Xu Hướng 2/2024 # Khám Phá Tục Lệ Mai Táng Độc Nhất Vô Nhị Của Người Toraja # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Khám Phá Tục Lệ Mai Táng Độc Nhất Vô Nhị Của Người Toraja được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Quar.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hàng ngàn năm nay trên đất nước vạn đảo Indonesia vẫn còn lưu giữ nhiều tập tục xưa, trong đó tục lệ mai táng người chết vô cùng lạ lùng, độc đáo, thậm chí cực kỳ lạc hậu.

Những hình nộm trước ngôi mộ – Ảnh: Amusing

Đó chính là bộ tộc Toraja, sinh sống trong một thung lũng đẹp như tranh vẽ Londa, nằm cách trung tâm tỉnh Sulawesi, Indonesia 300km về phía nam đảo Sulawesi.

Dân số Toraja vào khoảng 650.000 người, trong đó 450.000 người vẫn đang sống trong Tana Toraja (lãnh địa của người Toraja), nằm tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Tuy ở đây có sự pha trộn nhiều tôn giáo khác nhau, phần lớn là Kitô giáo, một số là Hồi giáo… nhưng thế giới quan của họ đều hướng về những thực thể tâm linh, thậm chí vô tri vô giác.

Đối với người Toraja, sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời không phải khi chào đời, ngày sinh nhật hay lễ thành hôn, mà đó chính là cái chết.

Họ xem cái chết như là cách để bước vào thiên đường, tìm một thế giới mới giàu có hơn và tốt hơn thế giới hiện tại, vì thế họ rất coi trọng các nghi thức tang lễ.

Chôn trẻ sơ sinh chết yểu vào thân cây, lễ diễu hành của những xác ướp… có thể nói đây là những nghi lễ phức tạp, kỳ dị nhất thế giới mà chỉ ở tộc người Toraja mới có.

Những xác chết được chôn cất trên các vách đá của ngọn núi – Ảnh: Amusing

Những quan tài được treo lủng lẳng trên vách đá – Ảnh: odditycentral

Với người Toraja, tang lễ là sự kiện quan trọng để kết nối toàn bộ các thành viên trong gia đình và là dịp cho tất cả dân làng củng cố niềm tin vào truyền thống của tổ tiên.

Khi có một người Toraja mất đi, một loạt nghi lễ sẽ được tiến hành trong nhiều ngày gọi là Rambu Soloq. Nhưng tang lễ không diễn ra ngay lập tức, vì một gia đình thường không đủ ngân quỹ cần thiết để trang trải chi phí.

Họ chờ qua vài tuần, vài tháng, thậm chí nhiều năm để gây quỹ cho đến khi đủ tiền. Nhiều gia đình lún sâu vào cảnh nợ nần để tổ chức một lễ an táng, thậm chí phải hoãn hay hủy việc cưới xin nếu trong gia đình đó có người già yếu hay đang ở tình trạng “gần đất xa trời”.

Trong thời gian này, thi thể của người chết được lưu giữ ngay tại nhà và chỉ được coi là đang bị bệnh hay đang ngủ chứ chưa thật sự chết.

Khi chết đi, một loạt nghi lễ sẽ được tiến hành trong nhiều ngày – Ảnh: odditycentral

Qua thời gian, những quan tài mục nát khiến xương, sọ người rơi ra ngoài – Ảnh: Indonesia.travel

Qua thời gian, những quan tài mục nát khiến xương, sọ người rơi ra ngoài – Ảnh: Indonesia.travel

Sau khi có đủ tiền, các nghi lễ có thể tiến hành. Đầu tiên, họ tổ chức giết mổ hàng chục con trâu và hàng trăm con lợn để cúng lễ. Nhưng trước khi bị giết thịt, theo tục lệ, các con vật này sẽ phải tham gia một cuộc đấu gọi là Tedong silaga.

Sau khi bị giết, thịt các con vật được chia cho những người khách đến dự tang lễ và linh hồn của người quá cố cũng được hưởng một phần thịt gọi là Aluk Todolo.

Hàng chục trâu, bò…được giết mổ để cúng tế thần linh trong lễ mai táng – Ảnh: Travelpod

Khách du lịch cũng có thể tham dự tang lễ miễn là họ không được mặc trang phục màu đen hoặc đỏ.

Về việc mai táng, người Toraja rất ít khi được chôn cất trong lòng đất. Thi thể người chết thường được đặt trong hang đá hay trong các quan tài bằng gỗ treo lơ lửng trên những vách đá. Do vậy, để xây dựng một ngôi mộ thường rất tốn kém và mất đến vài tháng để hoàn thành.

Đặc biệt, trước mỗi ngôi mộ đều có một hình nộm gỗ chạm khắc chân dung của người chết gọi là tau tau. Thật không may, rất nhiều hình nộm tau tau đã bị đánh cắp để bán cho khách du lịch nên hiện nay nhiều gia đình Toraja đã giữ chúng trong nhà.

Buổi lễ diễn ra trong không khí vui tươi, nhiều người còn đến chúc nhau… – Ảnh: Travelpod

Lemo là khu vực có nhiều ngôi mộ nằm trong hang đá nhất. Còn Ke’te kesu’ là nơi có nhiều quan tài treo lơ lửng. Các quan tài được trang trí đẹp mắt, nhưng theo thời gian gỗ bắt đầu mục nát và xương người chết có thể rơi ra ngoài.

Trẻ em nếu chết trước khi mọc răng không được chôn trong các hang động hoặc treo trên vách đá mà được chôn bên trong các thân cây. Thi thể đứa trẻ được bọc vải và đặt vào một lỗ khoét trên thân cây đang lớn, bịt kín lại bằng một cánh cửa làm từ thân cây cọ.

Người dân tin rằng xác đứa trẻ sẽ được cây hấp thụ và đây là nhà của linh hồn chúng. Trên một thân cây có thể có đến hàng chục đứa trẻ được an táng.

Dù các ngôi mộ được xây cất, nhưng các nghi thức vẫn còn tiếp diễn dài và đầy phức tạp. Mỗi năm vào tháng 8, một nghi lễ gọi là Ma’Nene sẽ diễn ra, xác của người chết sẽ được đào lên được rửa sạch và mặc quần áo mới.

Sau đó, những xác ướp này sẽ được các thành viên trong gia đình rước đi vòng quanh ngôi làng giống như những thây ma di động. Thời gian tiến hành nghi lễ này kéo dài trong ba ngày.

Các thây ma được gia đình mặc áo mới – Ảnh: Amusing

Điều kỳ diệu là những thây ma này có thể đứng dậy được, di chuyển quanh làng và tự tìm cách về nhà của họ như còn đang sống.

Người Toraja tin rằng người chết vẫn còn tồn tại, họ quay về để gặp lại người thân, họ hàng và việc này giúp họ giao tiếp với thế giới bên ngoài, thậm chí cả khi đã chết hàng trăm năm. Do đó, người dân thường hay mời các pháp sư đến để gọi linh hồn và khiến những xác chết này phải sống lại.

Những vị pháp sư có thể làm một cái xác chết nằm bất động trong quan tài có thể đứng dậy di chuyển khắp nơi bằng chính những lời khấn cầu, văn tế…

Và hành động đào mộ của con cháu trong gia đình sẽ không được trách phạt, vì đây là tục lệ truyền thống chung của cả làng. Đặc biệt, khi xác chết đứng dậy tìm đường về nhà, lỡ may có người nói chuyện với thây ma, nó sẽ ngã xuống và không thể đứng dậy được nữa.

Thây ma được các pháp sư gọi hồn đứng dậy tìm đường về nhà – Ảnh: Dailygrai.

Dù nghi thức này rất phổ biến ở Indonesia, nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được lời giải đáp thỏa đáng về hành động của pháp sư khiến các thây ma đứng dậy và tự tìm đường về nhà.

Nghi lễ an táng đặc biệt của người Toraja hiện thu hút hàng ngàn khách du lịch và các nhà nhân chủng học tới hòn đảo này mỗi năm. Và kể từ năm 1984, Tana Toraja đã được biết đến như là điểm đến thu hút du lịch thứ hai sau Bali do Bộ Du lịch Indonesia công bố.

Người Toraja rất tự hào về điều này vì nó giúp bảo tồn nền văn hóa truyền thống của họ thay vì bị thay thế bởi nền văn minh hiện đại bên ngoài.

Đăng bởi: Phượng Đồng

Từ khoá: Khám phá tục lệ mai táng độc nhất vô nhị của người Toraja

Chùa Một Mái Độc Nhất Vô Nhị

1. Nguồn gốc chùa Một Mái Yên Tử

Trong số rất nhiều chùa, tháp tại Yên Tử, chùa Một Mái được coi là độc nhất vô nhị do chính vẻ đơn sơ mộc mạc nhưng ẩn chứa trong đó là cả một giá trị lịch sử to lớn.

Chùa Một Mái còn được gọi là chùa Bán Mái, tên chữ là Bán Thiên tự. Xa xưa, nơi đây chỉ là một am nhỏ gọi là am Ly Trần. Cảnh am tĩnh lặng, thanh thoát, cách xa nơi trần tục (ly trần). Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông và các môn sinh, đệ tử thường từ chùa Hoa Yên sang đây đọc sách soạn kinh. Sau khi Ngài hiển Phật, người đời sau dựng chùa tại am này.

Chùa Một Mái Yên Tử

2. Vị trí chùa Một Mái Yên Tử

Từ chùa Hoa Yên, đi về phía Đông khoảng 200 mét, qua sân tháp sau chùa, tới hàng tùng rễ bám vào núi đá, du khách bắt gặp một ngôi chùa nhỏ chênh vênh trên vách núi. Đó là chùa Một Mái. Chùa xưa vốn là động Thanh Long, tương truyền Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông lập am Ly Trần (thoát cõi trần) để làm nơi đọc sách, soạn kinh. Sau khi đức Điều Ngự viên tịch, am xưa được dựng thành ngôi chùa Bồ Đà, một nửa mái chùa là vòm động, một nửa mái chùa phô ngoài trời nên chùa có tên là Bán Thiên, Bán Mái, ngày nay gọi là chùa Một Mái.

Không như các ngôi chùa khác, chùa chỉ có một mái, tạo cảm giác trong chùa có hang mà trong hang lại có chùa.

Ngôi chùa độc nhất vô nhị

3. Kiến trúc chùa Một Mái Yên Tử

Chùa Một Mái có vị trí xây dựng và kiến trúc rất độc đáo. Ngay từ cái nhìn đầu tiên đã cảm nhận được sự riêng biệt của ngôi chùa này. Chùa được xây dựng sát bên mép đá. Nhìn từ xa giống như cheo leo bên sườn một ngọn núi, xung quanh cây cối bao phủ  khắp không gian, tạo cho chùa sự thanh tịnh và mát mẻ lạ thường.

Toàn bộ kiến trúc chùa Một Mái được làm bằng gỗ, cao hơn đầu người chút ít, trong đó nửa trong của chùa là ngách hang, nửa còn lại được dựng bằng gỗ phần mái chỉ có một bên. Chùa có kích thước dài: 9,6m; sâu: 1,7m; chạm thượng lương: 2,3m; từ nền chùa đến xà: 1,55m; nửa vì mái rộng 0,9m; chia làm bốn gian, hệ thống tường bao phía trước là những ván gỗ ghép lại với nhau.

Ngôi chùa vẫn giữ nguyên hệ thống tượng thờ và đồ thờ bằng đá trắng

Đây chính là ngôi chùa duy nhất của Yên Tử ngày nay vẫn giữ nguyên hệ thống tượng thờ và đồ thờ trong chùa toàn bằng đá trắng có niên đại cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Bát hương bằng đá trắng khắc chữ “Phật, Pháp, Tăng – tam bảo kim cương” (Phật, Pháp, Tăng – ba ngôi tôn quý) và câu thần chú Mật tông “Úm ma ni bát mê hồng” (Tâm Bồ-đề nở trong lòng người) khắc vào năm 1853. Một số bia đá ghi lại hành trạng của các Thiền sư tu ở chùa Bồ Đà, ghi danh Phật tử hảo tâm công đức trùng tu chùa.

Kiến trúc rất độc đáo của chùa Một Mái

4. Nét độc đáo của chùa Một Mái Yên Tử

Chùa ngự trên một sườn núi nhỏ cách chùa Hoa Yên về phía bên trái khoảng 500m, nằm nép mình bên sườn núi ở vị trí cao giữa lưng trời, một nửa chùa ẩn sâu trong hang núi, nửa còn lại nhô ra bên ngoài chỉ có một phần mái, đúng như tên gọi của chùa… tạo nên cảm giác trong chùa có hang, trong hang lại có chùa.

Ngôi chùa tuy nhỏ nhưng rất độc đáo bởi chùa là nơi duy nhất của Yên Tử ngày nay vẫn giữ nguyên hệ thống tượng thờ và đồ thờ trong chùa toàn bằng đá trắng có niên đại cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Bát hương bằng đá trắng khắc chữ “Phật, Pháp, Tăng – tam bảo kim cương” (Phật, Pháp, Tăng – ba ngôi tôn quý) và câu thần chú Mật tông “Úm ma ni bát mê hồng” (Tâm Bồ-đề nở trong lòng người) khắc vào năm 1853. Một số bia đá ghi lại hành trạng của các Thiền sư tu ở chùa Bồ Đà, ghi danh Phật tử hảo tâm công đức trùng tu chùa.

Bên ngoài chùa chỉ có một mái

Trong chùa có những giọt nước ngầm trong vắt chảy ra được ví như là dòng sữa mẹ. Sư trụ trì lấy nước tinh khiết này để tắm quả và lễ Phật. Du khách tới đây ai cũng muốn uống một ngụm nước để lấy phúc. Dân gian tin rằng, lấy nước ở đây và nước giếng chùa Đồng về thắp hương gia tiên rất linh nghiệm. Vì lẽ đó nhiều phật tử đến chùa thắp hương xin nước về để cúng quanh năm tại nhà.

Chùa Một Mái với kiến trúc độc đáo tựa vào vách núi giữa lưng trời, cùng cảnh trí thiên nhiên xung quanh đầy ngoạn mục, tiếng chim hót, tiếng suối reo càng tôn thêm cảnh sắc bồng lai trác tuyệt của chốn thiền Yên Tử.

Đăng bởi: Hằng Nguyễn

Từ khoá: Chùa Một Mái độc nhất vô nhị

Các Tập Tục Mai Táng Khác Thường Ở Tây Tạng

Tục lệ mai táng người chết ở Tây Tạng rất đa dạng với những cách lý giải đặc biệt về linh hồn và sự sống và có thể kể đến tháp táng, hoả táng hay thiên táng

Tục lệ mai táng người chết ở Tây Tạng rất đa dạng với những cách lý giải đặc biệt về linh hồn và sự sống, trong đó không thể không kể đến tháp táng, hoả táng hay thiên táng.

Nằm biệt lập ở độ cao từ 5.000 m so với mặt nước biển trên dãy Himalaya, Tây Tạng gần như không bị tác động bởi xã hội bên ngoài. Nơi đây có khí hậu vô cùng khắc nghiệt, cộng thêm những lý do tôn giáo mà tục lệ mai táng người chết ở Tây Tạng rất đa dạng. Tuy nhiên, tuỳ theo địa vị mà mỗi thành phần trong xã hội sẽ được mai táng bằng những cách khác nhau.

Tháp táng

Đây là nghi thức tang lễ cao quý và thiêng liêng nhất ở Tây Tạng, dành riêng cho các Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma và Phật Sống. Khi một Lạt Ma qua đời, xác của họ sẽ được rút nước và ướp trong các thảo mộc quý hiếm, đồng thời rải lá vàng và nghệ tây khắp cơ thể. Sau đó, xác chết được chuyển đến bảo tháp và bảo quản cẩn thận để thờ cúng. Bảo tháp có thể làm từ vàng, bạc, đồng, gỗ hay thậm chí cả đất. Điều này được quyết định dựa theo cấp bậc của Lạt Ma.

Nơi yên nghỉ của các vị Lạt Ma theo hình thức tháp táng. Ảnh: Tibet Vista.

Hoả táng

Hoả táng được xem như ít cao quý hơn tháp táng, dành cho các nhà sư chức vị cao và giới quý tộc. Theo đó, xác chết sẽ được đặt trên rơm và gỗ để đốt cháy. Phần tro cốt của nhà sư được đưa vào hộp gỗ hay bình đất nung, chôn tại đỉnh đồi, một mảnh đất linh thiêng hay mang lên đỉnh núi phát tán theo gió hoặc thả xuống sông. Riêng tro của Đức Phật Sống hay Lạt Ma thường được cho vào những tháp vàng, bạc nhỏ và lưu giữ cùng với những sách Phật giáo cổ cùng kho báu.

Thiên táng (Điểu táng)

Thiên táng là hình thức mai táng phổ biến nhất ở Tây Tạng, như một cách con người hiến dâng thi thể lần cuối cùng cho trời đất, tạo điều kiện cho linh hồn bay lên và tái sinh trở lại. Tuy nhiên, thiên táng thường tạo cảm giác đáng sợ vì người Tây Tạng đưa thi thể lên núi để làm mồi cho đàn kền kền đói.

Thiên táng thường áp dụng cho dân thường hoặc những người giàu có. Trong thiên táng cơ bản, xác người dân được đưa lên núi và để chim kền kền tự tìm đến. Còn với người giàu có, thi thể được tắm rửa sạch sẽ, bọc trong vải trắng và được các Lạt Ma cầu nguyện đưa linh hồn thoát ra khỏi địa ngục.

Trong hành trình đến cõi vĩnh hằng, thi thể sẽ được đoàn người tiễn đưa đem lên núi, phân thành các mảnh để tiện cho lũ kền kền thực hiện công việc. Theo quan điểm của người Tây Tạng, lũ chim ăn càng sạch thì người chết mới có thể siêu thoát hoàn toàn. Sau đó, khi loài chim bay lên, linh hồn của họ cũng theo cánh chim mà bay lên tận trời cao.

Thiên táng tại Học viện Phật giáo Larung Gar. ẢNh: Tibet Travel.

Thuỷ táng

Trong thuỷ táng, xác chết được bọc trong vải trắng rồi thả trôi sông. Có hai quan điểm khác nhau về hình thức này. Ở nơi thiên táng phổ biến, thuỷ táng bị coi là cách thấp kém, chuyên dùng để mai táng người ăn xin hoặc người có địa vị thấp trong xã hội. Ngược lại, ở những nơi không thể thực hiện thiên táng, thuỷ táng được chấp nhận rộng rãi với những quy tắc thiêng liêng và trang trọng.

Vách táng

Vách táng thường được áp dụng ở miền nam Tây Tạng và do các nhà sư quyết định phương thức tang lễ nào sẽ phù hợp với người chết. Theo đó, xác chết sẽ được đặt trong hộp gỗ và đem đến một hang động ở vách đá có độ cao 50-300 mét so với mặt đất.

Địa táng

Trái ngược với các nơi khác trên thế giới, địa táng (chôn cất) là hình thức thấp kém nhất, chỉ áp dụng cho những người mang bệnh dịch hoặc kẻ sát nhân. Địa táng có hai ý nghĩa: một là để loại bỏ sự lây lan của bệnh dịch, hai là để trừng phạt người chết bằng cách đưa họ xuống địa ngục.

Đăng bởi: Ngày Tận Thế

Từ khoá: Các tập tục mai táng khác thường ở Tây Tạng

Tục Lệ Kiêng Cữ Trong Lễ Cưới Của Người Dao Đỏ

Vừa qua, trong chuyến đi lên Lào Cai, tôi được nghe kể về chuyện “dựng vợ, gả chồng” cho đôi uyên ương Lý Láo San và Lò Tả Mẩy ở xã Tả Van, huyện Sa Pa. Câu chuyện như một bài ca về tính cẩn trọng, sự nhẫn nại của người Dao Đỏ trong văn hóa Việt Nam.

Nét đẹp của người con gái Dao đỏ

BỐN LẦN ĐI LẠI

Chuẩn bị rước dâu

Lần thứ hai, nhà trai xem ngày lành, đem lễ vật gồm 2 vòng tay, 2 đồng bạc và chai rượu sang nhà gái. Bố chàng trai rót 2 chén rượu mời bố cô gái, rồi nói đại ý: nhà trai vẫn mong muốn được kết thông gia, nếu đồng ý thì hai ta cạn chén rượu này. Hai ngày sau, nhà gái không trả lại lễ vật thì coi như nhất trí. Ở hai lần này, trên đường về nhà, nếu bố chàng trai gặp người đánh nhau, hay trâu bò húc nhau… thì coi như “đường không thông”, sự đi lại sẽ chấm dứt và đến nhà gái xin lại lễ vật.

Lần thứ ba, bố chàng trai mang con gà trống sang nhà gái, làm thịt và cùng nhau xem chân gà. Nếu có ngón chồng lên nhau là không được, hai bên phải dừng lại. Nếu các ngón cong đều, chuyện hôn nhân mới được tính đến, nhà trai sẽ chuẩn bị lễ vật gồm 5 đồng bạc, 10 lít rượu, 1 đôi gà, 1 lợn, nửa cân muối, nửa cân mì chính, 1 cân miến, 1 gói ớt, 1 gói thảo quả, 1 tập giấy bản đỏ, và tiền để ăn hỏi. Hai bên sẽ lập Bản cam kết hôn nhân, đưa lên bàn thờ cúng.

Rước dâu

MỘT NĂM CHUẨN BỊ

Ai cũng vui vẻ, tươi cười

Trong đám cưới người Dao đỏ, cái được mọi người quan tâm nhiều nhất là bộ trang phục cưới của cô dâu. Bộ này gồm… 18 thành tố với 21 đầu hiện vật, được mặc theo thứ tự như sau: khăn quấn tóc, yếm, áo, quần, thắt lưng to, thắt lưng đính chuông bạc, thắt lưng vải trắng, 2 khăn quấn chéo ngực, vòng cổ, mũ cưới, khăn đỏ dài, 2 khăn đính đồng bạc, 2 khăn đính quả bông đỏ, khăn sau lưng, khăn đính quả chuông bạc, khăn thêu hoa văn, khăn vải trắng và cuối cùng là ô che đầu.

Với bộ trang phục đồ sộ này, cô dâu phải chuẩn bị hàng năm trời. Trong đó, công phu nhất là công đoạn nhuộm chàm và thêu hoa văn. Riêng thêu hoa văn mất từ 3-4 tháng và phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt. Hoa văn trên áo phía trước thêu hình quả núi, trên có cây to, dưới cây nhỏ; hoa văn sau lưng là hình cây cỏ; chỉ có hoa văn ở cổ áo là tùy ý thích của cô gái.

Bộ trang phục được cô dâu và nhà gái hết lòng chăm lo. Bởi lẽ, cả 4 lần nhà trai đi lại nhưng chú rể chưa 1 lần gặp mặt cô dâu. Ấn tượng mạnh mẽ ban đầu của chú rể với cô dâu chính là bộ trang phục ngày cưới, có thể coi đây là một tác phẩm độc đáo của sắc màu và sự tinh xảo trong từng đường nét hoa văn, do cô dâu làm. Nó nói lên sự nhẫn nại, tính khéo léo và đức hạnh của cô dâu. Vì thế, các bé gái ngay từ khi lên 8-10 tuổi đã được mẹ và chị dạy từ dễ đến khó các công đoạn để hoàn tất một bộ trang phục.

KIÊNG CỮ TỈ MỈ

Trong ngày cưới, có hàng chục điều kiêng cữ, tỉ mỉ và quan trọng đến mức mà các gia đình thường thuê hẳn một người, gọi là chủ hôn để hướng dẫn và giám sát chuyện này. Khi ra khỏi nhà, em gái cô dâu cầm tà áo của cô dâu “dắt” đi, vào đến cửa nhà trai, tà áo này được trao cho em gái chú rể dắt vào nhà. Suốt cả quãng đường, bất kể chuyện gì cũng không được buông tà áo ra.

Cô dâu chú rể trong nghi thức cưới

Thêm nữa, theo truyền thuyết của người Dao đỏ, trong ngày cưới, cô dâu là người đẹp nhất, rất dễ bị thần mặt trời bắt, nên dù mang trên người một bộ trang phục đồ sộ, kín mít từ đầu tới chân, nhưng vẫn có người cầm ô che trên đầu cô dâu để che giấu mặt trời. Rồi thì, trước khi vào nhà chồng, cô dâu phải rửa tay ở chậu nước đã được thầy cúng làm phép, rồi bước qua chậu than hồng để vào cửa chính của nhà trai.

 

Đăng bởi: Hải Phạm

Từ khoá: Tục lệ kiêng cữ trong lễ cưới của người Dao đỏ

Khám Phá Thành Phố Màu Hồng Độc Đáo Của Ấn Độ, Jaipur

Nằm ở phía bắc Ấn Độ, thủ phủ bang Rajasthan – một trong những bang lớn nhất cả nước, Jaipur được mệnh danh “thành phố hồng” nhờ phong cách xây dựng không lẫn với bất kỳ nơi nào khác. Không chỉ khoác lên mình màu hồng bắt mắt, Jaipur còn nổi tiếng với hàng loạt di sản văn hoá như pháo đài, cung điện cùng những công trình mang phong cách Hoàng gia.

  

Không quá đông đúc như thành phố Mumbai hay thủ đô New Delhi, thành phố Jaipur hiện lên như một viên ngọc ruby giữa cái nắng oi ả và khô hanh của vùng bán sa mạc. Là thị trấn buôn bán sầm uất xưa kia, thành cổ được bao quanh bởi bức tường thành cao, những con phố trải rộng và trên hết là các công trình kiến trúc bằng đá hoa cương lấp lánh.

Thành phố Jaipur phủ hồng để đón tiếp hoàng tử Albert

Màu hồng của Jaipur chỉ có từ năm 1876, khi người Anh chiếm đóng Ấn Độ. Nhân dịp hoàng tử Albert sang thăm thành phố, người dân bản địa đã quét sơn hồng lên toàn bộ công trình và nhà cửa. Nguyên do là vì người cai trị khi đó là Raja Jawai Singh tin rằng nếu như phủ toàn bộ thành phố bằng màu hồng thì Hoàng gia Anh sẽ hiểu được tình cảm chân thành và hiếu khách của Jaipur. Thành phố Jaipur nổi tiếng với hàng loạt các di sản văn hoá như pháo đài, cung điện, những công trình mang phong cách hoàng gia. Người dân Jaipur luôn tự hào về những di sản văn hoá trong thành phố, trong đó phải kể đến pháo đài và cung điện mang hơi thở cổ kính với lối kiến trúc cổ xưa của một đô thị buôn bán, bao quanh là những bức tường thành cao vút cùng hàng loạt cửa hàng xây bằng đá hoa cương hồng.

Pháo đài Amber

Cung điện gió Hawa Mahal

Được mệnh danh “Cung điện của gió”, Hawa Mahal là một trong những cung điện đẹp nhất Ấn Độ. ung điện được xây dựng vào năm 1799 bởi hoàng đế Maharaja Sawai Pratap Singh, mô phỏng lại vương miện của nữ thần Krishna toả sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Điểm đặc biệt của Hawa Mahal chính là hệ thống 953 ô cửa sổ với những hình vẽ được chạm trổ tinh xảo, lạ mắt. Chính vì thế, cung điện còn được ví như chiếc “tổ ong” đón gió, điều hoà không khí. Hawa Mahal là sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc Hindu Rajput và Hồi giáo Mugha. Phong cách Rajput được thể hiện dưới dạng mái vòm và nghệ thuật trang trí, trong khi kiến trúc Hồi giáo thể hiện qua cách chạm khắc và chế tác với đá. Ban đầu, Hawa Mahal được xây dựng như một khu phức hợp riêng biệt dành cho phụ nữ hoàng gia. Từ đây, họ có thể hàng ngày ngắm cuộc sống của người dân qua các ô cửa sổ mà không cần lộ mặt trước công chúng.

Cung điện Nước Jal Mahal

Thành phố Jaipur có những kỳ quan kiến trúc được thiết kế tinh xảo nhất Ấn Độ, trong đó phải kể đến cung điện Jal Mahal, được mệnh danh là Cung điện Nước. Cung điện bằng đá cẩm thạch này nằm ngay giữa Hồ Man Sagar, có phong cách kiến trúc cực kỳ độc đáo, kết hợp giữa kiến trúc theo phong cách Hồi giáo – Ba Tư Mughal và phong cách thuyền gỗ Rajput, chính vì thế cung điện được xem là tượng trưng cho hình ảnh con thuyền đang nổi trên mặt nước. Mặc dù bề ngoài cung điện trông như tòa nhà một tầng, nhưng thật ra kiến trúc này có tận 5 tầng với bốn tầng chìm dưới nước. Tuy nhiên, bên trong cung điện không có phòng ở, thay vào đó là khu vườn, và du khách sẽ được chiêm ngưỡng kỳ quan tuyệt đẹp này khi đi thuyền quanh khu vực ấy.

Giếng nước bậc thang Chand Baori

Một kỳ quan kiến trúc khác khá thú vị dành cho bạn khám phá là giếng nước bậc thang Chand Baori ở làng Abhaneri gần Jaipur. Cái giếng được mệnh danh là giếng kỳ lạ nhất thế giới này được xây dựng vào năm 800 sau Công nguyên và là một tuyệt tác hình học tuyệt vời. Chand Baori có độ cao 13 tầng, tổng cộng có 3.500 bậc thang hẹp được bố trí một cách hoàn hảo từ trên thành giếng xuống đáy giếng, chắc chắn sẽ khiến bạn tự hỏi làm thế nào người ta có thể xây dựng một công trình tuyệt vời như thế từ hơn 1.200 năm trước đây.

Theo Trần Thị Cẩm Nhi (Wiki Travel)

Đăng bởi: Diễm Phúc

Từ khoá: Khám phá thành phố màu hồng độc đáo của Ấn Độ, Jaipur

Khám Phá Món Bánh Khoái Độc Nhất Khi Đến Huế

Cố đô Huế thu hút du khách không những bởi những di tích lịch sử mà còn ở một nền ẩm thực đa dạng và độc đáo. Trong số các món ăn đặc sản của Huế thì bánh khoái là món bánh mà bất kỳ khách du lịch nào khi đến Huế cũng muốn thưởng thức. Bánh khoái mang một hương vị thơm ngon khiến thực khách nhớ mãi không quên.

Nguồn gốc món Bánh Khoái

Theo bà Mai Thị Trà, nghệ nhân ẩm thực Huế, người xưa dùng bếp củi để chế biến bánh khoái. Khi đổ bột vào chảo, khói bếp bốc lên nhiều, cay mắt nên người Huế gọi món ăn này là bánh khói. “Người Huế phát âm từ khói nghe như khoái, người ta đọc chệch rồi quen dần và có tên như bây giờ. Còn người miền Nam gọi là bánh xèo có lẽ vì khi đổ bột vào dầu nóng sẽ có tiếng xèo rất lớn”, bà Trà cho hay.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều người lại giải thích theo hương vị của món bánh, nghĩa là khi ăn cảm thấy “khoái khẩu”, ngon miệng nên từ đó bánh có tên là “bánh khoái”.

Tương tự, bà Hạnh, chủ một quán bánh khoái lâu năm trên đường Phó Đức Chính (TP. Huế), cho biết: “Hồi xưa nhà tôi nấu bằng lò củi nên bếp lúc nào cũng đỏ lửa và nghi ngút khói, dần dần, món ăn nổi tiếng và trở thành đặc sản”.

Bánh khoái có dễ làm hay không?

Thông thường, khách ngồi vào bàn, chủ quán mới bắc khuôn lên bếp để đổ bánh. Khuôn làm bằng gang, hình tròn, có tay cầm. Khi dầu sôi, bà đổ một lớp bột mỏng vào khuôn. Bánh vừa chín vàng thì thêm tôm, chả, thịt, trứng, giá vào một bên, lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt.

Bánh khoái Huế là món bánh có phần đế làm từ bột pha với trứng rồi mang đi rán, nhân bánh gồm thịt, trứng cút luộc, chả, tôm, giá cùng rau sống và nước tương. Một chiếc bánh khoái có giá khoảng 20.000-25.000đ/chiếc. Bánh nhìn đơn giản vậy thôi nhưng để làm ra chiếc bánh giòn vừa đủ lại thơm phức thì đó mới là điều khó. Quy trình làm ra chiếc bánh khoái hấp dẫn, chuẩn vị người Huế đòi hỏi sự công phu trong khâu chế biến.

Nước lèo làm từ bột, thịt nạc, gan heo băm nhỏ, vừng và lạc rang giã nhỏ, tương đậu nành… tất cả trộn lại rồi nấu chín đến khi đặc sánh, có màu vàng nâu, thơm và béo. Rau sống thường gồm xà lách, cải con, chuối chát, ớt đỏ, rau thơm và trái vả xắt lát mỏng.

Cảm nhận vị thơm ngon của Bánh Khoái

“Từ bé tới giờ chưa biết lý do người ta gọi đây là bánh khoái, nhưng mình thấy rất ngon miệng khi ăn vặt vào buổi chiều, nhất là vào mùa đông, vì bánh luôn nóng hổi. Ăn xong lúc nào cũng thấy vui vẻ hơn. Mình cũng từng ăn bánh xèo nhưng vẫn thích bánh khoái hơn vì hương vị nước lèo không nơi nào có”, Hoài Phương (21 tuổi), sống ở Huế, chia sẻ.

Thưởng thức bánh khoái cũng là một nghệ thuật. Bạn có thể thưởng thức bánh khoái trực tiếp hoặc cuộn trong bánh tráng (bánh làm từ bột gạo tráng mỏng, phơi khô). Nếu ăn kèm bánh tráng thì đầu tiên, bạn cho ít rau sống vào bánh tráng, tiếp đến là xếp chiếc bánh khoái còn nóng hổi lên. Thực khách cuốn bánh tráng tròn nhẹ nhàng nhưng chắc tay để chiếc bánh tạo thành một cuộn hình ống gọn gàng.

Chiếc bánh khoái thơm lừng, vàng rụm khi chấm vào nước tương thì vô cùng kích thích vị giác. Mùi thơm của trứng, vị béo của thịt, tôm, vị ngọt của nước tương hòa quyện cùng vị chua, the, bùi của các loại rau sống sẽ khiến thực khách bị mê hoặc. Chỉ cần ăn thử một miếng, bạn sẽ muốn ăn hoài mà không thấy ngán.

Đăng bởi: Tâm Nguyễn

Từ khoá: Khám phá món Bánh Khoái độc nhất khi đến Huế

Cập nhật thông tin chi tiết về Khám Phá Tục Lệ Mai Táng Độc Nhất Vô Nhị Của Người Toraja trên website Quar.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!