thanh niên lao động Hồ chí Minh huân chương Hồ Chí Minh hạng II

Đoàn cũng đã làm tốt nhiệm vụ được Đảng giao cho là trực tiếp tổ chức và phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và Đội nhi đồng Hồ Chí Minh, giáo dục, bồi dưỡng các em trở thành lớp người mới, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đoàn đã xác định các em thiếu niên và nhi đồng không những là lớp người công dân tương lai đầy triển vọng của Tổ quốc mà còn là lực lượng hậu bị hùng hậu của đoàn. Đoàn luôn luôn chăm lo xây dựng tổ chức đội thiếu niên và chăm sóc các em nhi đồng, để thu hút được hầu hết các em vào Đội, giáo dục bồi dưỡng các em trở thành đoàn viên khi hết tuổi Đội

Một là: Truyền thống tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng của giai cấp công nhân, một lòng một dạ tiến theo Đảng làm cách mạng đến cùng

Hai là: Truyền thống của một đội quân xung kích cách mạng, dám lăn mình vào những nơi khó khăn gian khổ nhất, kiên quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng

Ba là: Truyền thống đoàn kết thanh niên và giáo dục rèn luyện đoàn viên thanh niên, đội viên thiếu niên và nhi đồng trở thành lớp người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng

Tiêu biểu cho những truyền thống cách mạng vẻ vang đó là: Lí Tự Trọng, Ngô Mây, Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Cù Chính Lan, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân và các anh hùng trẻ tuổi khác

Vinh dự cho thế hệ trẻ Việt Nam, Đoàn ta được Đảng tổ chức giáo dục và lãnh đạo, đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng, xứng đáng với lời nhận xét của Ban chấp hành trung ương Đảng

“Tổ quốc ta, nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào về Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh và thế hệ trẻ nước ta”

Để mãi mãi xứng đáng là niềm tự hào của Tổ quốc, của nhân dân và của Đảng, trong giai đoạn cách mạng mới này, đoàn viên và thanh niên cả nước đang phấn đấu làm theo lời dạy của Đảng: “Biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc – Làm lực lượng xung kích trong 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kĩ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá, để góp phần tích cực xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta”

Và hôm nay để ôn lại những truyền thống vẻ vang của đoàn ta, để góp phần đưa phong trào đoàn xã Phiêng Côn ngày càng phát triển. Hôm nay tôi xin trịnh trọng tuyên bố khai mạc đêm giao lưu văn nghệ xã …….. chào mừng ….. năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Xin trân trọng cảm ơn!

Kính thưa quý vị đại biểu.

Kính thưa quý vị đại biểu.

Các em học sinh yêu quý: thầy cô trong trường sẽ phấn đấu duy trì tốt công tác dạy và học cùng xen kẽ các phong trào thi đua trong đó có phong trào VH-VN-TDTT theo từng chủ điểm các ngày lễ lớn như hôm nay sẽ được nhân rộng thành phong trào thi đua thường xuyên trong năm học. Và chính từ những hội diễn như đêm nay thầy mong rằng bên cạnh việc múa đẹp, hát hay, nhiệm vụ chính của các em còn phải học tập giỏi, ngoan, lễ phép và không ngừng rèn luyện thân thể. Đó chính là món quà quý dâng tặng ba – mẹ, thầy cô giáo.

Với những lời tâm sự như trên, trước khi bước vào buổi biểu diễn văn nghệ, thầy mong rằng các em hãy cố gắng giữ được bình tĩnh, bằng năng khiếu, chất giọng vốn có của mình kết hợp những điều thầy cô đã dày công luyện tập sẽ giúp các em tự tin, biểu diễn xuất sắc, các tiết mục biểu diễn sẽ đạt hiệu quả cao.

Có được kinh phí tổ chức cho hội diễn văn nghệ hôm nay, nhà trường xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ của BĐD cha mẹ học sinh nhà trường có nguồn kinh phí hỗ trợ cho các tiết mục văn nghệ.

Kính chúc quý vị khách quý, quý phụ huynh, quý thầy cô, các em học sinh dồi dào sức khỏe, chúc cho đêm diễn thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng kính chào!

Kính thưa quý vị đại biểu, kính thưa quý bậc phụ huynh.

Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh thân mến.

Hoà chung trong không khí thi đua sôi nổi của tuổi trẻ cả nước đang ra sức lập thành tích chào mừng kỷ niệm … năm ngày thành lập đoàn TNCS HCM và hưởng ứng Tháng Thanh niên Việt Nam năm 20…

… năm qua là chặng đường lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Ra đời và trưởng thành qua các giai đoạn thăng trầm của cách mạng, được Đảng và Bác Hồ kính yêu trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã động viên lớp lớp các thế hệ trẻ Việt Nam không ngại gian khổ, hy sinh cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng, bồi đắp nên truyền thống vẻ vang của Đoàn và của Tuổi Trẻ. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó sống còn với lợi ích dân tộc, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; truyền thống xung kích cách mạng, xung phong tình nguyện; truyền thống hiếu học, ham tìm tòi hiểu biết; truyền thống đoàn kết nhất trí, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Trách nhiệm của chúng ta là phải viết tiếp trang sử vẻ vang ấy bằng tất cả tình cảm và trách nhiệm của thế hệ trẻ với việc trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống của Đoàn thanh niên và lớp lớp thanh niên Việt Nam.

Kính thưa quý vị đại biểu, quý bậc phụ huynh, quý thầy cô giáo và các em học sinh yêu quý!

Đêm văn nghệ chào mừng kỷ niệm … năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931- 26/3/20…) xin phép được bắt đầu.

Bài Văn Mẫu Lớp 7: Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi Những Bài Văn Mẫu Lớp 7 Hay Nhất

Tài liệu bao gồm dàn ý chi tiết kèm theo 2 bài văn mẫu phân tích bài thơ Bài ca Côn Sơn. Hy vọng tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh tham khảo và đạt hiệu quả tốt khi làm bài văn, tránh lạc đề và xây dựng được ý tưởng hay khi viết bài.

Dàn ý phân tích bài thơ Bài ca Côn Sơn

1. Mở bài

– Giới thiệu về “ Bài ca Côn Sơn”: Bài ca Côn Sơn thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu sắc và mãnh liệt của thi sĩ Nguyễn Trãi.

2. Thân bài

– Bức tranh thiên nhiên hiện lên sống động với âm thanh của tiếng suối mà tác giả liên tưởng tới tiếng đàn cầm du dương.

– Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn còn có hình ảnh hết sức chân thực như phiến đá.

– Nhà thơ đắm mình vào thiên nhiên, thả hồn vào cảnh vật nơi núi rừng để tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn.

– Nghệ thuật: Ngòi bút miêu tả tài hoa, những hình ảnh so sánh độc đáo, nhịp thơ đa dạng.

– Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên sâu sắc và mãnh liệt của tác giả. Cảnh và người hòa quyện tạo nên một bức tranh Côn Sơn thật đẹp. Thi sĩ tìm về với thiên nhiên chính là để tìm sự bình yên trong tâm hồn.

3. Kết bài

– Nêu cảm nghĩ về bài thơ: “ Bài ca Côn Sơn” là một bài thơ hay và đặc sắc. Tình yêu thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh cao, tâm hồn nghệ sĩ của Ức Trai.

Phân tích bài thơ Bài ca Côn Sơn – Mẫu 1

Từ xưa đến nay, đề tài thiên nhiên trong thơ ca cổ thường rất phong phú. Các nhà thơ Việt Nam thời trung đại đã viết nhiều áng thơ hay về vẻ đẹp của quê hương, trong đó có Nguyễn Trãi, nhà thơ tài hoa, cũng là vị anh hùng xuất sắc của dân tộc ta, đã sáng tác “Bài Ca Côn Sơn” trong những ngày ông về ở ẩn nơi quê nhà. Bài thơ vửa khắc họa cảnh thiên nhiên yên tĩnh, trong lành, vừa bộc lộ những cảm xúc đẹp của thi sĩ khi ngắm nhìn rừng núi quê hương:

Bài thơ vốn được viết bằng chữ Hán nhưng đã được dịch ra tiếng Việt với thể thơ lục bát du dương, uyển chuyển. Bản dịch được đánh giá là hay, thể hiện đầy đủ xúc cảm của nguyên tác. Mở đầu bức tranh Côn Sơn là một âm thanh êm đềm:

Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên trước hết bằng thị giác, và từ đó, đối tượng trữ tình là phong cảnh Côn Sơn hiện ra rất tao nhã, yên tĩnh. Âm thanh tiếng suối của thiên nhiên được so sánh với “tiếng đàn cầm bên tai”. Tiếng đàn thánh thót thường thể hiện cảm xúc và tâm trạng của người nghệ sĩ. Còn tiếng suối kia, phải chăng là tiếng của núi rừng êm êm tâm tình cùng người thi sĩ? Tả tiếng suối bằng tiếng đàn là một cách miêu tả thật độc đáo, ta có cảm giác như nhân vật trữ tình đang say sưa thưởng thức âm thanh đó như thưởng thức nghệ thuật tuyệt đỉnh của mẹ thiên nhiên. Về sau này, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có lần tả “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”, cũng là so sánh một âm thanh của tự nhiên với một âm thanh du dương do con người tạo ra. Hai nhà thơ ở hai thời đại khác nhau đều gặp gỡ ở tình yêu thiên nhiên tha thiết, nhưng tiếng suối – đàn cầm của Nguyễn Trãi thì đẹp một cách cổ điển, còn tiếng suối – tiếng hát của Hồ Chí Minh thì đẹp hiện đại, lấp lánh trẻ trung…

Thế đấy, nhà thơ tả tiếng suối để khắc họa không gian yên tĩnh, đây là nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Và giữa không gian ấy là hình ảnh:

Nhà thơ tả “đá” mới thật độc đáo làm sao: Ông cảm nhận đá qua màu rêu đã phơi nắng phơi mưa qua bao ngày bao tháng. Hình ảnh ấy khiến người đọc có cảm giác rằng đá Côn Sơn đã bao lâu “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Có lẽ nó mang trong mình chiều dài năm tháng và bề dày của những trang lịch sử, là hình ảnh của một thiên nhiên lâu đời, nguyên thủy mà nhà thơ mến yêu và gắn bó. Chính vì vậy, Nguyễn Trãi “ngồi trên đá như ngồi chiếu êm”. Lại là nghệ thuật so sánh rất đặc sắc, đưa thiên nhiên trở nên gần gũi vô cùng. Côn Sơn như ngôi nhà lớn, mà thảm rêu phơi kia đã trở thành chiếu êm của con người, giúp cho nhân vật trữ tình thảnh thơi ngồi nghỉ, để viết lên những vần thơ hay, êm êm như cảnh Côn Sơn.

Côn Sơn còn có những rừng thông tươi xanh bốn mùa, để nhà thơ hòa mình sảng khoái:

Người xưa thường yêu thông, vì nó là loài cây không sợ sương tuyết, cứ xanh tươi và mọc thẳng bất chấp phong ba. Hình ảnh rừng thông khiến cho cảnh Côn Sơn trở nên hùng tráng, với cách so sánh giản dị “thông mọc như nêm”. Cánh rừng thông ấy không bao giờ gục ngã trong bão gió, đây là nét đẹp của sức sống, của niềm tin. Phải chăng ẩn ý của nhà thơ là như vậy? Rồi, con người xuất hiện dưới bóng mát rừng thông, trong một hành động thể hiện tâm thế thoải mái, thân thuộc là “ta lên ta nằm”. Rừng và thi nhân hài hòa trong một mối gắn bó mật thiết, bóng thông mát rượi che cho nhà thơ say giấc nồng ban trưa. Người đọc như cảm nhận được một tâm hồn dạt dào thi hứng và yêu mến thiên nhiên quê hương của Nguyễn Trãi.

Côn Sơn không phải chỉ có thông reo, mà còn có rừng trúc tươi đẹp, hiền hòa, làm say đắm cả lòng người:

Cây trúc là loài cây đặc trưng của nhiều vùng quê Việt Nam. Có lẽ ở Côn Sơn thì trúc mọc thành rừng, nên nhà thơ dùng những cụm từ gợi tả như: “trúc râm”, “màu xanh mát” để vẽ lên cảnh đẹp. Trúc tượng trưng cho người quân tử trong thơ ca cổ, và cũng gợi lên những ý nghĩa tốt lành nhất. Nhà thơ Nguyễn Khuyến khi viết về quê ông, vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng điểm xuyết và hình bóng tương đẹp của trúc: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Trở về với Nguyễn Trãi, dưới bóng trúc, nhà thơ “ngâm thơ nhàn” thì thật là thú vui thanh cao, nguồn tưới tươi mát cho tâm hồn con người. Giọng ngâm thơ sang sảng khiến cho rừng trúc càng xanh, càng đẹp!

Bút pháp miêu tả bức tranh Côn Sơn của Nguyễn Trãi thật tài tình: hình ảnh thơ tươi đẹp, liên tưởng thú vị độc đáo, hình ảnh thiên nhiên và con người sóng đôi một cách tự nhiên… Từ đó, ta thấy được sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, và nhân cách thanh cao, ung dung của nhà thơ tòa sáng trên từng câu chữ. “Bài ca Côn Sơn” không phải chỉ là một bức tranh đẹp, nó quả thật còn là một bản nhạc về tình yêu thiên nhiên và niềm hạnh phúc khi được ngắm nhìn vẻ đẹp thiên nhiên quê hương của nhà thơ.

Phân tích bài thơ Bài ca Côn Sơn – Mẫu 2

Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: Suối là đàn, rêu là chiếu, bóng thông làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi nhà thiên nhiên ấy, ông để tâm hồn mình giao hòa với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn bút tài hoa.

Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong thời kì ông cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn được thanh cao, trong sạch.

Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là một miền đất có sức hút kì lạ. Chẳng thế mà hai lần cáo quan về ở ẩn, ông đều tìm về với Côn Sơn. Và núi rừng Côn Sơn thanh vắng đã trở thành một thế giới riêng đầy thân thương gắn bó với thi nhân. Tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi được sống với chính mình. Dường như thiên nhiên đã trở thành cứu cánh cho tâm hồn ông- một tâm hồn đớn đau vì nhân tình thế thái. Tại Côn Sơn, mọi vật đối với ông trở nên có tình, có nghĩa, như bầu bạn, như tri âm:

Cảnh trí Côn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùa vào đó mà quên đi mọi nỗi ưu phiền:

Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn thi sĩ của Ức Trai. Trong cảm xúc của ông, cảnh trí Côn Sơn hiện ra thật thơ mộng và lãng mạn: Có tiếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thông mọc rậm, dày, có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc sống đầy ắp tình người. Hơn nữa, trong con mắt thi nhân, thiên nhiên không chỉ là cảnh, mà đã trở thành nhà. Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: Suối là đàn, rêu là chiếu, bóng thông làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi nhà thiên nhiên ấy, ông để tâm hồn mình giao hòa với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn bút tài hoa.

Advertisement

Bức tranh thiên nhiên được chấm phá bằng âm thanh rì rầm của tiếng suối được cảm nhận như tiếng đàn:

Một hình ảnh so sánh thật độc đáo và gợi cảm. Suối đang chảy hay thi nhân đã thả hồn mình vào tiếng suối, làm rung lên cung đàn diễn tả nỗi khát khao yêu cuộc sống?

Năm trăm năm sau, thi sĩ Hồ Chí Minh cũng có chung cảm nhận ấy:

Sau những giây phút thả hồn mình cùng tiếng suối, thi nhân lặng đến ngồi bên những phiến đá mà thời gian đã rêu phong bao phủ. Ông ngồi chơi ngắm cảnh, hay ngồi đánh cờ một mình? Có lẽ là cả hai. Trên nhân gian này, không ít người đã từng ngồi trên đá, nhưng làm sao họ cảm nhận được như thi nhân?

Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Và trong ngôi nhà ấy, ông không những được tha hồ nghe nhạc rừng, ngồi trên đá đánh cờ, mà còn được nằm dưới bóng thông râm mát, được ngâm thơ nhàn dưới bóng trúc xanh. Một cuộc sống mà người và cảnh gắn bó với nhau, hòa nhập vào nhau. Lòng Ức Trai thanh thản đến lạ kì.

Chưa bao giờ mà tâm hồn thi sĩ của Ức Trai lại được bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và đầm thắm đến thế!

Cũng tại Côn Sơn này, hồn thơ Ức Trai còn tiếp tục rộng mở để đón nhận thiên nhiên, chở thiên nhiên về chất đầy kho:

Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà không dám quét nhà:

Nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ của nguyễn Trãi thực sự là tấm gương sáng để ta soi vào.

10 Bài Văn Chứng Minh Câu Tục Ngữ “Đi Một Ngày Đàng, Học Một Sàng Khôn” (Lớp 7) Hay Nhất

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 8

Tri thức của loài người là đại dương mênh mông rộng lớn, muốn tiếp thu được khối lượng tri thức khổng lồ ấy không cách gì tốt hơn đó chính là học. Trong cuộc sống mỗi người không chỉ học trên sách vở, học lý thuyết mà cần học rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày từ những điều nhỏ nhặt, học từ những chuyến đi trải nghiệm mới có thể trưởng thành và hiểu biết về mọi thứ. Cũng bởi vậy mà ông cha ta có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

Để hiểu được ý nghĩa của câu tục ngữ, trước hết chúng ta phải hiểu nghĩa đen của câu, “đi” là hoạt động di chuyển, “một đàng” tức là đi xa, đến một địa phương, một làng khác, “một sàng khôn” tức là học hỏi được những điều mới, có thêm nhiều hiểu biết, biết thêm những kinh nghiệm, trưởng thành hơn, khôn hơn. Câu tục ngữ ý muốn nhấn mạnh một ngày đi ra ngoài chúng ta sẽ học được thêm nhiều điều mới lạ, có nhiều kiến thức mới, văn hóa mới, cách ứng xử, giao tiếp… và chính những điều học hỏi đó sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn. Nếu chỉ biết ở nhà thì tự gò bó, tự thu hẹp bản thân mình lại. Bởi vậy. Câu tục ngữ khuyên chúng ta nên bước ra thế giới bên ngoài để trau dồi cho mình thêm những kiến thức bổ ích cho bản thân.

Câu tục ngữ “Đi một đàng học một sàng khôn” được vận dụng nhiều trong thực tế như hàng năm nước ta có nhiều đợt phân chia các cán bộ, các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực sang các nước tiên tiến học hỏi khoa học kĩ thuật về ứng dụng trong nước. Cuối năm học, nhà trường thường hay tổ chức các buổi tham quan dã ngoại, đến các khu di tích lịch sử, viện bảo tàng, viện nghiên cứu để củng cố kiến thức thực tế cho học sinh, hay để nâng cao khả năng thực hành bên cạnh những lý thuyết được học ở trường.

Hay những đợt nghỉ hè, phụ huynh hay tạo điều kiện đưa con em đi du lịch để khám phá và được trải nghiệm văn hóa nhiều vùng miền, nâng cao hiểu biết và đó cũng như một phần thưởng nghỉ ngơi sau một năm học vất vả và lời động viên của bố mẹ để bước vào năm học mới để học tốt hơn. Mỗi vùng đất ta bước chân đến sẽ cho ta những cảm nhận mới mẻ, đầy thú vị về cảnh sắc, con người, văn hóa, ẩm thực để ta có thêm hiểu biết. Mỗi nơi lại có một nền văn hóa riêng, mỗi nơi lại chọn cho mình một tín ngưỡng riêng. Việc “đi” sẽ tạo điều kiện cho chúng ta được đến gần hơn với những giá trị nhân loại ấy.

Để minh chứng cho điều đó, chúng ta không thể không nghĩ đến tấm gương sáng là chủ tịch Hồ Chí Minh, người không những ham học mà còn ham trải nghiệm nhiều nơi, nhiều đất nước điều đó giúp Bác hấp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại, sàng lọc và tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc.

Cuộc sống có trở nên thú vị, đa dạng, tuyệt vời và đầy màu sắc hay không phụ thuộc vào chính bạn. Một cuộc sống mà vĩnh viễn chỉ thu hẹp trong những bức tường, hay chỉ nhìn ngắm qua những trang báo thì thật buồn tẻ. Làm cho con người mình bị thu hẹp đi, thiếu kỹ năng giao tiếp, cuộc sống như vậy liệu có thực sự có ý nghĩa.

Vậy nên, ngay từ bây giờ, hãy định hướng và lên kế hoạch cho bản thân về những hành trình, những cuộc trải nghiệm . Tất nhiên, đi đây đi đó cũng phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi người, mỗi điều kiện và học, tích lũy những cái hay, cái tốt, cái tinh túy có chọn lọc chứ không phải cái gì cũng học, học một cách bừa bãi. Phê phán thói quen học vẹt, học tủ, lười biếng, ngại vận động, ngại di chuyển, không có tinh thần phấn đấu học tập vươn lên. Đặc biệt trong xã hội ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển nếu bản thân không cố gắng học tập, đi nhiều học hỏi, nâng cao hiểu biết thì rất dễ lạc hậu, không bắt kịp sự phát triển của đất nước, của xã hội.

Mỗi câu tục ngữ luôn đúc kết những kinh nghiệm của ông cha, bởi vậy nó hàm chứa những bài học sâu sắc, ý nghĩa khái quát. Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” như đã khái quát một chân lí mang tính quy luật. Chúng ta còn trẻ chẳng có gì ngoài thời gian và sức trẻ vậy tại sao không học hỏi, đi đây đi đó để mở mang tri thức, mở mang tầm nhìn, nâng cao sự hiểu biết, bồi đắp cho mình thêm lỗ hổng kiến thức, Đó đều là những thứ bổ ích, là hành trang theo ta trong suốt cuộc đời.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 9

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 8

Vốn hiểu biết của mỗi người là rất quan trọng, nó giúp ích cho chúng ta trong mọi công việc của đời sống. Người càng hiểu biết, càng ham học hỏi thì càng có sự thành công lớn trong sự nghiệp. Vì vậy, việc học hỏi chính là tiền đề của mọi sự hiểu biết, bạn có thể học trong nhà trường, trong gia đình và cả ngoài xã hội, bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào. Mỗi nơi bạn đến, mỗi con đường bạn đi qua đều có dấu ấn của những kiến thức mà bạn tích lũy được. Bởi vậy, ông cha ta từ ngày xưa đã có câu:” Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.

“Đi” là một hoạt động của con người nhằm bước ra ngoài giao lưu, tiếp xúc với thực tế, với môi trường xã hội. “Một ngày đàng” ở đây được hiểu là khoảng thời gian khá ngắn để chúng ta trải nghiệm và khám phá thế giới bên ngoài. “Học” là việc tích lũy tri thức, thu nhận những vốn hiểu biết từ xã hội vào bên trong bản thân mình. “Một sàng khôn” là lượng kết quả mà mình có được sống quá trình cọ xát với thực tiễn.

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn” giúp chúng ta hiểu rằng muốn hiểu biết, muốn tăng lượng kiến thức cho chính mình thì không chỉ phải học trên sách vở, trên ghế nhà trường mà còn phải học ở chính trường đời. Kinh nghiệm sống từ thực tế là tri thức lớn góp phần hoàn thiện bản thân hơn, hãy đi và bước ra ngoài xã hội để mở mang tầm nhìn.

Thật vậy, kiến thức là bao la vô tận, hầu hết trong mỗi việc bạn đều phải dùng tri thức mình có được kết hợp với kĩ năng để thực hành. Bởi vậy nếu bạn đi nhiều, bạn sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho chính mình. “Một ngày đàng” – chỉ cả về thời gian và không gian mà bạn sẽ trải qua, khi qua đi một ngày nếu bạn ra ngoài và trải nghiệm những thứ mới mẻ, bạn sẽ nhận lại được kết quả vô cùng tốt đẹp – “một sàng khôn”. Nếu bạn dành thời gian tìm hiểu, dấn thân vào những thách thức, hiểu biết tích cực của bạn sẽ ngày một nhiều hơn. Từ trong thực tế, trong trải nghiệm mà bạn mới nên “khôn”, tức là khi đó nhận lại được tri thức từ thực tiễn, những nguồn tri thức tích cực, nhận lại ở đây nó phải là sự chọn lọc, cái gì hay, điều gì đẹp thì học hỏi, tiếp thu, cái xấu cái dốt thì tránh ra, phê phán.

Đó mới là mục đích mà câu tục ngữ mang lại. Không nên chỉ ở nhà, suốt ngày cắm mặt vào game hoặc lướt web hay chăm chăm vào kiến thức sách vở trên nhà trường mà phải ra ngoài để mở rộng tầm hiểu biết, mở rộng vốn sống, vốn tri thức văn hoá phong phú của nhân loại. Phải tung hoành ngang dọc bốn phương để trải đời và đúc rút kinh nghiệm cho mình. Như thực tiễn đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp năm châu, học hỏi mọi nơi, mọi ngành nghề, từ phụ bếp, làm vườn, quét tuyết trường học đến viết báo, làm cách mạng, tất cả đã giúp Bác có vốn trí thức uyên thâm, hiểu biết rộng rãi, tài ba thao lược, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cho dân tộc.

Hay như nhà văn Nguyễn Tuân, Trương Hán Siêu – những con người ham xê dịch – bằng những chuyến đi thực tế của mình trên đất nước đã tích lũy vốn hóa, tri thức phong phú để viết nên những bài phú, bài tùy bút bất hủ. Một Macxim Gorki – nhà văn của nước Nga từng trải qua những bài học xã hội, những vấp váp đã gom nhặt được một vốn sống lớn, trường đời đã giúp ông ngày càng hoàn thiện hơn mỗi ngày.

Những nhà kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng vậy, họ phải ra nước ngoài, mọi nơi trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm buôn bán, sách lược, chiến lược kinh doanh, nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, học hỏi từ những đồng nghiệp tài giỏi trên thế giới mới tạo được những thành công cho doanh nghiệp của mình. Và cả trong bản thân mỗi chúng ta cũng thế, bạn cần phải đi và trải nghiệm mới mong có sự hiểu biết phong phú.

Nếu bạn chưa bao giờ đi du lịch, bạn sẽ không biết cần phải mang theo những gì, cần phải quan tâm những gì… Nếu bạn chưa từng làm phục vụ trong một quán ăn, bạn sẽ không biết nhu cầu của các vị khách là như thế nào, mong muốn của họ ra sao… Chúng ta chỉ có thể học hỏi nhiều bằng chính những trải nghiệm của bản thân mỗi ngày. Càng đi nhiều, trải nghiệm nhiều bạn sẽ có thêm cho mình nhiều ý tưởng, nhiều cơ hội mới để phát triển bản thân:

“Làm trai cho đáng nên trai

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”

Vậy mà, trong thực tế nhiều bạn lại lựa chọn cách sống ăn nhàn, yên bình, chọn lối sống “người trong bao” thu mình mà không dám ra ngoài xã hội để học hỏi, tiếp thu, thích ứng với những cái mới, thì một ngày nào đó sẽ mất đi vị trí của mình, mất đi năng lực tự khẳng định chính mình trong trong xã hội. Nếu bạn ra ngoài gặp gỡ nhiều người, trò chuyện và bạn sẽ học được cách giao tiếp, cách ứng xử, xử lí trong mọi tình huống từ họ.

Khi bạn đi nhiều nơi trên mọi miền đất nước, bạn sẽ nắm bắt được đặc điểm địa lí, những nền văn hoá, ẩm thực và đặc trưng của từng vùng miền để có thể áp dụng vào bài thuyết trình hay làm văn. Khi bạn chỉ biết thu mình lại trong một không gian chật hẹp, thì chính bạn đang thu nhỏ sự hiểu biết của mình, rút ngắn cơ hội của chính mình. Bởi vậy, sự trải nghiệm chính là món quà vô cùng quý giá mà mỗi người ban tặng cho chính mình, tự nắm bắt và thực hiện nó.

Cuộc sống không ngừng trôi, đất nước ngày một phát triển đòi hỏi ta phải có rất nhiều kiến thức và kĩ năng để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế. Hãy đứng dậy, đi, trải nghiệm, nắm bắt, học hỏi những điều mới mẻ từ thực tế để xây đắp cho mình những kiến thức làm vốn sống mai sau. Hãy sống và đi, bởi “Cuộc đời là những chuyến đi”, trên những chuyến đi ấy là cả một hành trang trí thức song hành, hãy tận hưởng và thu thập chúng hợp lý, tính chọn để phát triển bản thân từng ngày, dấn thân, học hỏi để trưởng thành, xông pha trên mọi mặt trận của cuộc đời như những “siêu anh hùng” của thế kỉ XXI.

Lời răn dạy của người xưa “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” sẽ luôn còn mãi và mang giá trị lớn dù trong bất kỳ thời đại nào.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 9

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 3

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 9

Kiến thức từ trước cho đến nay luôn luôn là thứ vô tận đối với mỗi người. Con người chúng ta càng tìm hiểu thì càng thấy có nhiều thứ chưa biết và muốn biết. Có thể thấy được chính sự tìm tòi, học hỏi từ mọi người, từ thế giới bên ngoài luôn rất cần thiết. Vì thế mà cha ông ta ngày trước mới có câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” để nói về việc sự tìm tòi kiến thức.

Câu tục ngữ thật đặc sắc “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” dường như đã là kinh nghiệm mà cha ông ta đã đúc rút để truyền cho thế hệ đi sau. Ta như cần phải biết được kiến thức mà chúng ta muốn tìm hiểu tựa như đại dương bao la, những gì chúng ta biết chỉ là một giọt nước nhỏ mà thôi. Có lẽ chính bởi vậy không ngừng tìm kiếm, mỗi chúng ta cũng không ngừng học hỏi là điều mà bạn nên biết, nên làm những điều gì. Mỗi ngày chúng ta đi “một ngày đàng” đi ra thế giới rộng lớn hơn để có thể học được những bài học hay hơn có giá trị hơn. Trên những con đường ta đi đó lại bắt gặp những điều hay, điều hay và lạ, chính những điều hay và lạ này đã giúp cho chính chúng ta như thấy được thêm kiến thức để làm hành trang bước vào cuộc sống vốn dĩ đã rất khó khăn.

Còn khi chúng ta xét về nghĩa hàm ý thì câu tục ngữ muốn nhắn gửi đến mọi người rằng: chúng ta hãy đứng dậy để ra ngoài để tìm hiểu kiến thức, bổ sung cho mình hiểu biết để không tụt hậu. Qủa thực rằng chính thế giới bên ngoài luôn có rất nhiều thứ hay ho, nếu cứ mãi ở nhà, hay bạn cứ mãi mãi ngồi yên một chỗ thì kiến thức cũng sẽ chỉ dậm chân một chỗ mà thôi làm sao có thể biết được xã hội, đất nước ngoài kia như thế nào.

Câu tục ngữ trên thật súc tích và ngắn gọn, dường như cũng đã vừa nói đến thời gian vừa nói đến không gian. Có lẽ rằng tất cả chúng ta cần bỏ thời gian để đi đến những vùng đất lạ, đặt chân lên những vùng đất mới bởi khi chúng ta mà đến những nơi đó chúng ta sẽ thấy được có nhiều điều bất ngờ. Con người như được mở mang thêm nhiều bài học thú vị, và chắc chắn sẽ học hỏi từ mọi người, học hỏi từ văn hóa của vùng miền đó.

Thực sự, ta như thấy được câu tục ngữ này có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi người. Ai cũng muốn bản thân mình hiểu nhiều, và cũng sẽ biết nhiều, được đi đó đi đây để am hiểu thêm nét văn hóa vùng miền. Ta như thấy được chính vốn sống sẽ được bồi đắp sau mỗi chuyến đi. Qủa thật rằng con người không nhất thiết phải đi xa, đi bao lâu, chỉ cần bạn bước chân ra khỏi nhà và như thế chỉ để nhìn thế giới này đang trôi. Chính con người bạn dường như cũng sẽ cảm nhận được sự chuyển động bất ngờ của kiến thức, còn nếu như mà bạn không chịu tìm hiểu thì bạn sẽ mãi không trưởng thành được.

Trên thực tế thì có rất nhiều người bảo rằng bây giờ lên mạng Internet tìm kiếm thì đầy rẫy ra, cần gì phải đi cho mệt, cho tốn thời gian. Nhưng dường như ta phải khẳng định rằng bạn có biết rằng những thông tin đó chỉ một chiều người đi họ cảm nhận được, còn bạn thì sao? Bạn chỉ biết đọc và thấy rằng ừ nó đúng hoặc ừ nó sai thôi sao. Có thể thấy được trong cùng một sự việc đó nhưng sự khác nhau giữa việc ngồi nhà đọc báo và bạn đồng thời cũng có thể ra ngoài nghe ngóng, tận mắt chứng kiến thì điều bạn nhận lại sẽ khác hẳn đó. Và ta cũng hiểu được rằng đây chính là sự khác biệt giữa thông qua người khác, khi việc trực tiếp nhìn nhận đánh giá sự việc sẽ ghi nhớ rất lâu cho chính chúng ta. Bởi vậy mà người ta đã từng nói rằng “Trăm nghe không bằng một thấy” là bởi thế.

Ngày nay ta như biết được rằng kiến thức như biển cả mênh mông, đi rồi sẽ đến, đến rồi sẽ biết cần phải làm gì, học gì để có thể tồn tại. Mỗi chúng ta phải không ngừng học hỏi từ người khác, từ mảnh đất khác để trau dồi thêm kiến thức của bản thân mình. Đây chính là điều mà rất nhiều người vẫn “ngại” học hỏi.

Có thể nhận thấy được rằng việc đi nhiều, tìm hiểu nhiều nguồn kiến thức không những bổ sung thêm cho bạn một hệ thống kiến thức lớn mà còn khiến bạn có thể tự tin để xử lý mọi chuyện. Còn đối với những kinh nghiệm luôn được đúc rút từ những va vấp, từ những chuyến đi như vậy. Chúng ta chắc chắn rồi sẽ trưởng thành khi va chạm nhiều, bên cạnh đó bạn cũng sẽ chỉ mãi mãi nhỏ bé khi cứ nhốt mình trong một căn phòng, và ôm mớ kiến thức có được trên mạng như thế mà thôi. Đó quả thật là những điều nhàm chán nhất.

Và chính đối với những người trẻ thì việc đi và tìm hiểu thông tin, kiến thức lại là rất cần thiết. Vì ta như biết được dường như chính các bạn đang ở lứa tuổi sống để trải nghiệm, để trưởng thành. Có thể thấy được rằng chính môi trường học đường, bạn bè, và rất nhiều người nữa sẽ khiến cho bạn học hỏi được rất nhiều điều.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 6

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 3

Trong cuộc sống, có những điều mà chúng ta chưa hề biết. Những kiến thức đơn giản thì hiển hiện xung quanh chúng ta, còn những điều mới lạ, hấp dẫn thì lại ẩn chứa trong xã hội. Chính vì vậy để có được kiến thức thì chúng ta phải biết tìm hiểu, học hỏi, khám phá. Đó cũng chính là ước nguyện của ông cha ta nên tục ngữ mới có câu rằng: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”

Với câu tục ngữ này, ông cha ta đã mách bảo, khuyên dạy rằng, muốn nên người, muốn hiếu biết nhiều, có kiến thức rộng, am hiểu sự đời, phải lăn lộn với cuộc sống, phải đi nhiều, phải đi đây đó để thu lượm, học hỏi những tri thức của cuộc sống để nâng cao, mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết của bản thân mình.

Ở câu tục ngữ đi một ngày đàng, học một sàng khôn, xét về mặt chữ nghĩa, các từ đều khá rõ ràng. Ở đây chỉ có từ đàng là hơi khó hiểu vì nó là từ địa phương miền Trung và miền Nam với nghĩa là đường. Cái khó của câu tục ngữ này là ở chỗ, các từ ngữ kết hợp với nhau tạo nên những đơn vị định danh vừa cụ thể lại vừa rất trừu tượng. Ngày đàng vừa có ý nghĩa không gian vừa có ý nghĩa thời gian. Khi ngày đàng kết hợp với từ chỉ số lượng một tạo thành chỉnh thể một ngày đàng vẫn không tạo nên một đại lượng cụ thể, dễ nắm bắt được. Dẫu vậy, cả vế thứ nhất đi một ngày đàng cũng toát lên cái ý “có sự ra đi trong một khoảng thời gian và không gian nhất định dù là ngắn”. Đây là tiền đề, là cơ sở để tạo nên kết quả học một sàng khôn.

Trong sự đối ứng với vế thứ nhất, đi một ngày đàng thì vế thứ hai học một sàng khôn hàm chỉ kết quả học hỏi, thu nhận được rất lớn. Sàng khôn trong câu tục ngữ này có tính biểu trưng và tạo nên những liên tưởng rất lý thú. Dân gian hay dùng sàng với nghĩa đen chỉ một loại đồ đan bằng tre, hình tròn, nông và thưa có tác dụng làm sạch trấu và tấm cho gạo, để làm danh từ chỉ đơn vị. Đơn vị được đong, đo, đếm bằng sàng trong quan niệm dân gian là lớn và nhiều. Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp là cách đối lập giữa số ít và số nhiều. Vậy, học một sàng khôn là học được nhau cái hay, cái tốt của thiên hạ để cho mình khôn lớn hơn, hiểu biết về cuộc sống xã hội. Nếu thả mình vào trong sự liên tưởng, thì ít nhiều chúng ta lại nghĩ tới một sự biểu trưng khác của từ sàng khôn này.

Thông thường, nói đến sàng người ta nghĩ tới cái được giữ lại ở trên sàng là thứ to hơn, ngược lại cái lọt xuống, lọt qua sàng là thứ nhỏ. Lọt sàng xuống nia mà lại! Sàng khôn có lẽ vì thế mà gợi nên sự liên tưởng tới những điều khôn không chỉ có số lượng nhiều nói chung, mà còn là cái số luợng nhiều đã được chọn lọc. Không hiểu cha ông ta có gửi gắm điều này không, nhưng đứng về phía người thưởng thức và sử dụng ngôn ngữ, những liên tưởng như vậy là hoàn toàn có lý. Trở lại câu tục ngữ đi một ngày đàng học một sàng khôn, hai vế câu tục ngữ được hỗ trợ của phép đối và điệp dễ gây liên tưởng có tính khẳng định: hễ cứ đi ra là có thể học được điều hay lẽ phải và càng đi nhiều càng khôn lớn trưởng thành. Đó là thông điệp của cha ông gửi lại cho đời sau.

Câu tục ngữ đi một ngày đàng học một sàng khôn còn có một dạng thức nữa là đi một quãng đàng, học một sàng khôn. Dạng thức này hình thành trên cơ sở cụ thể hóa việc đi lại bằng đơn vị không gian (quãng đường) chứ không phải là đơn vị thời gian (ngày đàng) như dạng đang xét. Sự thay đổi này không làm phuơng hại gì đến ý nghĩa của câu tục ngữ.

Câu tục ngữ này mang hai vế đối xứng với nhau. “Một” đối với “một”, đó chính là hình thức đối xứng độc đáo. Câu tục ngữ này ý khuyên nhủ chúng ta hãy biết đi đây, đi đó để được ở mang, tích luỹ kiến thức, tầm nhìn về xã hội. “Ngày đàng” ở đây là một phép ẩn dụ. Nó không phải là con số cụ thể quy ước mà chỉ một khoảng thời gian mà chúng ta tiếp nhận những điều hay lẽ phải ngoài xã hội. Không chỉ vậy, ngụ ý của tác giả dân gian còn được bộc lộ rằng không phải bất kì cái mới mẻ nào cũng có thể tiếp nhận mà hãy chắt lọc, thấm hiểu để nhận ra sự mới mẻ nào có ích, sự mới mẻ nào có hại mà biết đường đề phòng tránh hay học tập. Điều đó được thể hiện qua từ “sàng khôn”. Không chỉ vậy câu tục ngữ này còn nói lên thế giới đa dạng và phong phú, nếu biết tiếp nhận nó một cách khéo léo thì kết quả thu được sẽ rất lớn.

Thật vậy. Ngoài xã hội có rất nhiều những điều hấp dẫn đối với những người mới tiếp xúc. Đó là nơi văn minh, là nơi giao lưu học hỏi của các tầng lớp, cũng là nơi trao đổi, buôn bán, có nhiều loại hình nghệ thuật độc đáo, những công nghệ độc đáo, hay những kiến thức khoa học huyền bí. Từ những cách ăn nói ngoài xã hội đến những hình thức ứng xử, tất cả đều là kiến thức, được khoác nhiều bộ áo trên nhiều phương diện. Mặt tích cực không nhỏ nhưng mặt tiêu cực cũng không.

Có ý nghĩa tương tự với câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” về cả ba phương diện cấu tạo và ý nghĩa là câu tục ngữ: “Đi một buổi chợ, học một mớ khôn”. Câu tục ngữ này khuyên bảo người đời cần phải tiếp xúc nhiều người, càng tiếp xúc rộng rãi, càng học hỏi được nhiều, và do đó càng hiểu biết, khôn lớn trong cuộc sống.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 2

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 6

Tục ngữ là túi khôn của nhân loại, đúng vậy, trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có nhiều câu tục ngữ nói lên kinh nghiệm, phương pháp học tập phong phú, trong đó câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” là một ví dụ điển hình. Nhưng đi như thế nào để thu được một sàng khôn mới là điều chúng ta cần quan tâm, tìm hiểu.

Trước hết ta cần hiểu câu tục ngữ trên cho đầy đủ. Đi một ngày đàng là chỉ việc đi xa, vượt qua một khoảng không gian lớn. Nếu tính theo tốc độ một giờ bốn cây số, thì một ngày đàng là đã vượt qua một độ dài chừng năm chục cây số, một khoảng cách đủ để sang làng khác, tổng khác, hoặc ra tinh. Ngày xưa trong cuộc sống khép kín trong làng, sau lũy tre xanh, câu tục ngữ: Đi một ngày đàng có nghĩa là sang làng khác, miền khác, địa bàn khác.Học một sàng khôn là chỉ số lượng kiến thức kinh nghiệm học được.

Dĩ nhiên không ai lại đo kiến thức bằng sàng, sàng là một dụng cụ để tách thóc khỏi gạo. Ở đây là hình ảnh chỉ một số lượng cụ thể như mớ, không nhiều, nhưng cũng không ít. Con người ta sống không thể thiếu được trí khôn. Trí khôn giúp người ta phân liệt thật giả, đúng sai, biết cách xử lí công việc trong học tập, sản xuất, sinh hoạt… Hình ảnh sàng khôn hàm ý chỉ sự chắt lọc, thu lượm được nhiều điều hay, những bên thức mới, bổ sung thêm hiểu biết cho bản thân.

Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn thể hiện niềm tin răng khi đi ra ngoài, ta sẽ được gặp gỡ nhiều người, được nghe nhiều câu chuyện đỡ hoặc hay, được biết nhiều lời ăn tiếng nói và nhiêu cách suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề xã hội khác nhau. Từ đó trí hiểu biết của ta dược nâng cao, mở rộng hơn.

Ta có thể rút a nhiều kinh nghiệm và nhiều bài học bổ ích trong cuộc sống.Câu lục ngữ đã nêu lên một chân lí phổ biến. Mỗi lần chúng ta có dịp đi xa, đi công tác hay đi tham quan đều có tác dụng mở rộng tầm nhìn, nghe thấy và học lỏi được những điều mới mẻ bồi bổ cho trí óc của mình, làm cho trí tuệ phát triển. Chỉ mỗi việc đi xa, tận mắt nhìn thấy những sự vật mới lạ để người khác không bịa chuyện bưng bít hay lừa dối mình, cũng là một sự khôn lớn. Trước đây các nhà trí thức Việt Nam có dịp sang Pháp mới thấy được sự lạc hậu, cổ lỗ của kinh tế, quân sự nước nhà, nảy ra nhu cầu cải cách, đổi mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đã từng lôn ba năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước.

Những ví dụ đó đã chứng tỏ cho chân lí “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.Câu tục ngữ: Đi một ngày sàng học một sàng khôn nhằm khuyên chúng ta nên đi đây đi đó để thu thập vốn sống, tích lũy kinh nghiệm. Ngoài việc học kiến thức trong sách vở, hoặc ở nhà trường, việc học ớ thực tế xã hội cũng rất quan trọng. Mỗi lần trải nghiệm thực tế là một lần khôn lớn, học được nhiều kinh nghiệm để lớn lên và trưởng thành hơn.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, đổi mới, mở cửa giao lưu quốc tế như lòm nay có rất nhiều thanh niên du học nước ngoài, có biết bao chuyến tập huấn cho các vận động viên thể dục thể thao đã bổ sung thêm nhiều tri thức và đem lại nhiều thành công cho đất nước trên các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, y tế, thể dục thể thao,… Ngay việc tăng cường buôn bán với các nước cũng làm ta khôn ngoan lơn, qua các vụ kiện bán phá giá tòm, cá ba sa… chúng ta cũng thu được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc buôn bán với nước ngoài.Tuy nhiên, không phải cách đi nào cũng mang lại tri thức, kinh nghiệm…

Tóm lại câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” là đúng, nhưng đòi hỏi người đi phải luôn luôn có ý thức tìm hiểu, học hỏi để tích lũy thêm kiến thức mới. Nói một cách khác đi một ngày đàng chính là điều kiện tốt để người có ý thức học tập có được một sàng khôn.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 2

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 10

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 2

Trên thế gian này không ai là người có thể biết được tất cả mọi thứ xảy ra xung quanh mình. Vì kiến thức là cả đại dương còn trí nhớ con người có giới hạn,chỉ khi chúng ta càng tìm hiểu và nghiên cứu về nó mới biết được rằng kiến thức rộng lớn đến nhường nào mà sự hiểu biết của ta chỉ là một phần rất nhỏ.Chính vì thế mà ta ngày càng phải học hỏi hơn nữa để tự trang bị kiến thức cho bản thân như câu tục ngữ “đi một ngày đàng,học một sàng khôn”.

Đó là lời khuyên dạy của ông cha ta trong học tập và cuộc sống.Vậy ta hiểu “ đi một ngày đàng học một sàng khôn” có nghĩa là gì? “ đi một ngày đàng” là một ngày đi trên đường, “ học một sàng khôn” là những hiểu biết,học hỏi nhiều điều mới mẻ mà ta bắt gặp trên đường đi ấy. Như vậy ý nghĩa của toàn bộ câu tục ngữ này là cần phải thoát khỏi vỏ bọc chật hẹp,cần phải đi ra ngoài để tiếp xúc với những điều mới mẻ xung quanh nâng cao hiểu biết,trang bị kiến thức cho riêng mình. Còn “sàng khôn” có nghĩa là mình biết tiếp thu, học hỏi có chọn lọc, từ đó việc học hỏi mới có hiệu quả.

Như ta đã biết vốn tri thức giúp cho con người trở nên tốt đẹp hơn, sống văn minh hơn. Chính vì thế mà bản thân mỗi người đều muốn mình có tầm hiểu biết sâu rộng và tử nên tài giỏi,muốn được như vậy thì điều đầu tiên ta phải làm chín là đi và trải nghiệm để cảm nhận được thế giới xung quanh mình đang thay đổi thế nào, và đón nhận những điều mới mẻ đang chào đón chúng ta ở phía trước. Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại,chính vì vậy khi thanh xuân vẫn lưng chừng tuổi trẻ vẫn chưa phai thì chúng ta hãy đi thật nhiều để trải nghiệm cuộc sống.

Tuy nhiên không phải là đi thật xa mới có thể học hỏi và nhận ra được mọi thứ mà quá trình học hỏi của chúng ta nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống, ví dụ như khi ta đi ra đường gặp một e bé ăn xin,hay gặp một người già không có nơi nương tựa phải đi kiếm sống ngoài đường thì lúc đó bạn chợt nhận thấy mình thật may mắn so với họ để từ đó bạn biết quý trọng bản thân mình hơn và đặc biệt hơn nữa là mình phải giúp đỡ họ. “sống là cho đâu chỉ nhận cho riêng mình” khi mình sẵn sàng giúp đỡ họ mặc dù không giúp được gì nhiều ngoài một vài đồng tiền lẻ hay một chiếc bánh mì ta nhận lại được niềm vui và sự thanh thản,đối với mình nó không là gì nhưng đối với những người đó lại là một niềm an ủi,để họ vững tin trên thế giới này vẫn có những người tốt.

Với thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay,thì việc tìm kiếm hay học hỏi qua mạng là một việc không hề khó nhưng điều đó cũng không giúp ích được nhiều cho sự hiểu biết của mình về thế giới bên ngoài,mà ta chỉ biết được thế giới tươi đẹp kia qua màn ảo ảnh của mạng. Bởi vậy ta không nên quá phụ thuộc vào những thông tin có sẵn mà ta hãy đi và trải nghiệm nó, tích lũy vốn sống cho mình.

Câu tục ngữ vẫn giữ nguyên giá trị của nó cho đến ngày nay.Đất nước đang trên đà hội nhập quốc tế vì thế mà bản thân mỗi người cần phải học hỏi và tìm tòi để vươn ra thế giới hòa nhập với nó, nếu không bạn sẽ bị tụt hậu và tẩy chúng tôi còn ngồi trên ghế nhà trường thì chúng ta được thầy cô giảng bài về những kiến thức cơ bản,kiến thức trong sách vở có chọn lọc nhưng để nâng cao hiểu biết và hiểu sâu về nó thì mỗi học sinh cần nâng cao tinh thần học tự giác của bản thân,học hỏi thầy cô và bạn bè từ những điều trong cuộc sống hằng ngày.

Kiến thức là cả một đại dương ta không chỉ học ngày nay ngày mai là nắm hết được nó mà ta phải dành cả đời để tìm hiểu nó “ học,học nữa,học mãi”. Học không bao giờ là đủ cả,hãy học hỏi,tích lũy những điều hữu ích, thiết thực với bản thân,tránh học những thói hư tật xấu để trở thành người tốt, làm những việc có ích cho gia đình và xã hội.

Câu tục ngữ “đi một ngày đàng,học một sàng khôn” chính là bài học quý báu đối với tất cả mọi người,học để bản thân hoàn thiện hơn, học để xây dựng một xã hội ngày càng văn minh và tốt đẹp hơn.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 4

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 10

Cuộc sống này là vô cùng vô tận tri thức vì thế mà cũng bao la rộng lớn vô cùng để khám phá và tiếp thu được nhiều nguồn tri thức thì con người ta cần phải có cho mình những phương pháp học hiệu quả và một trong số đó chính là phương pháp “Đi một ngày đàng học một sàng khôn ” mà ông cha ta đã gửi gắm từ bao đời nay

Trước hết chúng ta cần hiểu “một ngày đàng” hay một ngày đường tức là chỉ khoảng thời gian mà con người cần thiết phải đi ra ngoài đi đó đi đây để học “sàng khôn” hay chính là những điều hay lẽ phải những tri thức mà ta chưa từng biết. Với cách nói đối xứng ông cha ta đã khẳng định một chân lý đó là cứ mỗi ngày con người ta đi ra ngoài cuộc sống thì sẽ là mỗi ngày ta học được thêm một điều mới mẻ .Qua đó , ông ta cũng đề cao vai trò của việc đi đây đi đó như một phương pháp học tập để con người tiếp thu tri thức một cách hiệu quả.

Có thể nói , đây là một lời nhắn nhủ vô cùng sâu sắc và giàu giá trị của thế hệ trước người gắm thế hệ sau .Tại sao lại nói như vậy? Trước hết, cần phải hiểu , kho tàng tri thức của nhân loại là vô tận, từ khi Trái đất mới ra đời, rồi trải qua biết bao thế hệ con người ta tiếp thu , tìm kiếm ra được những cái mới mẻ , bên cạnh đó, cũng vì cuộc sống là không ngừng phát triển do đó tri thức cũng vì thế ngày càng được đầy thêm. Ngoài những kiến thức cơ bản trong sách vở con người ta cần phải tiếp thu thêm tri thức từ bên ngoài. Nếu chỉ học kiến thức trong sách vở suông đó chỉ là một phần rất nhỏ trong kho tàng tri thức nhân loại , ta khó có thể làm phong phú bản thân mình .

Vậy nên việc đi đây đi đó sẽ giúp ta mở mang được tầm hiểu biết vốn kiến thức của bản thân. Bên cạnh đó việc đi ra ngoài cuộc sống không chỉ giúp làm giàu tri thức mà còn giúp ta có thêm những kinh nghiệm sống hữu ích, những kỹ năng sống cần thiết , có cơ hội để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Chẳng hạn một nhà văn nếu chỉ ngồi một chỗ mà hy vọng ý tưởng đến với mình mà không tự mình đi ra ngoài cuộc sống để có những trải nghiệm tìm tòi những đề tài hay thú vị thì hiện trong văn của họ sẽ hoàn toàn sáo rỗng và khó mà có cảm xúc.

Một công việc dù là trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần có những nghiệm thực tế. Nếu không biết tìm tòi học hỏi ở bên ngoài thì bản thân ta sẽ không có được cho mình sự chủ động trong công việc , không có được sự tự tin để làm chủ kiến thức của chính mình .Thêm vào đó việc đi ra ngoài học tập cũng sẽ giúp tôi việc bản thân về mặt giao tiếp, có va chạm nhiều , gặp gỡ nhiều thì con người ta mới có thể tự tin bản lĩnh trong mọi hoàn cảnh biết nói năng diễn đạt một cách hợp lý đúng đắn.

Có thể nói đi một ngày đàng học một sàng khôn là một trong những phương pháp học vô cùng hữu ích và cần thiết đối với mỗi người trong cuộc sống hôm nay. Nó giúp con người được hoàn thiện bản thân về mọi mặt, tạo bản tính tự tin, có được những bài học hữu ích . Đây là một lối sống cần được phát huy đặc biệt đối với thế hệ trẻ hôm nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì đòi hỏi về chất lượng con người cũng cần được nâng cao về việc đi đây đi đó để gặt hái thêm kinh nghiệm cho bản thân sẽ là một kim chỉ nam hữu ích để con người nâng cao giá trị bản thân mình.

Tuy nhiên cũng cần phải hiểu “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” nhưng không có nghĩa là cái gì cũng học , học tất cả mọi thứ không phân biệt tốt hay xấu . Ta cần phải biết chọn lọc, học những cái hay cái đúng , cái có giá trị thì mới có thể giúp ích được cho chính mình .Tất nhiên để có được những bài học kinh nghiệm thì cũng cần đi kèm với sự kiên trì , nhẫn nại không bỏ cuộc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vì học là cả một quá trình dài . Những kẻ lười biếng, chỉ biết ngồi ở nhà chờ đợi cơ hội, thành công tìm đến với mình hay chỉ biết học lý thuyết suông , cho rằng những kiến thức trên lớp là đã quá đủ thì vĩnh viễn sẽ chẳng thể nào vươn lên hai đạt được những giá trị cao đẹp hơn trong cuộc sống.

Mỗi con người cần xác định được phương pháp học đúng là nhất cho mình để đạt được hiệu quả Lênin đã từng có câu “Học học nữa học mãi”, kiến thức là vô cùng vô tận vậy nên bản thân ta không ngừng rèn luyện mình , không ngừng học tập tư duy để tiếp thu được nguồn tri thức tinh hoa nhân loại và “Đi một ngày đàng học một sàng khôn ” cũng sẽ là một trong những phương pháp học giúp ích con người đạt được mục tiêu của chính mình . Câu tục ngữ của ông cha ta tuy đã ra đời từ rất lâu nhưng giá trị trường tồn của nó là không thể phủ nhận, nó như một lời tác động đến thế hệ trẻ hôm nay những chủ nhân của đất nước tương lai.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 4

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 5

“Đi một ngày đàng” là một ngày đi trên đường. Cũng có nghĩa là đi đây, đi đó. Thời xưa, con người đi bộ, đi ngựa hoặc đi thuyền. Bởi phương tiện thô sơ, đi lại vất vả cho nên một ngày đường đã là đủ nhiều, đủ xa. “Một sàng khôn” là thấy được nhiều điều mới lạ, học được nhiều điều hay. Nghĩa là đã mở rộng được tầm nhìn, tầm hiểu biết. Mượn hình ảnh cái sàng, người xưa muốn nhắc nhở ta phải biết gạn lọc tri thức để có hiểu biết đúng đắn và bổ ích nhất.

Câu tục ngữ cho ta thấy tầm quan trọng của việc học hỏi, mở rộng tìm kiếm tri thức ở bên ngoài để nâng cao hiểu biết và vốn sống. Chỉ có bên ngoài xã hội rộng lớn với cuộc sống sinh động, da dạng, phong phú mới giúp ta nâng cao hiểu biết và biết sống đúng đắn, làm việc thành công hơn.

Tri thức là vô hạn như đại dương mênh mông con hiểu biết của con người lại hữu hạn. Con người dù có thông minh đến đâu thì tầm hiểu biết cũng có giới hạn. Muốn phát huy trí thông minh và sức mạnh của trí tuệ, con người phải không ngừng học hỏi, không ngừng tìm tòi trí thức. Có nhiều cách để làm điều ấy. Học hỏi tìm tòi tri thức ở gia đình, nhà trường, ở sách vở. Tất cả đã dạy cho ta rất nhiều, giúp ta ngày càng trưởng thanh hơn. Nhưng những điều dạy bảo đó chưa đủ, chưa nhiều. Đọc sách báo, nghe những lời giảng dạy là cách bồi dưỡng trí thức cho thêm phong phú.

Nhưng đó mới chỉ nghe mà chưa thấy. Trông thấy là rất quan trọng bởi “trăm nghe không bằng một thấy”. Nếu đã nghe mà lại được thấy thì những điều học hỏi ấy sẽ khắc sâu hơn. Trên khắp mọi nẻo đường đất nước chỗ nào cũng có cái hay cái đẹp của con người và cảnh vật. Đi nhiều sẽ được hiểu biết nhiều. Chính điều đó giúp con người trưởng thành hơn, có cách cư sử đúng đắng hơn, làm việc có hiệu quả hơn, quan hệ xã hội với gia đình cũng tốt hơn. Quan trọng hơn hết nó bồi dưỡng cho ta tình yêu cuộc sống và cảm nhận được hạnh phúc trong cuộc đời này.

Trong thời đại ngày nay, việc học hỏi lại rất cần thiết. Chúng ta cần học những điều mới mẽ, tốt đẹp, có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Học để làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống. học để trở thành người hữu ích đóng góp sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước ta ngày càng thêm giàu mạnh.

Học là phải biết chọn lọc. Học cần phải biết tiếp nhận cái tốt, cái đẹp, cái hữu ích và tiến bộ. Đồng thời gạt bỏ cái xấu, cái vo ích, cái lạc hậu trong xã hội. Biết lựa chọn như thế là ta đã biết cách sống. Xã hội là trường học lớn cung cấp cho ta vốn hiểu biết, vốn sống, cũng là nơi ta thực nghiệm, là nơi để ta học và rèn cái “khôn”. Muốn học được cái “khôn”, chúng ta nhất định phải biết kiên trì. Bởi việc học là công việc gian khổ và lâu dài. Không có tính kiên trì khi vấp phải những khó khăn ấy chúng ta dẽ bỏ cuộc, chấp nhận thất bại.

Muốn học tập thành công chúng ta cũng cần phải hết sứ bình tĩnh. Không nên vội vàng trong học tập bởi tri thức là vô tận. Mặt khác, muốn biết nhiều, hiểu kĩ, ghi nhớ sâu nhất định chúng ta phải học tập một cách bình tĩnh. Có thể nhiều tri thức hết sức quan trọng và hữu ích nhưng không nhất thiết phải hiểu biết tường tận. Hãy học cái cần học, cái cần thiết cho đời sống của mỗi chúng ta. Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó mang lại lợi ích thiết thực và sức mạnh to lớn cho cuộc sống của chúng ta.

Câu tục ngữ “đi một ngày đàn học một sàng khôn” là bài học kinh nghiệm quý báu cho tất cả mọi người. Học hỏi là việc thường xuyên và suốt đời. Để không ngừng nâng cao hiểu biết thì nhất định phải biết học hỏi mọi lúc, mọi nơi. Bản thân phải biết học điều hay lẽ phải có ích cho bản thân gia đình và xã hội một cách chủ động, sáng tạo và chọn lọc để đạt hiệu quả cao.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 1

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 5

Cuộc sống của chúng ta luôn không ngừng phát triển với sự ra đời và lớn mạnh của các thiết bị máy móc tân tiến, các nghiên cứu vĩ đại,… Con người dần dần bước đến thời hiện đại hóa với những đóng góp lớn cho sự phát triển theo hướng tích cực của xã hội. Là một công dân trong thời đại phát triển ấy, chúng ta luôn phải cố gắng hết sức mình để đạt thành công. Ai ai cũng cần phải ra sức học tập, trau dồi tri thức để có thể tiến kịp bước phát triển nhanh của xã hội hiện đại ngày nay. Vì vậy câu hỏi: Học tập bằng cách nào để đạt hiệu quả nhất luôn là điều khiến chúng ta trăn trở. Năm xưa, ông cha ta răn dạy: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Câu tục ngữ đó vẫn còn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa cao đẹp để mỗi người vận dụng trong cuộc sống hôm nay.

Câu tục ngữ ” Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” đặc biệt ở chỗ kết hợp từ ngữ rất sáng tạo. “Ngày đàng” ở đây chính là ngày đường, mang ý nghĩa không gian và thời gian. Vế thứ nhất ” Đi một ngày đàng” với ý nghĩa chỉ con người đi ra ngoài vào một khoảng thời gian nhất định và đến bất kì địa điểm nào đó. Đây là tiền đề cũng đồng thời là cơ sở để “học một sàng khôn”. Trong sự đối xứng về mặt ý nghĩa với vế thứ nhất, vế hai “học một sàng khôn” ý muốn nói đến kết quả học hỏi thu lượm được rất lớn. Từ “Sàng khôn” ở đây mang tính biểu trưng và tạo nên khá nhiều liên tưởng thú vị.

Trong câu tục ngữ, từ “sàng” được sử dụng với nghĩa đen chỉ một loại đồ vật sử dụng chất liệu là tre, hình tròn, nông, mắt thưa giúp làm sạch trấu và lọc gạo tấm. Theo quan niệm dân gian, đơn vị đong đo bằng “sàng” là lớn và nhiều. Vậy “học một sàng khôn” là học được các điều bổ ích, điều tốt trong nhân gian để mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống và xã hội, bên cạnh đó giúp trưởng thành hơn. Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” chính là lời khuyên nhủ mỗi chúng ta không nên ngồi mãi trong căn phòng chật hẹp tù túng mà phải ra ngoài tận hưởng cái hay cái đẹp của cuộc đời và càng đi nhiều bạn sẽ càng hiểu biết rộng, ngay cả những điều trước đây mình chưa hề biết, trải nghiệm và khám phá những điều hay của cuộc sống.

Quả đúng là ” Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, khi chúng ta đi nhiều và trải nghiệm cuộc sống, ta sẽ được mở mang tầm nhìn, nâng cao hiểu biết. Trong cuộc sống hằng ngày, ra ngoài nhiều và tiếp xúc nhiều với con người cũng như sự vật bên ngoài, chúng ta sẽ cảm nhận được một cách cụ thể, trực tiếp, chân thực những gì đang diễn ra xung quanh mình. Đi nhiều chúng ta sẽ có nhiều mối quan hệ, có thêm một vài kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Đi nhiều cũng giúp chúng ta có được thêm nhiều hiểu biết về nhiều phong tục tập quán và văn hóa các vùng miền.

Trong lịch sử, các vị vua thời xưa thường cải trang đi vi hành để nắm bắt tình hình của nhân dân. Hay trong chặng hành trình đi tìm đường cứu nước đầy gian khổ, Bác Hồ khi đó còn là một thanh niên trẻ tuổi chỉ với hai bàn tay trắng đã đi qua gần 30 quốc gia trong khoảng thời gian 30 năm. Mỗi vùng đất đi qua, Người đều tự mình học ngôn ngữ, học qua sách báo hay học hỏi từ những người đồng nghiệp và người bản xứ, cũng bởi vậy mà Người thành thạo rất nhiều thứ tiếng và am hiểu nhiều nền văn hóa của các đất nước khác nhau trên thế giới.

Không chỉ học kiến thức qua những cuốn sách đọc tranh thủ trong giờ nghỉ, Bác còn đặc biệt dành khoảng thời gian đi tìm hiểu cuộc sống thực tế của người dân mỗi đất nước đi qua. Ở xã hội nào, Người cũng đều được chứng kiến cảnh bóc lột dã man của những người giàu và cảnh lầm than của những người nô lệ. Người đã nhiều lần xúc động và càng nung nấu ý chí quyết tâm tìm ra con đường để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mình. Hoặc các nhà văn đi nhiều để có thêm vốn sống, như nhà văn Nguyễn Tuân – một nhà văn với nhiệt huyết tràn đầy và có yêu cầu cao với nghề viết của mình. Ông luôn luôn thể hiện niềm khao khát cháy bỏng được dịch chuyển để tìm cảm giác mới lạ và thay đổi ” thực đơn cho nhãn quan” của mình. Bởi văn học luôn lấy cuộc sống làm chất liệu và luôn phản ánh theo cách riêng của mình.

Việc học tập là cả một quá trình dài, tuy nhiên ta không chỉ tiếp thu những kiến thức lý thuyết đơn thuần mà còn phải thực hành dựa trên những điều đã được học, biến chúng thành những kiến thức của riêng bản thân mình. Ta cũng không nên như chú ếch ngồi dưới đáy giếng chật hẹp, chỉ thu nhận những kiến thức bó hẹp trong sách vở hay qua thầy cô mà ta có thể tự tìm tòi thông qua tài liệu hay trải nghiệm thực tế, học ở bạn bè, người đi trước… Khi chúng ta đến những mảnh đất chưa từng biết trước đó, con người sẽ có sự hứng thú tìm hiểu và khám phá. Những địa điểm mới cho ta thêm sáng tạo và việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức cũng trở nên dễ dàng và thực chất hơn.

Nguồn kiến thức trên đời là vô hạn và vô cùng rộng lớn mà con người lại nhỏ bé, hữu hạn và không thể lĩnh hội được hết tất cả mọi thứ, vì vậy việc chủ động học tập từ cuộc sống, đi nhiều, trải nghiệm nhiều sẽ giúp ta cảm nhận được mọi điều đang diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội. Đây là cách thức học mang lại hiệu quả khá cao nhằm làm giàu cho sự hiểu biết của bản thân. Bên cạnh đó, chúng ta có được các cơ hội để kiểm chứng năng lực ứng phó và xử lí các vấn đề, các tình huống xảy ra bất ngờ khác nhau của đời sống. Đi đến nhiều nơi, khám phá nhiều điều sẽ tạo điều kiện cho ta có thể đưa lý thuyết vào thực hành, từ đó giúp hoàn thiện con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

Câu tục ngữ ” Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” còn gợi liên tưởng đến chiếc sàng là một vật dụng dùng để lọc gạo tấm, loại bỏ những hạt sạn, hạt thóc còn sót và giữ lại những hạt gạo tốt nhất. “Sàng khôn” phải là những điều tốt đẹp, những kiến thức bổ ích làm giàu cho đời sống tinh thần và trí tuệ của bản thân và đã qua việc chọn lọc kỹ càng. Cũng như con người ta đi nhiều, trải nghiệm nhiều nhưng phải biết bồi đắp cho mình những điều bổ ích. Và cũng cần phân biệt giữa việc ra ngoài để học hỏi với ra ngoài để chơi bời, tiêu xài hoang phí, thỏa mãn những ham muốn và dục vọng tầm thường của bản thân.

Bên cạnh đó, mỗi người phải có bản lĩnh cứng cỏi để đối mặt với những khó khăn, cám dỗ của cuộc đời, biết chọn lọc tri thức để học cho nên người. Chúng ta cũng cần phê phán những người có tư tưởng tự cao, tự đại, tự ru ngủ mình trong nhà như “ếch ngồi đáy giếng”, tự cho mình là giỏi nhất “Ở nhà nhất mẹ nhì con – Ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta”. Phê phán những kẻ sống bảo thủ, sống chật hẹp, sống tù túng trong thế giới riêng mình, vì thế mà không thể theo kịp thiên hạ và khó mà làm nên sự nghiệp lớn.

Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” vẫn còn giá trị của nó cho đến tận ngày nay, nhất là trong đất nước đang trên đà phát triển, hội nhập với quốc tế. Là một người trẻ – tương lai của đất nước, chúng ta cần phải vững vàng chuẩn bị hành trang và chí khí để sẵn sàng đi tới mọi chân trời mơ ước với niềm tin và khát vọng. Như Nguyễn Công Trứ đã nói:

“Vùng trời đất dọc ngang ngang dọc,

Nợ tang bồng vay giả, giả vay

Chí làm trai nam bắc đông tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.

(Chí anh hùng)

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 7

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 1

Việc học luôn luôn được đánh giá là một trong những điều quan trọng cho nên trong kho tàng văn học dân gian ta có rất nhiều câu tục ngữ mang tính giáo dục sâu sắc. Một trong những câu tục ngữ đó là câu rất ý nghĩa đó chính là “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.

Đầu tiên ta cũng phải hiểu được rằng câu nói của ông cha ta như muốn nhắn nhủ điều gì? Qủa thật “Một ngày” so với một năm là ngắn ngủi biết bao nhiêu. Ta như thấy được “một ngày” trong một đời người trăm năm là vô cùng cực ngắn. Khi mà con người “đi một ngày đàng” đối với khách bộ hành thì quãng đường đi được có đáng là bao? Thế nhưng các bậc tiền nhân xưa lại như cũng đã khẳng định là “học một sàng khôn”. Và từ “khôn” là điều hay, điều tốt, và đó cũng chính là cái mới mẻ rất bổ ích đối với mọi người để mở mang trí tuệ, để có thể mà trau dồi nhân cách.

Còn với từ “Sàng” là công cụ lao động đã được khéo léo đan bằng tre, nứa của nhà nông dùng để sàng gạo. Còn khi nói “Sàng khôn” là biểu tượng chỉ khối lượng kiến thức rất lớn được thu lại chho mỗi người. Tóm lại ta như thấy được câu tục ngữ có ý muốn nói và khuyên nhủ mọi người đó chính là hãy đi những nơi khác, hãy mở rộng tầm mắt để có thể học được nhiều điều hơn trong chính cuộc sống của mỗi chúng ta. Lý thuyết trong sách vở không bao giờ đa dạng bằng thực tiễn cuộc sóng. Có lẽ cũng chính vì thế nên chúng ta hãy học mọi lúc mọi nơi, nhất là đến những vùng đất mới nào đó, bởi ở đó có rất nhiều điều lý thú mà ta có thể học hỏi được.

Và chúng ta sao lại có thể nói được rằng “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”? Qủa thật ta như tháy được chính câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” là hoàn toàn đúng! Khi con người chúng ta khi được học ở trường lớp, học trong sách vở, học thầy học bạn. Chúng ta dường như cũng đã còn cần phải biết học hỏi trong thực tế cuộc sống rộng lớn của xã hội Nhân dân là ông thầy vĩ đại của mỗi chúng ta. Ta cũng nên biết được rằng chính trong học tập trong thực tế cuộc sống là phương thức học tập khoa học nhất: học đi đôi với hành. Thực sự rằng học tập gắn liền với lao động sản xuất, hoạt động xã hội. Nếu như mỗi người học sinh lại như chỉ biết quanh quẩn trong bốn bức tường lớp học, cách học tập như thế đã xa rời cuộc sống. Thực sự rằng mỗi học sinh bước vào đời sẽ lúng túng, thiếu năng động. Ta như biết được các không thể xa rời nước, chim không thể thoát ly bầu trời, người đi học cũng vậy, học tập cũng không thể tách rời thực tế cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội này được.

Khi mỗi chúng ta mà biết để mà mở rộng biết nhiều, “đi một ngày đàng” tầm mắt được mở rộng, thấy được bao cảnh lạ,được chứng kiến tận mắt và được tiếp xúc được nhiều người, nghe được bao điều hay lẽ phải của thiên hạ. Và cũng chính từ đó mà biết suy xét và biết được nên xa lánh điều xấu kẻ xấu, học tập cái hay, noi gương người tốt việc tốt; “học một sàng khôn” là như vậy.

“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” quả thật là lời dạy đúng đắn, hay nói cách khác đó chính là cách học tập và giáo dục kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường: gia đình – nhà trường – xã hội. Ta như nhận thấy được rằng chính những kiến thức sách vở được củng cố khắc sâu. Thông qua đó ta như thấy được chính những sự hiểu biết được mở rộng và nâng cao. Có thể thấy được cùng với trang sách họ đường, ta có thêm pho sách cuộc sống muôn màu muôn vẻ.

Thế rồi không thể không kể đến được những hoạt động của thầy và trò như ngoại khóa, cắm trại, đi tham quan là rất bổ ích. Nó dường như cũng đã đem lại nhiều sinh khí cho trường học. Học sinh thành phố dường như đã được đến với đồng quê, nhà máy, danh lam thắng cảnh… mà yêu thêm nhân dân lao động. Và thấu hiểu được những cơ cực của người nông dân là các em nghe được những ngôn từ hoa mỹ trên lớp mà không gắn vào thực tế. Khi đi nhiều được hiểu nhiều hơn ta như thấy được sự tự hào với nhân dân đất nước.

Qủa thật ta như biết được “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là một bài học vô cùng sâu sắc đối với mỗi người. Sau thời cắp sách là thời làm ăn và tự học. Chúng ta dường như luôn luôn phải học trong công việc, học trong cuộc đời. Và có đi đường, có sống nhiều, và có khi phải thật sự lăn lộn với đời mới biết đường đi khó, lắm thử thách gian nan. Phải có quyết tâm vượt khó, có bản lĩnh thì chúng ta mới có thể chiếm lấy tầm cao để thực hiện hoài bão của mình thì mới có thể thành công được

Để có được một kết quả học tập thật tốt đẹp ta phải luôn luôn khắc ghi câu nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Và ta cũng cần phải biết được nên khiêm tốn, biết quan sát, lắng nghe, biết suy ngẫm thật, giả, tốt, xấu… lúc đó chắc chắn việc học hỏi trong thực tế cuộc sống mới thu được nhiều điều “khôn” mà mỗi chúng ta hằng mong muốn.

Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” số 7

Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” chính là một bài học quý báu đối với tất cả mọi người chúng ta. Việc học hỏi là không ngừng và học hỏi hơn nữa là điều rất cần thiết để hoàn thiện bản thân và xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn.

Đăng bởi: Hà Phương

Từ khoá: 10 Bài văn chứng minh câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” (lớp 7) hay nhất

7 Bài Văn Kể Kỉ Niệm Sâu Sắc Về Tình Nghĩa Thầy Cô Theo Ngôi Kể Thứ Nhất Hay Nhất

Nội dung chính

Bài văn kể số 2

Thầy tốt nghiệp ngành Thể dục, về dạy trường chúng tôi dễ chừng cũng trên dưới mười năm. Thầy ngày trước là một tuyển thủ về bóng chuyền, do vậy môn thể theo chính của trường tôi vẫn là bóng chuyền. Tôi không hình dung được lương giáo viên dạy thể dục khác xa với lương giáo viên dạy bộ môn chính ra sao. Nhưng mỗi sáng, thầy thức dậy sớm để cùng vợ chở rau. củ, quả ra chợ, xong việc, thầy đến trường cùng học trò. Tôi luôn thấy thầy đến rất sớm tất bật huấn luyện cho đội tuyển bóng chuyền của trường. Khỉ hết tiết dạy thầy tất bật ra chợ trông hàng giúp vợ, mỗi chiều về thầy luôn giúp vợ dọn hàng và cồng những vật nặng trên lưng mình. Thấy siêng năng thế nhưng cuộc sống vẫn chật vật, thầy lăn lộn với áo cơm và nuôi dạy con. Một đôi lần tôi trộm nghĩ, số thầy sao mà khổ, dời sông thầy khó khăn thế mà con gái thầy, cũng là bạn của tôi lại mắc phải căn bệnh về não. Tôi không biết bạn mình mắc bệnh từ khi nào, suốt năm cuối cấp II tôi thấy bạn hoàn toàn khỏe mạnh, đến lớp rồi về nhà. Hiền lành và chăm chỉ! Vậy mà chỉ sau một trận sốt, bạn phải nằm viện luôn. Thầy tôi bắt đầu những ngày tháng cơ cực, dạy xong tiết thể dục, thầy tranh thủ dọn hàng giúp vợ, rồi tất tả chạy đến bệnh viện chăm sóc con. Suốt ba năm học cấp III, tôi đã chứng kiến thầy gồng mình gánh cuộc sống trên lưng, cố hết sức để chữa bệnh cho con và kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Tôi từng hoài nghi về sức chịu đựng của con người, vì tôi nhìn thấy mình rất kém trong việc chịu đau đớn hoặc giả như trước một tai ương nào đó đầu óc non nớt của tôi luôn tính đường tháo lui. Nhưng thầy tôi lại chứng minh rành rọt rằng thầy chẳng bao giờ buông tay để cứu đứa con gái, để cứu gia đình dù rằng đôi khi không tránh khỏi cảm giác mỏi mệt. Thầy đã chọn không bao giờ bỏ cuộc trước những người mà thầy yêu thương.

Cuộc sống đôi khi tàn nhẫn hơn cả cách chúng ta cảm nhận nó. Cuối năm cấp III, cô bạn tôi mất, thầy trầm hơn nhưng nhiệt thành. Mỗi buổi sáng thầy huấn luyện cho đội tuyển, trong mắt thầy vẫn một ngọn lứa. Thầy yêu nghề và yêu học trò của thầy.

Cũng sau lần ấy, tôi được biết một bạn trong đội tuyển của thầy có dấu hiệu sử dụng ma túy và điều đáng lạ là môn nào bạn ấy cũng trốn học nhưng duy chỉ môn thể dục là luôn đều đặn, đúng giờ và phát bóng chuẩn xác. Nhàn một hôm tôi đi họp Đoàn về trễ, trong sân trường chiều tôi chỉ còn thầy và các bạn đội tuyển bóng chuyền đang luyện tập. Ngồi từ văn phòng Đoàn tôi trông thấy thầy cho đội tuyển nghỉ ngơi và tôi nghe giọng thầy có vẻ nặng nề như trách móc, như đau lòng, như bất lực trước một vấn nạn nào đó. Tôi nghe loáng thoáng thầy khóc và cố nói thật lớn cho các bạn trong đội tuyển cùng nghe, thầy đã nói: “Thầy đi dạy nhiều năm, nhìn từng lớp học trò trưởng thành. Thầy cám ơn các em mỗi khi lễ tết các em vẫn chăm đến nhà thầy, thầy cám ơn các em luôn biết khi nào đôi giày thể dục của thầy mòn và mua tặng thầy một đôi mới, cám ơn các em trân trọng những tiết học của một môn học không được coi là môn chính, không là môn trọng tâm để thi tốt nghiệp. Thầy cám ơn vì môn thầy các em không trốn tiết bao giờ nhưng chính vì điều ấy hôm nay thầy thấy mình có lỗi. Các em chăm môn Thể dục như thế ắt hẳn là chúng ta rất gần gũi nhau, gần gũi như thế mà khi thấy một vài em trong đội tuyển có dấu hiệu vướng vào ma túy, thầy lại không kéo được các em khỏi chất độc ấy. Thầy đã mất đi một người con gần gũi thầy hằng ngày, nay các em gần gũi như con thầy, lẽ nào thầy lại không hành động gì để giữ các em đừng sa chân vào cái huyệt do chính mình đào lấy. Sự sống vốn không phải là vô hạn, vì nó là có hạn nên các em phải biết dùng nó sao cho có ích nhất. Có ích theo cách của riêng các em đó cũng là các em hiểu được ý nghĩa của sự sông vậy. Kể từ hôm nay, thầy muốn các em luyện tập chăm chỉ, có sức khỏe để thi tốt nghiệp, và có ý chí để rời xa thứ chất độc đang phá hủy cuộc sống của các em. Thầy mong các em hiểu được lời thầy!”.

Đêm ấy. về nhà, tôi thấy thấm thía câu nói: “Ở lâu mới biết lòng người”. Giáo viên chủ nhiệm, hay giáo viên bộ môn mỗi năm mỗi khác. Nhưng ba năm cấp III, đội tuyển bóng chuyền chỉ có một mình thầy huấn luyện. Các bạn đội tuyển đã rất yêu và kính trọng thầy, thời gian đủ để nhận ra sợi dây tình cảm thầy trò là bền chặt từ sự gần gũi và quan tâm. Cũng đêm ấy nhìn lên bầu trời đầy sao tôi đã thì thầm với bạn tôi rằng: “Đúng như lời Kiều nói, thầy Vy ba của Kiều vừa là một người cha tuyệt vời vừa là một người thầy tròn trịa với định nghĩa nhất, Kiều à!”.

Thời gian cứ thế trôi qua, thuở cấp III tưởng như gần đâu đây. Thầy Thể dục của chúng tôi hiện giờ vẫn ngày ngày đến lớp, ngày ngày giúp vợ mang rau, quả ra chợ. Đội tuyển bóng chuyền đã thi đấu thành công, tuy không giành hạng nhất nhưng cũng nằm trong top. Một số bạn nghiện ma túy đã từ bỏ ma túy sau lời nói và giọt nước mắt thầy.

Cuộc sống vẫn cứ trôi không ngừng và tháng 11 đang về, tháng dành cho những người thầy người cô. Và cũng vì thế, những kỉ niệm về thầy dạy Văn của bạn đẹp, những kỉ niệm về cô dạy Toán của bạn hay thì những kỉ niệm về một người thầy dạy Thể dục của tôi cũng đẹp mà, phải không?

Bài văn kể số 2

Bài văn kể số 6

Bài văn kể số 2Bài văn kể số 2

Đã qua gần sáu năm cắp sách đến trường, tôi ấn tượng với rất nhiều thầy cô giáo. Thầy cô luôn để lại trong tôi những hình ảnh đẹp và mãi không phai mờ. Nhưng đặc biệt nhất với tôi và cũng là người tôi quí nhất – thầy giáo dạy tôi hồi lớp 5.

Tôi thấy rất ít người lựa chọn nghề làm thầy giáo. Thế mà thầy giáo tôi lại rất say mê với sự nghiệp trồng người này. Thầy tâm sự với chúng tôi, thầy muốn làm thầy giáo từ khi học cấp 2. Mỗi lần ngồi nghe thầy giáo giảng bài thích lắm. Trông thầy đứng trên bục giảng chững chạc, tự tin và được học trò yêu mến, thầy đã nuôi ước mơ từ đó. Về nhà, thầy bắt tụi em nhỏ ngồi sắp hàng ngay ngắn và thầy giả làm thầy giáo. Lạ lùng thay, bọn trẻ lại ngồi nghe đến say mê. Không biết chúng hiểu mấy phần “thầy” giảng nhưng đứa nào mặt mũi cũng ngơ ngẩn, say sưa. Có khi “thầy” nói xong rồi mà chúng vẫn ngồi bần thần, lúc đó phải gọi lớn chúng mới như sực tỉnh. Đó là động lực đầu tiên giúp cho ước mơ của thầy thành hiện thực.

Con đường đến với nghề của thầy cũng lắm gian nan. Vì thế mà bây giờ thầy dành cho nghề một tình yêu thật mãnh liệt. Là con trai cả trong gia đình có truyền thống làm bác sĩ, thầy được bố mẹ định hướng cho thi vào trường đại học Y. Ngay từ nhỏ, gia đình thầy đã mong muốn như thế: Thầy vốn học giỏi lại thông minh, nhanh nhẹn nên cả nhà đặt niềm hi vọng rất lớn. Nhưng năm lớp 12, bất ngờ thầy thông báo với gia đình sẽ thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm, Khoa Tiểu học. Đó là một cú sốc với gia đình, nhất là người cha của thầy. Gia đình kịch liệt phản đối quyết định của thầy, nhiều lúc làm thầy rất khổ sở nhưng chưa có lúc nào thấy dao động. Thấy vững vàng với quỵết tâm của mình và kiên trì thuyết phục mọi người.

Ngày đi thi cũng là ngày thầy buồn nhất. Không một lời chúc, không một sự động viên, thầy đi thi chỉ có một mình. Nhìn chúng ban có người thân châm sóc, thây cũng thấy tủi thân. Nhưng lúc đó thầy nghĩ mình càng phải cứng rắn và mạnh mẽ. Rồi khi đỗ thủ khoa, niềm vui của thầy cũng không được trọn vẹn. Gia đình thông báo sẽ không trợ cấp cho thầy ăn học trong ba năm. Thế là một mình thầy lại phải chống đỡ, xoay sở với biết bao khó khăn trong những năm học Cao đẳng. Vừa đi làm thêm vừa đi học, thầy bất chấp khó khăn để đạt được ước mơ của mình và để chứng minh cho gia đình sự lựa chọn của thầy không sai.

…Nhìn thầy giáo trẻ của chúng tôi lạc quan, hài hước đứng trên bục giảng ít ai có thể nghĩ rằng con đường thầy đã đi thật dài khi phải vượt qua một mình. Nhưng giờ đây thầy là một người thầy rất thành công. Không chỉ là thầy giáo dạy giỏi mà thầy còn được tất cả học trò chúng tôi yêu quí. Chúng tôi yêu quí thầy vì con người thầy tốt bụng. Tuy còn trẻ nhưng trong mắt chúng tôi thầy rất chững chạc, vững vàng. Thầy nghiêm khắc trong giờ học nhưng ngoài giờ thầy như một người khác, gần gũi, thân thiện và hài hước.

Thỉnh thoảng, thầy đá bóng với các bạn nam, nhìn lúc đó thầy như trẻ thơ vậy. Đặc biệt, với vẻ ngoài đẹp trai, cao lớn và hát hay nên mỗi khi đứng trên sân khấụ biểu diễn chúng tôi cảm giác đó không còn là thầy nữa mà là một nam ca sĩ có tiếng đang phiêu du cùng tình cảm của mình. Ấn tượng nhất là nụ cười của thầy. Thầy cười thật rạng rỡ, nhìn thầy cười người đang buồn bã cũng thấy vui lây. Có một lần thầy ốm. Không thấy thầy đến lớp cả lớp nhốn nháo hẳn lên.

Cuối giờ học chúng tôi đến nhà tìm thầy. Thấy chúng tôi đến, thầy xúc động lắm. Thầy bắt tay từng đứa một, rồi giữ ở lại ăn cơm. Bữa cơm mẹ thầy nấu hôm đó thật ngon và ấm cúng. Thầy trò vừa ăn vừa nói chuyện rôm rả. Dường như cũng nhờ đó mà gia đình hiểu hơn quyết định của thầy. Bây giờ thật khó để tìm thấy một người con trai Hà thành nào như thầy – thầy giáo dạy Tiểu học của chúng tôi. Với học trò, thầy vừa là thầy giáo nhưng hơn thế – thầy còn là một người bạn lớn.

Kể về kỉ niệm sâu sắc nhất về thầy giáo cô giáo

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa”

Đó chính là những câu thơ nói về nghề giáo, nghề mà luôn được yêu quý, kính trọng. Tôi rất yêu mến các thầy cô giáo của mình, nhưng người để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc nhất chính là cô Kim Anh- cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi.

Cô có mái tóc rất dài, mượt mà, đen nhánh và luôn phảng phất hương thơm. Đôi mắt cô to tròn, đen láy, vô cùng cương nghị nhưng cũng không kém phần dịu dàng. Khi chúng tôi đạt thành tích cao trong học tập, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, đôi mắt cương nghị của cô lại đượm buồn. Đôi bàn tay cô thon dài, luôn viết ra những mạch văn giàu cảm xúc để chuyển tải bài học đến với chúng tôi. Cô còn giúp chúng tôi nhớ bài lâu hơn bằng giọng nói của mình. Giọng nói của cô thật truyền cảm, khi thì dịu dàng, ấm áp, lúc lại dí dỏm, vui tươi khiến cho chúng tôi luôn tập trung vào bài học, quên cả thời gian. Tính cách cô hiền lành, chính trực, cô luôn nghiêm túc với công việc của mình. Hàng ngày, cô rất hay vui đùa với chúng tôi nhưng khi đã vào tiết học, cô cũng rất nghiêm khắc. Với cô dạy học không chỉ là một nghề, mà còn là một niềm đam mê. Cô luôn chuẩn bị rất kỹ cho bài giảng của mình, nhiều khi cô còn sử dụng cả những đoạn clip ngắn về bài học, giúp chúng tôi có thể tiếp thu bài nhanh nhất. Dù cô đã là một giáo viên nhưng cô vẫn học, đó là sở thích của cô. Cô luôn thức đến ba, bốn giờ sáng mới đi ngủ vì sau khi soạn giáo án, cô lại tiếp tục học bài. “Học như một con đò ngược dòng vậy, các con ạ!” Lời cô nói thấm thía lòng chúng tôi.

Tôi nhớ nhất là khi cô đi thăm quan với lớp chúng tôi. Lúc ấy, trên nét mặt cũng như trong đôi mắt của cô thể hiện sự lo lắng, bồn chồn không yên. Sau đó, chúng tôi mới vỡ lẽ, ra là hôm ấy, cô có bài thi môn triết học nhưng cô đã nghỉ thi để đi cùng với lớp chúng tôi vì cô sợ rằng có vấn đề gì không hay với chúng tôi, cô sẽ ân hận cả đời.

Một kỉ niệm đáng nhớ khác là khi tôi học hè. Khi ấy, tôi khá lo sợ do tôi đã nghỉ mất hai tuần. Tôi bước vào lớp với tâm trạng lo lắng. Cô biết là tôi đã nghỉ học, cô bèn giảng lại cho tôi những chỗ tôi chưa biết, chưa hiểu, rồi nhờ bạn cho tôi mượn vở để chép bù bài. Lúc đó tôi thấy mình nhẹ nhõm, thầm cảm ơn cô và các bạn.

Quả thật, nghề giáo thật là cao quý, giống như câu ví: “Nghề giáo là người lái đò tri thức qua sông”. Đó cũng là nghề mà tôi mong ước sau này khi trưởng thành. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi muốn gửi lời chúc tới cô rằng: “Con chúc cô luôn mạnh khỏe! Con yêu cô nhiều lắm!”

Bài văn kể số 8

Bài văn kể số 6Bài văn kể số 6

Trong cuộc sống, mỗi chúng ta không ít lần mắc lỗi nhưng có những lỗi lầm đã gây ra không bao giờ chúng ta quên được. Bây giờ, cứ mỗi lần nhớ đến cô giáo dạy văn năm lớp bảy, tôi lại thấy trong lòng mình ray rứt vì đã vô lễ với cô.

Tôi vốn là một đứa trẻ bất hạnh nhất trên đời – tôi luôn nghĩ về bản thân mình như vậy. Mẹ tôi sinh ra tôi nhưng tôi không có bố. Từ bé tôi đã luôn bị mọi người xung quanh khinh miệt, giễu cợt là “đồ con hoang”. Nhiều bà mẹ không cho con họ chơi với tôi. Tôi sống thui thủi như thế với mẹ trong căn nhà nhỏ tồi tàn cuối xóm. Từ bé, tôi không thấy ai tốt bụng và thương tôi ngoài mẹ tôi. Hai mẹ con tôi sống trơ trọi không họ hàng trong sự khinh miệt của mọi người xung quanh. Trong mắt tôi, loài người thật xấu xa và độc ác – trừ người mẹ hiền lành mà tôi hết lòng thương yêu và kính trọng. Đến tuổi đi học, tôi không chơi với bạn nào trong lớp, luôn lãnh đạm, thờ ơ với mọi người xung quanh.

Bài văn kể số 8Bài văn kể số 8

Bài văn kể số 3

Bài văn kể số 8Bài văn kể số 8

Kỷ niệm, cũng giống như những phím đàn – khi chạm tay vào, âm thanh sẽ ngân lên, nhưng không phải lúc nào cũng tuyệt vời, mà có cái hay, cái dở, cái muốn nhớ, cái lại thích xóa đi. Với em điều đáng nhớ nhất trong đời học sinh là chút kỷ niệm về thầy.

Cô nhỏ nhướn mày lên, nhìn xuống đồng hồ đeo tay, rồi dõi mắt ra ngoài cửa lớp. Nơi dãy hành lang dài đang im ắng, chờ đợi, lắng nghe tiếng giày gõ nhịp để thầm đoán: thầy hay cô? Giờ Toán của lớp 8/1 hôm nay thay đổi giáo viên. Cô giáo cũ nghỉ hộ sản. Thầy giám thị thông báo sẽ có giáo viên mới đến thay. Mười lăm phút trôi qua nhanh chóng trong sự sốt ruột của học trò. Phía cuối lớp có ai nghịch ngợm ngân nga: “Mười lăm phút đồng hồ, buồn nhớ Toán thấy mồ, buồn như con cá rô… đang trôi… vào tô…”

– Nghiêm!

Giọng trưởng lớp vang to, khá oai (nhờ to con). Thầy giám thị xuất hiện. Gần một trăm con mắt học trò đen láy đổ dồn về phía cửa. Thấp thoáng phiá sau thầy là một bóng dáng lạ, chắc “ông” thầy Toán mới ?!!. Ô, nhưng sao mà… giống học trò quá đỗi!!!

Thầy giám thị cười khá tươi:

– Xin giới thiệu với các em, đây là thầy T sẽ phụ trách môn Toán lớp 8/1 thay cho cô N…

Một tràng pháo tay ngưỡng mộ (?) vang lên như mưa rào tháng sáu. Thầy T mỉm cười gật nhẹ đầu “chào các em thân mến!”. Ôi chao, hai má thầy sao mà đỏ như màu xác pháo, cặp kính cận suýt chút nữa rơi khỏi sóng mũi. Chắc vì cảm động trước “thịnh tình” của lũ học trò cỡ… hoa khôi đến hai phần ba lớp, dành cho!

Trước khi trở về văn phòng, thầy Giám thị còn “ân cần dặn dò”:

– Các em phải học cho ngoan. Nhớ là không được phá thầy!

Ôi! Lời “đe nẹt” ấy không phải là không có duyên cớ. Bởi vì, con gái 8/1 có truyền thống mấy mùa tuy thông minh, học giỏi, đẹp người, tốt hạnh kiểm nhưng… chuyên nghịch ngợm cũng đứng vào hàng… quái chiêu! Thầy cô thương cũng lắm, mà dở khóc, dở cười cũng nhiều. Không biết trước khi vào lớp, thầy T đã “nghiên cứu lý lịch” học trò chưa mà… ngó bộ thầy “bình tĩnh rồi … run” thấy rõ.

Sau màn tự giới thiệu rất “dễ sương” – Sinh viên năm cuối Đại Học Khoa học tự nhiên (bằng cái giọng mà phong thái điệu đà như con gái). Thầy vui vẻ đòi … kiểm tra bài cũ. Bốn mươi mấy cái miệng than trời cùng lúc vẫn không làm thay đổi được quyết định “sắt đá” của thầy. Thầy cầm quyển sổ điểm dò tên (sao thầy không chịu nhìn vào sơ đồ lớp nhỉ?!) rất lâu, hai bàn tay run run (chắc do bị học trò “chiếu tướng” khá kỹ). Khi cây viết đỏ hạ xuống gần giữa sổ, một cái tên được xướng lên:

– Trần Thị L.N.

Cả lớp im phăng phắc theo từng bước đi “dịu dàng” của N., để rồi sau đó hai phút, bổng nổ ra một trận cười bom dội – N là một cô gái có dáng dấp “oai phong” của một vận động viên bóng rỗ. Cao 1m65, học trễ hai năm nên rất đáng mặt đàn chị so với cả lớp: Trong khi thầy T ốm nhom, chiều cao chỉ khoảng 1m60 hay 1m62 gì đó (cộng luôn bề dày đế của đôi giày da mũi nhọn rộng quá khổ chân). Một sự tương phản khá hài hước. Thầy T điếng người, mặt đỏ như người say nắng biển, vội vã hỏi dăm ba câu lấy lệ rồi “mời” em N về chỗ. Quyển sổ điểm được gấp lại vội vàng và bài học mới bắt đầu cũng rất nhanh chóng…

Cái sự khởi đầu nan ấy rồi cũng qua mau, rồi mọi chuyện cũng biến thành kỷ niệm. Mà kỷ niệm lại bắt đầu từ sự nhiệt tình khá ngây ngô của cả thầy lẫn trò, lúc hai bên biết “hợp đồng tác chiến” trong những giờ học Toán.

Em còn nhớ một lần, thầy T có hứa sẽ dựng mô hình cho một bài toán hình học không gian khó nuốt, để học trò dễ hình dung hơn là nhìn vào hình vẽ. Vậy mà, hai lần, ba lượt thầy … cứ quên. Lúc thì… thầy bận… học, lúc lại bận soạn bài cho môn dạy, lúc làm xong rồi nhưng… để quên ở… Ninh Hòa!!! Lần cuối cùng, thầy nhớ đem theo, mà xe đò đông quá, thiên hạ chen nhau làm hỏng mất mô hình của thầy!! Học trò đâu chịu tin! Học trò đòi thầy dựng mô hình ngay tại lớp. Thầy bối rối “huy động” thước kẻ với số lượng tối đa, “chấm” các em bé bỏng ở hai dãy bàn đầu (trong đó có cô nhỏ dễ thương) lên giúp thầy … dựng mô hình. Trời đất! Năm bảy mái tóc thề, hơn một chục bàn tay nho nhỏ, cộng thêm thầy đứng vây quanh chiếc bàn thầy giáo thì… còn ai nhìn thấy được gì! Vậy là… thầy cho học trò xếp hàng một, theo từng dãy bàn có trong lớp, từ từ tiến về phía “mô hình sinh động” tham gia theo kiểu “cưỡi trực thăng… xem hoa”. Vậy mà vui ghê gớm, vậy mà rất hoà bình. Cả thầy lẫn trò không ai thấy được nét ngây ngô, khờ khạo trong hành động của mình, mà còn xem như đó là một “kỳ tích” của thứ chỉ số IQ thuộc vào loại thông minh?

Nhưng không phái lúc nào cũng hòa bình. Rồi cũng có lần, thầy nổi giận hét to như … “Trương Phi” chỉ vì chút nghịch ngợm đi quá đà của lũ học trò thơ dại, tinh nghịch. Khiến học trò rơm rớm nước mắt tủi hờn. Còn thầy bất chợt dịu xuống như … giọt nắng cuối thu để hỏi một câu thật dễ “Ký kết hiệp ước hoà bình”:

– Ôi, sao bỗng dưng các em ngoan quá vậy?

Vâng, thầy T của em là vậy đó – người không biết giận lâu, người rất dễ quên hờn, dễ nhập cuộc với áo trắng ngu ngơ. Thầy như một chiếc lá, vô tình vờ rơi xuống mặt nước hồ đang dao động của tuổi học trò, góp thêm một con sóng giao thoa nhỏ bé, rồi lại theo gió cuốn bay đi … Thầy dạy chưa hay, giảng bài chưa hấp dẫn. Chúng em biết vậy, nhưng học trò không chê, mà mặc nhiên chấp nhận như một thứ kỷ niệm, xếp bên cạnh những tầng lớp kỷ niệm phải có trong tuổi ngây thơ, đáng quý của tuối học trò. Thầy T rất hẳn nhiệt tình (dẫu rằng thầy càng nhiệt tình giảng giải, học trò càng… nhiệt tình ngơ ngác!). Bởi đối với thầy T, tất cả những gương mặt trong sáng ngồi bên dãy bàn học bằng gỗ dưới kia, đều được thầy xếp đồng đẳng bằng một cái “mác” học trò đơn giản. Chúng như một quần thể tập hợp từ những cá thể lạ lẫm mà thầy đang có nhu cầu khám phá và ghi nhớ. Nhu cầu hòa nhập để vô tư yêu mến, bỏ qua những cái mà thiên hạ âu yếm gọi là danh vị, tiền tài của mẹ cha chúng bên ngoài xã hội…

Nếu có ai bảo học trò 8/1 ngày ấy – Hãy chọn ra một nhân vật kỳ lạ nhất trường. Cô nhỏ năm xưa tin chắc, cả lớp sẽ đồng lòng bỏ phiếu cho thầy – Thầy T, thầy Toán lớp em.

Ai bảo học trò ngày xưa khác với ngày nay? Đâu có, khá giống nhau đấy chứ (khi nhìn theo một khía cạnh muốn nhìn!). Họ cũng thích cóp nhặt kỷ niệm, hình thành từ những mảnh pha lê rơi rớt (dẫu không tròn trịa) trong suốt khoảng đời còn làm… “Cái thứ ba… danh tiếng…”

Bài văn kể số 3Bài văn kể số 3

Bài văn kể số 1

Bài văn kể số 3Bài văn kể số 3

Thực sự trong quãng đời học sinh của chúng ta hẳn ai ai cũng có những kí ức khó mà phôi pha dù năm năm, mười năm hay là hai mươi năm hay nhiều hơn nữa. Và chắc chắn rằng ký ức về người thầy, người cô chưa bao giờ tan biến mất. Em cũng vậy, kỷ niệm về người thầy dạy học của em dưới mái trường Trung học xưa em không bao giờ quên được.

Em nghĩ rằng vào một mai nào đó, trong chúng ta có người lên đỉnh vinh quang và cũng có người bình dị với phấn trắng bảng đen, hoặc cũng có khi lại bằng lòng với lẽ thường nhật của cuộc sống. Thế nhưng chắc chắn một điều rằng những ký ức của người thầy luôn luôn theo họ mãi cho dù thời gian có phai mờ như thế nào đi chăng nữa.

Thế rồi một kỷ niệm em nhớ mãi về thầy, đó là việc em không học bài cho bài kiểm tra sắp đến. Đương nhiên là bài kiểm tra đó em bị điểm kém. 3 điểm chính là kết quả cho sự ham chơi của em, từ lúc đó em càng không yêu mến bộ môn này hơn. Thầy thấy sự uể oải trong những giờ dạy văn của em ngày càng lớn và thầy đi xuống vẫn cứ ân cần hướng dẫn bài cho em. Thỉnh thoảng thầy nhắc lại bài kiểm tra lần trước cho cả lớp nhưng không hề nói tên em là nhân vật bị điểm kém đó. Em thấy tự mình vô cùng xấu hổ, em đã xin lỗi thầy và sẽ cố gắng học thật tốt.

Em chăm chỉ hơn trong các bài dạy của thầy và cũng từ đó em học tốt trở lại. Cho dù em đã lên cấp 3 rồi nhưng những bài dạy của thầy cũng luôn luôn nhắc nhớ em để em học tốt hơn.

Bài văn kể số 5

Bài văn kể số 1Bài văn kể số 1

Nếu có ai hỏi: “Người thầy, cô giáo em quý mến nhất trong suốt năm năm học tiểu học của em là ai?” Thì em sẽ không ngần ngại mà trả lời ngay: “Đó là thầy Nha”. Người thầy giáo đã tận tình dạy dỗ em năm lớp một. Và với em đó cũng là người cha thứ hai của mình.

Mặc dù bấy giờ thầy trò đã xa nhau. Nhưng những kỉ niệm sâu sắc năm em còn học lớp 1C của thầy thì không thể nào quên được. Ở lớp, em là đứa duy nhất viết tay trái nên thầy vẫn phải thường cầm bàn tay em nắn nót từng nét chữ. Và mặc dù thầy hết lòng dạy dỗ mà các ngón tay của em cứ nhất quyết không chịu nghe lời. Các chữ cái a, ă, â,… chẳng bao giờ ngay hàng thẳng lối và lúc nào cũng méo mó như bị ai nện một cây gậy vào. Ấy vậy mà bàn tay trái tuy không có ai dạy dỗ cả mà lại viết đẹp hơn nhiều. Khiến cho thầy phải thốt lên: “Thật là ngược đời”. Một hôm, khi tới giờ tập viết – tiết học căng thẳng nhất của em lúc ấy khi thấy thầy ra ngoài lớp nghe điện thoại. Thầy vừa bước ra khỏi cửa là em vội vàng đổi sang viết tay trái. Đến cuối giờ, thầy bảo em đưa vở lên chấm. Em hồi hộp đưa mắt nhìn thầy, bỗng thầy ngồi dậy, xoa đầu em:

– Hôm nay Thăng giỏi quá! Viết đẹp ghê ta! Có sự tiến bộ vượt bậc đấy.

Rồi thầy quay xuống lớp nói to:

– Để mừng sự tiến bộ của bạn, các em cho một tràng pháo tay nào!

Nhìn sự mừng rỡ không một chút nghi ngờ trong đôi mắt thầy mà trong lòng em thấy hổ thẹn vô cùng. Tối hôm đó, em trằn trọc không ngủ. Đến sáng hôm sau, em quyết định sẽ nói hết sự thật với thầy. Nhưng ngồi trong lớp, em không đủ can đảm để nói ra sự thật với tất cả các bạn và thầy. Mãi đến lúc tan trường, khi các bạn đã về hết và thầy cũng định đi về thì em mới nói với thầy:

– Thầy ơi, em có chuyện muốn nói.

Thầy đưa mắt nhìn em, hỏi:

– Thăng em, em có chuyện gì thế?

Nghe thầy hỏi, mặc dù đã chuẩn bị kĩ cho giờ phút này nhưng em vẫn thấy chột dạ. Ấp a, ấp úng mãi, em mới nói được một câu:

– Thưa th…â…ầy, chuyện ngày hôm qua em…

– Chuyện ngày hôm qua nó làm sao?

Em bật khóc:

– Thưa thầy, hôm qua em đã nói dối thầy. Bài tập viết đó không phải do em nắn nót bàn tay phải như thầy đã dạy mà đó là thành quả của … bàn tay trái ạ.

Nghe em nói, khuôn mặt thầy lộ vẻ buồn phiền và hơi giận dữ, nhưng chỉ một lát sau, khuôn mặt ấy là trở về vẻ hiền từ. Thầy lấy tay gạt nước mắt của em bảo:

Em mừng rỡ cảm ơn thầy rồi ôm cặp, nhanh chân bước về nhà và thầm hứa với lòng mình từ nay sẽ chuyên tâm học hành nghiêm chỉnh để không phụ lòng thầy.

Bấy giờ, khi đã rời xa mái trường tiểu học mến yêu, thời gian có thể trôi qua, mọi thứ có thể phai nhoà theo năm tháng. Nhưng hình ảnh người thầy đáng kính sẽ mãi mãi theo em đến suốt cuộc đời.

Bài văn kể số 7

Bài văn kể số 5Bài văn kể số 5

Có lẽ, trong thời gian đi học từ trước tới giờ, chưa giáo viên nào lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc và sự yêu mến đầy xúc động như thế.

Lần đầu tiên cô bước vào lớp không phải là một buổi đầu của năm học. Cô nhận lớp khi giáo viên cũ chuyển trường, và bản thân cô cũng là giáo viên mới đến. Lớp tôi là một lớp chọn, tuy vậy cũng có học sinh giỏi, học sinh yếu, tuy vậy cả lớp vẫn luôn thương yêu, đoàn kết với nhau. Nhưng đa số các thầy cô giáo đều không mấy hài lòng với lớp tôi chỉ vì tật mất trật tự trong giờ và ý thức kém. Lớp tôi – 9A1 có 26 thành viên. Buổi đầu cô vào lớp – cái tình trạng ấy, tất nhiên là diễn ra khiến lớp như một cái chợ vỡ. Cô không tỏ vẻ gì tức giận, chỉ nhẹ nhàng khuyên chúng tôi: “ Các con trật tự đi để chúng ta học bài.”

Rồi, không biết từ bao giờ, cả lớp tôi bị cô thuyết phục bởi những câu văn ngọt ngào, ấm áp tình người của cô. Vâng, cô dạy Văn, dạy chúng tôi làm người.Cô có giọng đọc hay, cho dù qua 18 năm dạy, giọng đọc ấy không còn được hay như ngày trước, nhưng trong ấy vẫn có tình cảm của cô dành cho mỗi ý văn. Tôi nhớ rõ lần cô đọc cho chúng tôi nghe văn bản “Làng”. Cả lớp tôi im phăng phắc. Cô từng kể rằng cô theo ngành sư phạm là vì ngày xưa, khi thầy cô đọc cho cả lớp nghe văn bản “ Lão Hạc”, thầy đã khóc rất nhiều. Điều này đã gây cho cô một ấn tượng mạnh. Tôi cũng là một học sinh giỏi văn và có tình yêu với văn học.Vì thế mà không lạ khi tôi được chọn vào đội tuyển thi học sinh giỏi môn Văn. Vì thời gian ôn thi tưởng chừng không có nên cô tình nguyện kèm cho tôi và một vài bạn nữa tại nhà cô. Chúng tôi rất bất ngờ khi tới nhà cô.

Đó không phải là một khu chung cư cao cấp, cũng không phải là một căn nhà riêng cao rộng. Nhà cô nằm trong một khu tập thể cũ ở cuối đường Hoàng Quốc Việt, cách trường tới gần 10km. Nhà cô chật lắm, mấy đứa không có chỗ ngồi phải ngồi xuống đất, kê ghế làm bàn. Nhưng bù lại cho sự chật chội về không gian đó là tình cảm yêu thương bao la cô dành cho chúng tôi. Cô coi chúng tôi như con, chúng tôi cũng coi đó như nhà mình vậy. Tôi nhớ hôm đầu đi học, tôi chưa kịp ăn gì, đói quá nên lúc đến nhà cô tôi đánh liều xin cô bát cơm. Thức ăn thật giản dị với đậu sốt cà chua và rau muống luộc, nhưng rất ngon. Là vì tôi đói hay là vì tôi cảm động quá? Cô rất thương chúng tôi. Tình yêu thương cô dành cho chúng tôi là vô hạn. Chúng tôi cũng thế! Nhưng….

Một thông báo đến với lớp nói rằng, tôi không được thi học sinh giỏi văn nữa. Buồn, tiếc, thắc mắc rồi tức giận. Tôi giận cô lắm, sao cô lại làm thế với tôi. Biết vậy tôi đã học tiếng anh, đăng kí để đi thi rồi. Tôi giận cô nhiều lắm. Hôm đấy tôi cố tình không gặp cô. Tôi xin nghỉ hai tiết văn cuối để đi học đội tuyển Anh vì tôi cũng có tên trong đổi tuyển.Tôi vờ như chưa biết gì nhưng tôi đã khóc nhiều lắm. Có lẽ cô cũng biết nhưng không nói, không nói gì cả.

Đêm đó về nhà, nghĩ lại ánh mắt của cô, nghĩ lại những hành động của mình, tôi hối hận lắm. Phẳi chăng lúc đó cô mắng tôi, trách móc tôi thì tôi đã có lí do để giận cô, để tức tối với cô. Nhưng không, cô chỉ nói nhẹ nhàng, ánh mắt cô nhìn tôi đã nói lên tất cả. Tôi xem xét lại bản thân mình, thấy mình sai quá. Cô ơi, em xin lỗi!

Tên cô, cái tên giản dị của cô sẽ vang mãi trong tôi, bởi chính bản thân cái tên ấy đã ngân vang lên rồi. Vâng, tên cô là Vũ Thị Ngân!

Đăng bởi: Hoàng Yến BB

Từ khoá: 7 Bài văn kể kỉ niệm sâu sắc về tình nghĩa thầy cô theo ngôi kể thứ nhất hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Diễn Văn Kỷ Niệm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ 27/7 Diễn Văn Ngày 27/7 Hay Nhất trên website Quar.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!