Xu Hướng 2/2024 # Một Giả Thuyết Khác Về Loa Thành # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Giả Thuyết Khác Về Loa Thành được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Quar.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Loa Thành hay thành Cổ Loa vẫn mặc định được coi là tọa lạc ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội. Đó là kinh đô của An Dương Vương từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Cương mục chép: “Bấy giờ nhà vua đã lấy được Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” và sử thần chua thêm “Phong Khê: Bây giờ là thành Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh”[1]. Ngày nay, di tích thành Cổ Loa vẫn còn và được cấp bằng Di tích Quốc gia. Nhưng căn cứ vào nền móng cung điện cũ, có lẽ kinh đô trước đó không phải là Loa Thành.

Loa Thành hay thành Cổ Loa vẫn mặc định được coi là tọa lạc ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Di tích Cổ Loa với giếng ngọc đã có từ rất lâu rồi. Cuối thời Lê Trung Hưng đầu thời Nguyễn, trong tác phẩm Tang thương ngẫu lục – Truyện ông Nguyễn Công Hãng, tác giả đã viết: “Lệ cống phải có hũ nước để rửa ngọc trai, lấy ở cái giếng tại Loa Thành. Ông đổ đi, múc nước giếng Ba Sơn đem theo. Họ thử, không thấy nghiệm, kỳ kèo. Ông nói: ‘Vì khí mạch lâu ngày nó biến đổi đi.’ Hai thứ đồ cống ấy được miễn là bắt đầu từ ông vậy”.

Loại chí ghi rất rõ về Loa Thành ở Kinh Bắc2: “Loa Thành ở xã Cổ Loa, huyện Yên Phong, đời cổ gọi là Phong Khê, là Kinh đô của An Dương Vương. Thành đắp rộng một nghìn thước, xoáy tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành. Lại gọi là Tư Long thành. Người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, ý bảo thành ấy cao lắm. Nay chân móng cũ hãy còn”.3

Sang thời Nguyễn, khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã sai dựng miếu thờ lịch đại đế vương cùng dân sở tại lo việc phục dịch, trong đó có “miếu Thục An Dương Vương 79 người (xã Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc).”4

Trong cái chết của An Dương Vương, các bộ sử nước ta đều chép tương tự nhau, đại để: Triệu Đà đem quân tới đánh, An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn thì lẫy nỏ đã hỏng, Vương cho Mị Châu cùng cưỡi ngựa chạy về phía Nam. Đến biển, vua phát hiện Mị Châu dùng lông ngỗng đánh dấu đường, liền chém rồi đi xuống biển.

Về địa điểm An Dương Vương trầm mình, tục truyền là tại núi Mộ Dạ, thuộc Diễn Châu, Nghệ An. Từ Cổ Loa (thuộc Đông Anh) tới núi Mộ Dạ khoảng hơn 250km, và ngay cả từ Cổ Loa tới bờ biển gần nhất về phía Nam (có thể là hướng Đông Nam) ở khoảng địa phận Thái Bình hoặc Nam Định ngày nay thì cũng hơn 100km5. Với điều kiện giao thông thời cổ (cách đây hơn hai ngàn năm), làm sao một ngựa chở hai người có thể đi xa đến như vậy, lại trong điều kiện bị giặc truy đuổi?

Phải chăng An Dương Vương không hề đóng đô ở Loa Thành thuộc Đông Anh?

An Dương Vương và rùa thần Kim Quy. Tranh: Tạ Huy Long © Lĩnh Nam chích quái, NXB Kim Đồng, 2023.

I. SỬ NHÀ LÊ VIẾT GÌ

Phần Ngoại kỷ của Toàn thư ra đời trước Cương mục khoảng 400 năm, trong đó có chép về Loa Thành và An Dương Vương ở hai chỗ. Đầu tiên là nhắc về việc đóng đô: “Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)”6. Sau đó là nhắc tới việc xây thành: “Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường7, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao)”8.

Ngoài địa danh Phong Khê được nhắc tới, Toàn thư còn chỉ đích danh An Dương Vương (tức Thục Vương) đắp thành ở Việt Thường. Việt Thường là ở đâu? Rất khó để xác định chính xác địa giới Việt Thường thời cổ. Đó là tên một trong mười lăm bộ tương truyền có từ thời Văn Lang9, địa giới trải dài ở khoảng giữa nước ta hiện nay, từ Thanh Hóa tới Thừa Thiên-Huế10. Rõ ràng Toàn thư đã không viết Loa Thành của An Dương Vương ở huyện Đông Anh, Hà Nội mà đẩy nó lui xuống rất nhiều về phía Nam.

Quả thực nếu Loa Thành ở Thanh Hóa hay Nghệ An thì từ đó chạy ra núi Mộ Dạ, Diễn Châu chỉ vài chục kilomet thậm chí vài kilomet, sẽ hợp lý hơn rất nhiều là phi ngựa gần 300 cây số từ tận Cổ Loa. Cũng cần lưu ý rằng giao thông thời cổ cực kỳ tệ, nếu từ miền Bắc di chuyển tới địa phận Thanh, Nghệ thì còn phải dùng thuyền.

II. SÁCH VỞ THỜI TRẦN

Từ Lê sơ ngược lên thời Trần để tìm hiểu về Loa Thành, ta có vài văn bản ghi dấu đáng để tham khảo. Đầu tiên là Lĩnh Nam chích quái chép về Loa Thành trong “Truyện rùa vàng”: “[An Dương Vương] diệt nước Văn Lang, cải tên nước thành Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường11, hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy”. Đáng chú ý là Lĩnh Nam chích quái ghi rõ “Đời truyền rằng nơi đó là đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu”.

Một cuốn sách rất đáng tham khảo khác là An Nam chí lược thì không dùng tên “Loa Thành” để gọi mà nhắc tới “Việt Vương thành”: “Việt Vương thành, tục gọi là thành Khả Lũ, có một cái ao cổ, Quốc vương mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp… Vua nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi chinh phục các Lạc tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An Dương vương”12. Đáng chú ý là An Nam chí lược nhắc tới “Nay ở huyện Bình Địa, dấu tích cung điện và thành trì của An Dương Vương hãy còn”. Đáng tiếc là tác giả không chú thích huyện Bình Địa là ở đâu.

III. HAI BỘ SÁCH KHÁC LIÊN QUAN TỚI AN NAM CHÍ LƯỢC

Khi Lê Tắc viết An Nam chí lược, ông đã sang hàng nhà Nguyên. Sang tới thời Minh, có hai cuốn sách viết về Đại Việt do quan viên triều đình nhà Minh viết ra là An Nam chí [nguyên] và Việt Kiệu thư. Hai bộ sách này cùng dựa rất nhiều vào các ghi chép của Lê Tắc (dĩ nhiên có khảo cứu thêm nhiều sách vở tài liệu khác) và đều có chép về Việt Vương thành.

An Nam chí viết: “Thành Việt vương ở huyện Đông Ngạn13. Thành này còn có tên là Loa Thành, vì nó khuất khúc như hình trôn ốc. Kiểu mẫu thành này bắt đầu từ An Dương Vương, vòng xoay chín lần, lại gọi là thành Khả Lũ do An Dương Vương xây đắp từ ngày xưa, chỗ An Dương Vương đóng đô vốn là đất Việt nên người sau gọi là Việt Vương thành. Trong thành có cung đình của An Dương Vương, nền cũ hầu còn, Lưu Chiêu có nói: ‘Giao Chỉ tức là nước của An Dương Vương’”.

Về giếng ngọc, An Nam chí viết: “Giếng Minh Châu14 ở trong Loa Thành, huyện Đông Ngạn. Tương truyền do An Dương Vương đào. Hễ rửa hạt trai bằng giếng này thì màu sắc hạt trai nổi tươi sáng và đẹp đẽ”.

Hai ghi chép về Loa Thành trong sách đều tương đồng nhau về mặt địa danh, đó là huyện Đông Ngạn. Huyện Đông Ngạn ở đâu? Thăng Long, Bắc Ninh hay Việt Thường?

Theo An Nam chí thì huyện Đông Ngạn ở đâu? Có hai ghi chép về Đông Ngạn trong sách này. Một là huyện Đông Ngạn ở phủ Nghệ An: “Phủ Nghệ An có… bốn châu (năm huyện): Nam Tĩnh châu (gồm ba huyện: Kỳ La, Hà Hoa, Bàn Thạch); Hoan Châu (gồm hai huyện: Đông Ngạn, Thạch Đường); Trà Lung châu; Ngọc Ma châu”. Hai là sông Đông Ngạn: “Sông Thiên Đức – tên cũ là sông Nghịch Đãng, lại gọi là sông Đông Ngạn”.

Như vậy, mặc dù không xác quyết Loa Thành là ở miền Bắc hay đất Việt Thường cũ, nhưng An Nam chí hầu như chỉ đích danh Loa Thành là ở huyện Đông Ngạn thuộc địa phận tỉnh Nghệ An ngày nay, cũng là đất Việt Thường thuở xưa.

Việt Kiệu thư của Lý Văn Phượng thì chép cực kỳ minh bạch: “Việt Vương thành ở huyện Đông Ngạn, phủ Nghệ An, lại có tên là Loa Thành vì tường thành quanh co như con ốc. Thời Hán,  An Dương Vương xây dựng nên”.

Huyện Đông Ngạn, Việt Kiệu thư ghi nhận tại hai nơi, một là phủ Bắc Giang, hai là phủ Nghệ An. Huyện Đông Ngạn ở phủ Bắc Giang thời Lê (thời Minh ở Trung Quốc) chính là huyện Đông Ngạn/Ngàn được Toàn thư ghi lại từ thời Trần15, cũng là huyện Đông Ngàn thuộc Bắc Ninh ở thời Nguyễn, rồi tách thành Từ Sơn (Bắc Ninh), Đông Anh và Gia Lâm (Hà Nội).

Huyện Đông Ngạn ở phủ Nghệ An, theo Đại Nam nhất thống chí thì thời Thuộc Đường, nó thuộc Diễn Châu; thời nhà Trần mang tên huyện Thổ Thành, thời Thuộc Minh mang tên Đông Ngạn, thời Lê đổi sang tên hiện nay (tức huyện Đông Thành). Ngày nay thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Xét về địa lý, đền Cuông ở phía Đông Nam so với Yên Thành, cách nhau khoảng hơn 20 km. Về phương hướng và khoảng cách thì rất thích hợp với ghi chép của sử, rằng An Dương Vương (cùng Mị Châu) chạy về phía Nam tới bờ biển.

IV. VÀI GHI CHÉP KHÁC

Bình Đạo, theo Thủy kinh chú sớ dẫn sách Nguyên Hòa chí thì “huyện Bình Đạo vốn là đất của người Di Phù Nghiêm, thời Ngô mở làm quận Vũ Bình, đồng thời lập huyện Bình Đạo tức là nơi sở tại của suối này. Ở phía Bắc quận, cách qua một con sông, tức là con sông này. Phía Bắc sông đối với huyện Chu Diên quận Giao Chỉ”. Còn Tống Bình là đất Phong Khê, Chu Diên cũ17. Như vậy theo Thủy kinh chú sớ thì Loa Thành là ở Phong Khê, tương đồng với địa phận huyện Đông Anh ngày nay. Có lẽ Bình Đạo trong Thủy kinh chú sớ chính là Bình Địa trong An Nam chí lược.

Nhưng một bộ sách rất có uy tín khác là Đại Thanh nhất thống chí thì lại tiếp thu ghi chép của Việt Kiệu thư: “Việt Vương thành ở huyện Đông Ngạn, phủ Nghệ An, lại có tên là Loa Thành vì tường thành quanh co như con ốc. Thời Hán,  An Dương Vương xây dựng nên”.

Có thể thấy tới thời Thanh, thuyết Loa Thành vẫn chia làm đôi, một bên cho là thành ở Đông Anh, một bên cho là thành ở Nghệ An.

V. GIẢ THUYẾT VỀ LOA THÀNH

Trở lại với ghi chép rõ ràng nhất về Loa Thành theo thuyết Nghệ An, Lý Văn Phượng cho biết: “Đô thành cũ của An Dương Vương ở đất Việt18, nên xưng là Việt Vương thành. Trong thành, nền móng cung điện cũ vẫn còn”.

Đại Thanh nhất thống chí tiếp thu ghi chép trên và bổ sung “Theo Nguyên Hòa chí, thành cũ của An Dương Vương19 cách huyện Tống Bình hơn ba mươi dặm về phía Đông Bắc”.

Với hai ghi chép này, kết hợp với Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, ta có thể đưa ra một giả thuyết rằng An Dương Vương từng lập hai kinh đô. Kinh đô thứ nhất (tức cựu đô hay cố thành) là ở Phong Khê (theo ghi chép của sử Việt) hoặc huyện Tống Bình (theo ghi chép của sử Trung Quốc), cũng là địa phận huyện Đông Anh ngày nay. Sau đó, ông dời đô về huyện Đông Ngạn phủ Nghệ An tức là đất Việt Thường xưa mà Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái ghi chép. Đây cũng chính là Loa Thành mà các sách ghi chép lại.

Nền móng cung điện cũ được nhắc tới có lẽ là di tích của kinh đô trước, không phải Loa Thành.

Loa Thành còn được Toàn thư nhắc tới một lần nữa, là kinh đô của vua Ngô Quyền20. Với sự hiện diện sau này của hậu duệ Ngô Vương là Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hóa)21, cũng những chủ thuyết của nhóm học giả Đào Duy Anh cho rằng quận Đường Lâm ở châu Phúc Lộc thời cổ (tức là khoảng Thanh Nghệ Tĩnh)22 cùng các khảo cứu của nhóm học giả Trần Trọng Dương về châu Đường Lâm trong cổ sử của Việt và Trung23, và bản thân Ngô Quyền cũng là thế tộc nắm quyền ở Ái Châu24, rất có thể sau khi đánh tan quân Nam Hán, Ngô Quyền đã lên ngôi vương và trở về lập đô tại Loa Thành ở đất Việt Thường quê hương mình.

An Dương Vương đánh bại Hùng Vương rồi dời đô về Việt Thường, rất có thể đó chính là nơi xuất thân của ông. Điều này cũng hợp lý hơn việc đặt An Dương Vương thành hậu duệ của Cổ Thục quốc bên Trung Quốc, cách xa nước ta tới mấy ngàn dặm, cách trở muôn sông ngàn núi. Nếu quả như vậy, triều đại nhà Thục của An Dương Vương xứng đáng là một triều đại hoàn toàn do người Việt lập ra. □

———–

– An Nam chí [nguyên] – Cao Hùng Trưng.

– An Nam chí lược – Lê Tắc

– Đất nước Việt Nam qua các đời – Đào Duy Anh.

– Đại Nam nhất thống chí.

– Đại Nam thực lục – Quốc sử quán.

– Đại Thanh nhất thống chí.

– Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên

– Khâm định Việt sử thông giám cương mục – Quốc sử quán.

– Lịch triều hiến chương loại chí – Phan Huy Chú.

– Lĩnh Nam chích quái.

– Sử học bị khảo – Đặng Xuân Bảng.

– Tang thương ngẫu lục – Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ.

– Thủy kinh chú sớ – Lịch Đạo Nguyên, Dương Thủ Kính.

– Việt kiệu thư – Lý Văn Phượng

– Việt Nam thế kỷ X: Những mảnh vỡ lịch sử – Trần Trọng Dương.

——

Chú thích

1 Thời Nguyễn, huyện Đông Ngàn thuộc tỉnh Bắc Ninh, sau này mới thuộc về Hà Nội.

2 Tức Bắc Ninh và một phần Hà Nội ngày nay

3 Loại chí – Dư địa chí – Kinh Bắc.

4 Thực lục, đệ nhất kỷ, 1803.

5 Xác định bờ biển theo địa lý cách đây hai ngàn năm là một việc khá phức tạp. Nhưng chúng ta biết rằng thời Loạn mười hai sứ quân, một cửa biển rất nổi tiếng ở khoảng Thái Bình, Nam Định là Bố Hải Khẩu (địa bàn của Trần Lãm), sau trở thành đồng bằng, thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Từ Đông Anh tới Kiến Xương, quãng đường cũng hơn 100km.

6 Toàn thư – Ngoại kỷ, Thục.

7 Nguyên văn: “於是築城于越裳”- vu thị trúc thành vu Việt Thường.

8 Toàn thư – Ngoại kỷ, Thục.

9Toàn thư chép Hùng Vương chia nước thành mười lăm bộ, gồm: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức.

10 Xem chú giải về Cửu Chân tại Cương mục, Tiền biên, quyển 1; chú giải về Nhật Nam tại Cương mục, Tiền biên, quyển 2; chú giải về Cửu Đức tại Cương mục, Tiền biên, quyển 3; chú giải về Ô Lý tại Cương mục, Chính biên, quyển 1; chú giải về Địa Lý tại Cương mục, Chính biên, quyển 3.

11 Nguyên văn: ““築城於越裳之地”” – trúc thành ư Việt Thường chi địa.

12 An Nam chí lược, quyển 1.

13 Nguyên văn: “東岸”, chữ (岸) âm Hán là “ngạn”, lại có âm nôm đọc là “ngàn”, huyện Đông Ngạn cũng tức là huyện Đông Ngàn.

14 Nguyên văn: Minh Châu trì.

15 Toàn thư, Trần, 1226, 1285.

17 Sử học bị khảo, Đặng Xuân Bảng.

18 Nguyên văn: An Dương vương cựu đô Việt địa.

19 Nguyên văn: An Dương vương cố thành.

20 Toàn thư – Ngoại kỷ, Nhà Ngô, 938.

21Toàn thư – Ngoại kỷ, Ngô sứ quân, 966.

22 Đất nước Việt Nam qua các đời – Đào Duy Anh.

23 Việt Nam thế kỷ X: Những mảnh vỡ lịch sử – Trần Trọng Dương.

24Toàn thư – Ngoại kỷ, Nhà Ngô, 938.

Author

Tô Như

Thuyết Minh Về Thành Nhà Hồ ❤️️15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Nhà Hồ ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Thành Nhà Hồ Còn Gọi Là Thành Tây Đô, Một Trong Những Di Tích Lịch Sử Của Đất Nước.

I. Mở bài: Giới thiệu di tích lịch sử thành nhà Hồ.

II. Thân bài:

-Khái quát chung:

Tên gọi khác: thành Tây Đô, thành Tây Kinh, thành Tây Giai, thành An Tôn.

Kinh đô của nước Đại Ngu (quốc hiệu nước ta dưới thời Hồ Quý Ly).

Thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Hồ Quý Ly vào khoảng đầu năm 1397, dưới thời vua Thuận Tông.

Năm 2011 thành nhà Hồ đã vinh dự được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới, đồng thời được thủ tướng chính phủ xem xét là 1 trong 62 di tích đặc biệt cấp quốc gia, cần phải bảo tồn chặt chẽ.

-Đặc điểm:

Địa thế sông nước bao quanh, núi non hiểm trở, duy ác, phù hợp cho quá trình phòng ngự, phản công.

Thành ngoại còn gọi là La thành, đóng vai trò bảo vệ được đắp bằng 10.000 khối đất, lại trồng thêm tre gai dày đặc, bên trong gồm những hào rộng gần 50m, giúp ngăn chặn sự tấn công bất ngờ của kẻ địch.

Phần nội thành có hình dáng gần như vuông, mỗi cạnh dài xấp xỉ 860m, tọa lạc trên một khoảng đất có chu vi 3,5km.

Phần chân thành dày tầm 20m, với bốn cửa theo 4 hướng đông, tây, nam, bắc, mỗi cổng cao tầm 10m.

Mặt bên ngoài thành được ghép bằng những khối đá tảng lớn kích thước 2x1x0,7m, bên trong tiến hành đắp bằng đất.

Các cổng được xây dựng theo hình cuốn vòm, các khối đá tảng vuông vức được xếp sít nhau theo hình múi bưởi, vô cùng chắc chắn, giúp thành chống đỡ được những cơn rung chấn mạnh ví như động đất.

Dù không hề sử dụng bất kỳ chất kết dính nào thế nhưng các phiến đá vôi màu xanh này vẫn liên kết với nhau một cách chặt chẽ, không hề suy chuyển trong ngần ấy thời gian.

Ngoài những phần tường đá còn sót lại nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay thì hầu như các kiến trúc khác như Điện Hoàng Nguyên, Cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu,… đều đã bị phá hủy chỉ còn sót lại đền Nam Giao được xây bằng đá nằm ở phía trong nội thành.

-Ý nghĩa:

Là một trong những di tích lịch sử quan trọng lưu giữ nhiều những giá trị cả về mặt văn hóa lẫn kiến trúc thời trung đại.

Chứng tích lịch sử quan trọng đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, một giai đoạn có nhiều biến động.

Minh chứng ý thức giữ gìn độc lập của dân tộc của nhà Hồ.

III. Kết bài: Nêu nhận xét về di tích thành nhà Hồ.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ☀️ 17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Với đề bài yêu cầu viết một bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ, các em học sinh có thể tham khảo những gợi ý hay với bài văn mẫu như sau:

Thành Nhà Hồ thuộc địa phận của tỉnh Thanh Hóa ngày nay từng là kinh đô của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407. Đây là một trong những thành lũy bằng đá hiếm hoi còn sót lại tại Đông Nam Á.

Thành Nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vì những giá trị văn hóa, lịch sử cùng kỹ thuật xây dựng độc đáo của công trình này mang lại. Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, dưới thời vua Trần Thuận Tông. Trong lịch sử, thành còn được biết đến với các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai. Thành được xây dưới sự chỉ đạo của Hồ Quý Ly lúc ông đương nhậm chức tể tướng dưới thời nhà Trần.

Sau khi thành xây xong, Hồ Quý Ly buộc vua Trần Thuận Tông dời đô từ Thăng Long (nay là Hà Nội) về Thanh Hóa. Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay cho nhà Trần, Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô, và Hồ Quý Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, tức niềm hạnh phúc, an vui. Tuy vậy triều đại này chỉ kéo dài vỏn vẹn 7 năm, là triều đại ngắn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Thành Nhà Hồ đáp ứng đầy đủ hai tiêu chí về văn hóa mà UNESCO đưa ra để xếp hạng Di sản cho công trình. Tiêu chí thứ hai “Thể hiện các giá trị nhân văn quan trọng và sự ảnh hưởng của chúng qua một thời kỳ lịch sử quốc gia hay trong một khu vực của thế giới, những đóng góp này có tính phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, và cách quy hoạch thành phố”. Tiêu chí thứ tư “Trở thành ví dụ nổi bật về một loại hình công trình, một quần thể kiến trúc, kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa được giá trị của một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”.

Công trình này được đánh giá cao về mặt kỹ thuật xây dựng các khối đá được cho là có một không hai ở Việt Nam nói riêng và toàn khu vực Đông Á, Đông Nam Á nói chúng vào khoảng thời gian từ cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỷ XV. Các nhà nghiên cứu đánh giá, kiến trúc Thành Nhà Hồ được xây rất khoa học, với các phiến đá lớn được đục đẽo một cách vuông vức, xếp đan xen với nhau theo hình múi bưởi để tránh các rung chấn lớn như động đất.

Đặc biệt là giữa các phiến đá này không hề có bất kỳ chất kết dính nào nhưng tòa thành vẫn đứng vững hơn 600 năm, vượt qua nhiều tác động của địa chấn và bom đạn tàn phá. Ngoài ra khối công trình đồ sộ, vững chắc này chỉ được xây dựng vẻn vẹn trong vòng 3 tháng đầu năm 1397. Theo các tài liệu để lại cùng công việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì quần thể di sản Thành Nhà Hồ bao gồm Thành nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao nằm phía ngoài thành. Trong đó, Hoàng thành là công trình đồ sộ nhất đồng thời nguyên vẹn nhất còn lại cho đến nay.

Toàn bộ mặt ngoài tường thành là sự kết hợp của bốn cổng chính làm từ những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, chồng khít lên nhau. Những khối đá lớn này có phiến dài tới hơn 6 mét, nặng khoảng 20 tấn. Lý giải về cách vận chuyển các khối đá khổng lồ này, các nhà khảo cổ cho rằng người ta đã dùng các hòn bi đá để lăn chuyển chúng. Những khối đá lớn này có phiến dài tới hơn 6 mét, nặng khoảng 20 tấn khít với nhau mà không hề có bất kỳ chất kết dính nào

Trước kia, bên trong thành còn có nhiều công trình nguy nga như Điện Hoàng Nguyên, Cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu… không thua gì kinh thành Thăng Long. Tuy nhiên, qua khoảng thời gian dài hơn 6 thế kỷ với nhiều sự tác động chủ quan và khách quan đã khiến cho hầu hết các công trình kiến trúc này bị phá hủy hoàn toàn.

Có khá nhiều giả thiết về việc lý giải tại sao đầu rồng lại bị biến mất nhưng giả thiết sau khi xâm lược nước ta, quân Minh cho chặt đầu rồng mang về báo công được nhiều người chấp nhận.

Thành Nhà Hồ là di tích lịch sử quan trọng có giá trị cao về mặt văn hóa, kiến trúc thời xưa. Đến với di tích này du khách có cơ hội chiêm ngưỡng sự độc đáo của công trình xưa cũ và tìm hiểu về kỹ thuật công phu này. Đây là điểm đến ngày càng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn mẫu thuyết minh về thành nhà Hồ Thanh Hóa sẽ là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc và các em học sinh.

Tuy tài giỏi, có tham vọng, nhưng Hồ Quý Ly lên ngôi bất chính, vua tôi không đồng lòng, nhân dân còn nhiều dị nghị, thế nên căn cơ không vững, đứng trước âm mưu xâm lược của giặc Minh liền nhanh chóng sụp đổ. Tuy rằng chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn ngủi từ năm 1401 – 1407, thế nhưng bản thân Hồ Quý Ly, cũng như nhà Hồ đã để lại cho lịch sử một công trình kiến trúc vô cùng có giá trị ấy là thành nhà Hồ, biểu trưng cho một thời đại có nhiều biến động trong ngàn năm văn hiến của dân tộc.

Thành nhà Hồ hay còn có các tên gọi khác là thành Tây Đô, thành Tây Kinh, thành Tây Giai, thành An Tôn, vốn là kinh đô của nước Đại Ngu (quốc hiệu nước ta dưới thời Hồ Quý Ly), trong một khoảng thời gian gần 7 năm. Tuy nhiên sau đó, nhà Hồ sụp đổ, tòa thành không còn được sử dụng với mục đích này nữa. Hiện tại di tích này đang nằm trên địa phận 2 xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 45 km.

Tuy chỉ được xây dựng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi 3 tháng dưới sự chỉ đạo của Hồ Quý Ly vào khoảng đầu năm 1397, dưới thời vua Thuận Tông, để phục vụ mục đích chính trị của họ Hồ, thế nhưng công trình này đã tồn tại hơn 6 thế kỷ, mà cho đến nay một số đoạn thành vẫn còn giữ nguyên kiến trúc cũ.

Nhờ sở hữu kiến trúc bằng đá độc đáo cũng như quy mô lớn, sự vững chãi kiên cố theo thời gian, thành nhà Hồ đã trở thành di tích thành cổ bằng đá hiếm hoi còn sót lại ở Việt Nam, cũng như ở Đông Nam Á và trên toàn thế giới, có giá trị lịch sử và văn hóa vô cùng sâu sắc. Năm 2011 thành nhà Hồ đã vinh dự được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới, đồng thời được thủ tướng chính phủ xem xét là 1 trong 62 di tích đặc biệt cấp quốc gia, cần phải bảo tồn chặt chẽ.

Về đặc điểm, thành nhà Hồ có kiến trúc bằng đá tảng độc đáo, theo như tiêu chí của UNESCO thì thành nhà Hồ đã “Trở thành ví dụ nổi bật về một loại hình công trình, một quần thể kiến trúc, kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa được giá trị của một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”. Được đánh giá cao về mặt thiết kế, cũng như các kỹ thuật xây dựng tinh tế, khéo léo, gắn liền với sự nghiệp cải cách táo bạo, toàn diện của Hồ Quý Ly và vương triều nhà Hồ.

Có thể nhận thấy rằng, thành Tây Đô được dựng ở Thanh Hóa, không phải là một vị trí có địa thế thuận lợi “rồng cuộn hổ ngồi” như kinh thành Thăng Long, thế nhưng về chính trị, quân sự lại là nơi phòng ngự, tấn công tốt, thích hợp cho việc chuẩn bị các thay đổi giữa hai triều đại. Với địa thế sông nước bao quanh, núi non hiểm trở, duy ác, cũng như các công trình thành khác, thành nhà Hồ gồm hai phần chính, thành ngoại còn gọi là La thành, đóng vai trò bảo vệ được đắp bằng 10.000 khối đất, lại trồng thêm tre gai dày đặc, bên trong gồm những hào rộng gần 50m, giúp ngăn chặn sự tấn công bất ngờ của kẻ địch.

Phần nội thành về quy mô, toàn bộ khu vực thành có hình dáng gần như vuông, mỗi cạnh dài xấp xỉ 860m, tọa lạc trên một khoảng đất có chu vi 3,5km. Phần chân thành dày tầm 20m, với bốn cửa theo 4 hướng đông, tây, nam, bắc, mỗi cổng cao tầm 10m. Nói rằng thành nhà Hồ có kết cấu đặc biệt bởi lẽ mặt bên ngoài thành được ghép bằng những khối đá tảng lớn kích thước 2x1x0,7m, bên trong tiến hành đắp bằng đất.

Các cổng được xây dựng theo hình cuốn vòm, các khối đá tảng vuông vức được xếp sít nhau theo hình múi bưởi, vô cùng chắc chắn, mà theo các nghiên cứu hiện nay cách xây dựng này rất khoa học, giúp thành chống đỡ được những cơn rung chấn mạnh ví như động đất. Chính vì thế cho đến ngày hôm nay sau hơn 600 năm, trải qua nhiều cuộc bể dâu bom đạn, dù phần ngoại thành, các công điện kiến trúc bên trong đã bị phá hủy gần hết, thì riêng phần tường thành bằng đá, với lối kiến trúc “múi bưởi” này vẫn trường tồn cùng năm tháng.

Thêm một chi tiết quan trọng nữa ấy là dù không hề sử dụng bất kỳ chất kết dính nào thế nhưng các phiến đá vôi màu xanh này vẫn liên kết với nhau một cách chặt chẽ, không hề suy chuyển trong ngần ấy thời gian. Đặc biệt với sức người và các kỹ thuật xây dựng thô sơ thời trung đại, việc đẽo gọt chạm khắc tỉ mỉ từng phiến đá nặng tới hàng chục tấn, cộng với việc đưa nó lên những độ cao vài mét rồi xếp thành hình “múi bưởi” quả là một thách thức cơ học lớn. Cũng đem đến cho các nhà nghiên cứu lịch sử, nhà khảo cổ học cũng như các nhà kiến trúc nhiều suy đoán và câu hỏi xung quanh vấn đề này.

Thật rất đáng ngưỡng mộ và thán phục kỹ thuật xây dựng của con người trong lịch sử. Cuối cùng ngoài những phần tường đá còn sót lại nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay thì hầu như các kiến trúc khác như Điện Hoàng Nguyên, Cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu,… đều đã bị phá hủy chỉ còn sót lại đền Nam Giao được xây bằng đá nằm ở phía trong nội thành.

Thành nhà Hồ tồn tại cho đến ngày hôm nay được đánh giá là một trong những di tích lịch sử quan trọng lưu giữ nhiều những giá trị cả về mặt văn hóa lẫn kiến trúc thời trung đại. Cũng đồng thời là một chứng tích lịch sự quan trọng đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, một giai đoạn có nhiều biến động.

Khi nhà Hồ lên nắm ngôi đã mang đến nhiều cải cách táo bạo và toàn diện về mọi mặt, tuy nhiên việc tiếm quyền bất chính đã khiến triều đại này nhanh chóng sụp đổ, để lại bài học lịch sử sâu sắc cho các thế hệ quân vương thời kỳ sau này. Tuy có thời gian tồn tại ngắn ngủi 7 năm thế nhưng vương triều nhà Hồ vẫn để lại trong lịch sử dân tộc nhiều dấu ấn quan trọng, đặc biệt là ý thức giữ gìn độc lập của dân tộc thông qua việc xây dựng một công trình kiến trúc độc đáo, vững chắc có nhiều giá trị quan trọng trong công cuộc chống quân xâm lược, phát triển kinh tế văn hóa chính trị trong suốt triều đại nhà Hậu Lê tại miền Trung.

Mời bạn tham khảo 🌠 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em 🌠 22 Bài Mẫu Hay

Tham khảo bài thuyết minh về thành nhà Hồ hay nhất giúp các em học sinh có thêm những ý tưởng thú vị để thực hiện bài viết của mình.

Thành Nhà Hồ – một công trình kiến trúc quân sự thuộc hàng kỳ vĩ nhất, đặc sắc nhất bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam và Khu vực trong thời kỳ cuối thế kỉ XIV đầu thế kỷ XV. Công trình có giá trị nổi bật toàn cầu với kiến trúc kiểu kinh thành phương Đông, vừa là trung tâm quyền lực, vừa là pháo đài quân sự, thể hiện sự gắn kết tài tình giữa công trình kiến trúc với cảnh quan văn hóa và thiên nhiên nằm trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng tòa thành này là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất cảnh quan và quy mô kiến trúc. Với những giá trị nổi bật, ngày 27 tháng 6 năm 2011, tại phiên họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại thủ đô Paris của nước Pháp đã chính thức công nhận Thành nhà Hồ là Di sản văn hoá thế giới.

Thành Nhà Hồ được xây dựng vào năm 1397, theo lệnh của Phụ chính Thái sư nhiếp chính nhà Trần là Hồ Quý Ly.Cùng năm đó Hồ Quý Ly cho di chuyển kinh đô từ thành Thăng Long (Hà Nội) vào Thành Nhà Hồ (Thanh Hoá). Khu di tích Thành Nhà Hồ bao gồm một phức hợp các thành phần kiến trúc được xây dựng có tính toán, kết hợp giữa các kiến trúc nhân tạo với hình thế tự nhiên, để đảm bảo chức năng làm một kinh đô mới thay cho kinh đô Thăng Long.

Năm 1400, với sự đăng quang của Hồ Quý Ly, lập ra triều đại Hồ, Thành Nhà Hồ trở thành quốc đô, nước Đại Việt được đổi tên thành Đại Ngu. Đến năm 1407, cùng với sự thất bại trong việc chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh, Thành Nhà Hồ thất thủ, cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng triều đình Đại Ngu bị quân nhà Minh bắt. Kể từ đó, Thành Nhà Hồ không còn vai trò là kinh đô nữa.

Thành Nhà Hồ là tên thường gọi của tòa thành bằng đá còn khá nguyên vẹn giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận các thôn Tây Giai, Xuân Giai (xã Vĩnh Tiến), Đông Môn (xã Vĩnh Long), huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền Bắc Việt Nam. Thành còn có tên gọi khác như: thành An Tôn vì khu vực này vào cuối thời Trần có tên là động An Tôn, thành Tây Đô vì thành là kinh đô của nước Đại Việt (1397-1400) và Đại Ngu (1400 – 1407); thành Phủ Thanh Hoá do nhà Minh đặt sau khi chiếm Đại Việt, Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh (Thăng Long), Thạch Thành vì thành được xây toàn bằng đá, thành Tây Giai vì thành thuộc thôn Tây Giai.

Ngày nay, sau hơn 600 năm thăng trầm của lịch sử, tòa thành vẫn hiện diện uy nghi với các tường thành và cửa thành còn khá nguyên vẹn. Các kết quả khai quật khảo cổ học đã bước đầu làm xuất lộ nhiều thành phần kiến trúc của kinh đô cổ này. Ngoài thành trong với tường thành có hào nước bao quanh, dấu tích của các cung điện, đền miếu của vương triều bên trong, phức hợp di sản Thành Nhà Hồ còn có La thành và Đàn tế Nam Giao.

Nếu “hoành tráng” hay “kỳ vĩ” được dùng khá khiêm tốn khi miêu tả Thành Nhà Hồ, thì “độc đáo”, “tinh tế” và đầy “bí ẩn” lại là lối diễn đạt tuyệt vời, một cách ngợi khen “trúng” nhất về thành trì này. Điều đó khởi phát từ chính những giá trị tự thân của tòa thành và sâu xa hơn, nó khởi phát từ cội nguồn văn hóa Việt Nam – nền văn hóa vốn hướng đến ưa chuộng sự hài hòa “thiên – địa – nhân”.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, kiến trúc đã so sánh và tìm thấy sự tương đồng nhiều mặt giữa Tây Đô và Đông Đô (Hoàng thành Thăng Long). Đó là sự kế thừa tất yếu. Mang bản sắc văn hóa, có tính đại diện cho một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc, điều đó khẳng định sự ra đời của Thành Nhà Hồ nằm trong “mạch” văn hóa truyền thống và chính thống. Mà văn hóa lại là cơ sở quan trọng để đánh giá giá trị của di sản, đúng như tiêu chí do UNESCO đề ra.

Hấp dẫn đến từ sự bí ẩn. Thành Nhà Hồ là hiện tượng có tính đột khởi về kỹ thuật khai thác, chế tác và xây dựng một đại công trình với nguyên liệu cơ bản là các tảng đá lớn. Không phải công trình duy nhất trong nước và khu vực có lối kiến trúc bằng đá, nhưng Thành Nhà Hồ vẫn là minh chứng “vô tiền khoáng hậu” về kỹ thuật xây dựng khác biệt, độc đáo.

Nhiều người đã đặt câu hỏi: bằng công cụ thô sơ, chỉ dùng sức người là chính, vậy làm thế nào những người thợ có thể chuyển những khối đá nặng trên chục tấn lên cao 8 – 10m, xếp chúng chồng khít với nhau mà không dùng bất kỳ chất kết dính nào để “vá” các phiến đá? Đây vẫn còn là ẩn số lớn chưa thể lý giải? Triều Hồ tuy ngắn ngủi nhưng nổi bật ở những cách tân đầy táo bạo trên nhiều lĩnh vực. Bởi vậy, mạo muội nghĩ rằng, phải chăng kỹ thuật xây dựng thành Tây Đô cũng nằm trong ý đồ cách tân toàn diện hay là bức thông điệp thứ nhất cũng thành công nhất về sự cách tân của nhà Hồ mà khởi xướng và đứng đầu là Hồ Quý Ly?

Với tư cách là kinh đô của nhà nước Đại Việt cuối Trần đầu Hồ, Tây Đô được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản về địa thế, phong thủy, tiền án hậu chẩm đều có hình sông thế núi bao bọc. Thành tọa lạc ở vị trí giáp ranh đồng bằng và miền núi, cảnh quan đẹp, sông núi hài hòa, địa hình đa dạng tạo lợi thế về quân sự. Sử dụng tới 20.000 m3 đá để xây dựng và gần 100.000 m3 đất được đào đắp, thành được kết cấu gồm 3 phần: Hoàng thành (nội thành); Hào thành bao bên ngoài, cách chân thành chừng 50m, có tác dụng bảo vệ nội thành và La thành là vòng ngoài cùng.

Chính sử chép: “Tháng giêng năm Đinh Sửu (1397), Hồ Quý Ly sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh về Yên Tôn khảo sát thực địa, đo đạc, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, xây đàn thờ thần, mở phố sá lập đường ngõ, công việc làm 3 tháng thì xong” – (sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên). Với khối lượng công việc lớn, đặc biệt là việc xây 4 bức tường thành bằng các phiến đá lớn, người xưa chỉ mất 3 tháng. Đó không chỉ là sức lực, đó còn là trí lực tuyệt vời của con người đã đổ xuống và hằn lên công trình này.

Và theo đó, thời gian xây dựng Thành Nhà Hồ không chỉ khiến nhiều người kinh ngạc, thán phục mà còn là yếu tố làm nên sức hấp dẫn của tòa thành. Trải qua 6 thế kỷ tồn tại, phần kiến trúc bên trong hoàng thành đã bị hủy hoại, vùi lấp hết, song 4 bức tường thành – biểu tượng của Thành Nhà Hồ – vẫn giữ tương đối nguyên vẹn kiến trúc ban đầu, nổi bật với 4 cổng Nam, Bắc, Đông, Tây.

Bên cạnh phần di tích lộ thiên, tiến hành khảo cổ tổng thể di tích Đàn tế Nam Giao và khai quật trên diện tích hàng chục nghìn mét vuông khác, các nhà khảo cổ đã phát hiện được hàng nghìn di vật và nhiều mảng kiến trúc thể hiện sự giao thoa, tiếp biến kiến trúc các thời Trần, Hồ và Lê sơ như sân lát gạch, các trụ chân tảng bằng đá, Giếng Vua… Đó là những lớp trầm tích văn hóa, thể hiện sự tiếp nối các giai đoạn lịch sử, các triều đại phong kiến mà vương triều Hồ là một mắt xích không thể thiếu.

Có thể nói, nhìn trên bình diện nào, dù là kiến trúc, lịch sử, văn hóa hay khảo cổ, Thành Nhà Hồ đều “phát lộ” ánh hào quang của riêng nó. Từng đóng vai trò là nơi giao lưu, trao đổi các giá trị văn hóa giữa Việt Nam với các nước Đông Á và Đông – Nam Á; nơi duy nhất ghi dấu ấn đặc biệt trong việc thực hiện các quyết định cách tân đất nước của vương triều Hồ, góp phần thúc đẩy và tăng cường các trào lưu tư tưởng mới ở Việt Nam và khu vực… Ngày nay, Thành Nhà Hồ trở thành chứng nhân lịch sử và những giá trị tự thân của nó đương nhiên đã mang “tầm” thế giới khi chính thức ghi tên mình vào “ngôi đền” di sản văn hóa nhân loại.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Thành Cổ Loa 🌼 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài thuyết minh về thành nhà Hồ ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập cho bài kiểm tra viết trên lớp.

Thành Nhà Hồ ( hay còn gọi là thành Tây Đô, thành Tây Giai) thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, ở phía Tây thành phố Thanh Hóa.

Vào cuối thế kỷ 14, xã hội thời Trần đang ngày càng lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng: mô hình nhà nước quân chủ quý tộc Phật giáo không còn phù hợp nữa, sản xuất bị đình đốn, nông dân lệ thuộc bị bần cùng hóa, khởi nghĩa nông dân nổ ra, ngoại xâm lăm le rình rập. Để cứu nguy đất nước và tiến hành triệt để các cải cách đổi mới, đại thần của nhà Trần là Hồ Quý Ly với trọng trách là Phụ chính Thái sư nhiếp chính đã quyết định xây dựng kinh đô mới ở Vĩnh Lộc (Thanh Hóa).

Có thể thấy các nguồn sử liệu Việt Nam đều thống nhất việc năm 1397 Hồ Quý Ly cho xây dựng kinh đô mới ở động An Tôn, nay thuộc các xã Vĩnh Yên, Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Trong kinh đô mới này, tòa thành đá đồ sộ do Hồ Quý Ly ra lệnh xây dựng, nên ngày nay dân gian thường quen gọi là Thành Nhà Hồ. Việc xây dựng Thành Nhà Hồ về cơ bản hoàn tất vào năm 1397. Tháng 3 năm 1398, Hồ Quý Ly đã cho chuyển đô từ Thăng Long vào kinh đô mới. Do có kinh đô mới cho nên từ năm 1398, trấn Thanh Hóa được đổi tên là trấn Thanh Đô.

Như vậy về mặt lịch sử, Thành Nhà Hồ là kinh đô của nhà Trần trong thời gian từ tháng 3 năm 1398 đến tháng 2 năm 1400. Ngày 28 tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi Hoàng đế đặt tên nước là Đại Ngu, niên hiệu là Thánh Nguyên. Bắt đầu từ đây, Thành Nhà Hồ là kinh đô của nước Đại Ngu và vương triều Hồ. Trong suốt quá trình tồn tại của vương triều Hồ, Thành Nhà Hồ (hay Tây Đô) tiếp tục được xây dựng, tu bổ và hoàn thiện.

Từ khi nhà Lê Trung Hưng trở lại đóng đô ở Thăng Long, Thành Nhà Hồ không còn giữ vị trí trọng yếu như trước nữa. Cũng từ đó trở đi, tòa thành dần dần trở nên hoang phế. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19, tòa thành đá vẫn luôn luôn hiện diện và chiếm vị trí trang trọng trong các ghi chép thời Tây Sơn và thời Nguyễn như Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ (1800), Việt sử thông giám cương mục (thế kỷ 19); Lịch triều hiến chương loại chí (1809 – 1819); Đại Nam nhất thống chí (1848 – 1883), Đồng Khánh địa dư chí, Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí (1816), Hồ Thành châu bản (1868)…

Khu di tích Thành Nhà Hồ trải qua lịch sử tồn tại thật lâu dài. Từ năm 1398 đến năm 1407 là kinh đô của nước Đại Việt của vương triều Trần và nước Đại Ngu của vương triều Hồ. Từ năm 1408 cho đến năm 1593, tòa thành luôn luôn là một trọng điểm chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa của Đại Việt ở khu vực miền Trung (hình 18-27).

Xác định giá trị lịch sử – văn hóa to lớn của khu di tích, ngày 28 tháng 4 năm 1962, di tích Thành Nhà Hồ đã được xếp hạng là Di tích lịch sử Quốc gia, một di tích trọng điểm cần được bảo vệ và bảo tồn lâu dài trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Trên bản đồ du lịch Thanh Hóa, bạn sẽ không thể bỏ qua điểm đến thành nhà Hồ, một trong những di tích lịch sử nổi tiếng của xứ Thanh, có giá trị rất cao về mặt văn hoá, kiến trúc.

Thành nhà Hồ gồm các bộ phận: La thành, Hào thành, Hoàng thành, Đàn tế Nam Giao cấu thành. Trong đó, công trình đồ sộ nhất và còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay là Hoàng thành. Toàn bộ mặt ngoài Hoàng thành gồm tường thành và bốn cổng chính được xây bằng những phiến đá xanh nặng từ 10 đến 20 tấn, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau, có phiến dài tới hơn 6m, nặng hơn 20 tấn. Tổng khối lượng đá sử dụng để xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu.

Sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Thành nhà Hồ đã bảo tồn phát huy giá trị vốn có, thực hiện nhiều cuộc khai quật và đã tìm thấy nhiều cứ liệu quý, góp phần rất lớn cho việc trùng tu, tôn tạo tòa thành đá “độc nhất vô nhị” này.

Thành nhà Hồ là một công trình kiến trúc độc đáo, địa điểm du lịch hấp dẫn không thể bỏ qua khi đến với vùng đất Thanh Hóa.

Đừng bỏ qua 🔥 Thuyết Minh Về Côn Đảo, Nhà Tù Côn Đảo 🔥 15 Bài Hay Nhất

Để hoàn thành tốt bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh thành nhà Hồ, các em học sinh cần tham khảo nhiều nguồn thông tin để có góc nhìn chính xác và phong phú hơn về di tích lịch sử này.

Thành Tây Đô được xây vào năm 1397 dưới triều Trần do quyền thần Hồ Quý Ly chỉ huy, người không lâu sau (1400) lập ra nhà Hồ. Theo sử sách, thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng một năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần.

Theo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở, có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá. Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ. Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao gồm thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 mét khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh.

Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật chiều Bắc – Nam dài 870,5m, chiều Đông – Tây dài 883,5m. Mặt ngoài của thành nội ghép thẳng đứng bằng đá khối kích thước trung bình 2 m x một m x 0,70 m, mặt trong đắp đất. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam – Bắc – Tây – Đông gọi là các cổng tiền – hậu – tả – hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam, Cửa Hậu còn gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai). Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi bưởi, trong đó to nhất là cửa chính Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5 m, rộng 15,17 m. Các phiến đá xây đặc biệt lớn (dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn).

Các cung điện, dinh thự trong khu vực thành đã bị phá huỷ, di tích còn lại hiện nay là 4 cổng thành bằng đá cuốn vòm, tường thành và đặc biệt là Di tích Đàn tế Nam Giao còn khá nguyên vẹn. Trong các phế tích đáng chú ý có nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất đẹp dài 3,62 m.

Thành nhà Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới chính là đánh giá chính xác nhất cho những giá trị về kiến trúc, văn hóa, lịch sử mà nó đang lưu giữ theo thời gian.

Mời bạn tiếp tục đón đọc ☘ Thuyết Minh Về Yên Tử, Chùa Yên Tử ☘ 15 Bài Văn Hay Nhất

Để viết bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ đạt điểm cao, các em học sinh cần nắm vững phương pháp làm bài và trau dồi cho mình một văn phong hay.

Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng , tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành Nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Theo sử sách, thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng 1 năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn).

Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Trong cải cách ông biểu thị tinh thần dân tộc cao, ý tưởng canh tân mạnh mẽ, phê phán cả Khổng Tử và Tân Nho giáo, nêu cao tính thực tiễn và hiệu quả. Thành Nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Theo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với quy mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. Dĩ nhiên, có lẽ đó là thời gian tập trung hoàn tất những công trình chủ yếu, quan trọng bậc nhất là tòa thành đá giữ vai trò như Hoàng thành, còn các cung điện, rồi La thành phòng vệ bên ngoài, đàn Nam Giao… còn được tiếp tục cho đến năm 1402.

Kết quả điều tra khảo sát và đo đạc của các nhà khảo cổ học cho biết thành Tây Đô quy mô lớn, riêng Hoàng thành hình gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 800m và chu vi trên 3,5km. Thành phía ngoài xây bằng đá, bên trong xây bằng đất đầm nện chắc, mở bốn cửa theo bốn hướng nam, bắc, đông tây. Tường thành đá bên ngoài xây bằng những khối đá nặng trung bình 10 tấn – 16 tấn, có khối nặng đến trên 26 tấn, được đẽo gọt khá vuông vắn và lắp ghép theo hình chữ công tạo nên sự liên kết kiên cố. Đất đắp bên trong thoai thoải dần.

Thành Nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành quy mô lớn, đặc biệt Hoàng thành và đàn Nam Giao. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành Nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá rất bền vững và kiến cố. Biết bao vấn đề đặt ra cần lời giải đáp như nguồn đá, cách thức đẽo gọt theo kích thước được tính toán phù hợp với cấu trúc và thiết kế tòa thành, phương tiện vận chuyển, phương pháp lắp ghép và xây dựng…

Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đến miếu, tượng đài, lăng mộ…, nhưng Thành Nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới.

Năm 1407, Thành Nhà Hồ bị thất thủ trước cuộc xâm lăng của quân Minh. Tuy thời gian tồn tại với vai trò kinh đô ngắn ngủi nhưng công việc dinh tạo, xây thành, đào hào, dựng cung điện, lập miếu đàn, mở mang đường sá, phố phường và chợ búa, đã nhanh chóng đưa khu vực Tây Đô trở thành một trung tâm chính trị quốc gia, một khu vực phồn thịnh của đất nước.

Thành Nhà Hồ lại được xây dựng trên vị trí đầu mối giao thông thủy bộ, vừa nằm trên con đường bộ “thượng đạo” chạy từ thành Thăng Long vào đến biên giới phía nam lúc đó giáp Champa, vừa bên hai dòng sông lớn là sông Mã và sông Chu nối miền đồng bằng ven biển với miền núi rừng phía tây và hệ thống sông đào được khai mở từ thời tiền Lê, tiếp tục qua thời Lý, Trần đến Hồ theo hướng bắc nam. Địa hình nằm giữa vùng đồng bằng giáp với miền núi rừng nên cảnh quan thiên nhiên đa dạng, địa thế lợi hại cho một căn cứ quân sự.

Sự kiên cố của tòa thành cùng với những điều kiện giao thông, địa thế tự nhiên đó đã tạo nên sức sống và sự trường tồn của kiến trúc. Trong hai mươi năm Minh thuộc (1407-1427), đây là căn cứ quân sự của quân Minh và cũng là nơi đã diễn ra nhiều cuộc giao tranh, kết thúc bằng thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn bao vây và buộc đối phương phải đầu hàng. Trong thời Nam – Bắc triều (1533-1592), Thành Nhà Hồ cũng là nơi chứng kiến nhiều cuộc chiến đấu giữa quân Mạc và quân Lê.

Khi đã làm chủ vùng Thanh Hóa, Thành Nhà Hồ không những là một căn cứ quân sự của chính quyền Lê – Trịnh mà còn là nơi đã tổ chức kỳ thi Hương năm 1562 ở Cửa Nam thành. Trong suốt thời Lê Trung hưng và thời Tây Sơn, Thành Nhà Hồ vẫn được sử dụng như một pháo đài quân sự trong phòng thủ và tấn công khi có giao tranh. Tuy mất vai trò kinh đô nhưng Thành Nhà Hồ vẫn sừng sững, uy nghi như một tòa thành quân sự kiên cố trong thời gian dài.

Khu vực Thành Nhà Hồ nằm giữa một không gian rộng lớn, xóm làng thưa thớt và chưa bị sức ép nhiều của dân số và đô thị hóa. Nhờ đó, điều may mắn là tuy các kiến trúc cung điện, tường gạch bên trên thành cùng các bộ phận bằng gạch, gỗ bị sụp đổ, hủy hoại và tòa thành cũng không tránh khỏi có phần bị sạt lở, nhưng gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Những di tích còn được bảo tồn trên mặt đất đã rất quý, nhưng trong lòng đất Thành Nhà Hồ chắc chắn còn chứa đựng một kho tàng di tích, di vật vô cùng quý giá.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ ở Thanh Hóa ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách hành văn hàm súc mà vẫn giàu ý nghĩa biểu đạt.

Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới.

Thành hình gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 800m và chu vi trên 3,5 km. Thành phía ngoài xây bằng đá, bên trong xây bằng đất đầm nện chắc, mở bốn cửa theo bôn hướng Nam, Bắc, Đông, Tây. Tường thành đá bên ngoài xây bằng những khối đá nặng trung bình 10-16 tấn, có khối nặng đến trên 26 tấn, được đẽo gọt khá vuông vắn và lắp ghép theo hình chữ công (I) tạo nên sự liên kết kiên cố.

Đất đắp bên trong thoai thoải dần. Thành qua thời gian trên 6 thế kỷ đã bị bào mòn và có chỗ bị sạt lở, nhưng di tích tường thành chỗ còn lại vẫn dày khoảng 4-6m, chân thành rộng khoảng trên 20m. Bốn cửa thành xây theo kiểu vòm cuốn, bằng đá, riêng cửa Nam là cửa chính có ba cổng ra vào, dài trên 34m, cao hơn 10m. Hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài.

Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá quy mô khá lớn. Hiện các kiến trúc cung điện, tường gạch bên trên thành cùng các bộ phận bằng gạch, gỗ bị sụp đổ, hủy hoại và tòa thành cũng không tránh khỏi có phần bị sạt lở, nhưng gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn tồn tại.

Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, thành cũng được CNN đánh giá là một trong 21 di sản nổi bật và vĩ đại nhất thế giới

Đọc nhiều hơn 🌻 Thuyết Minh Về Cố Đô Huế 🌻 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Văn mẫu thuyết minh du lịch về thành nhà Hồ chọn lọc sẽ là tư liệu hay hỗ trợ các em học sinh hoàn thành tốt bài viết của mình.

Thành nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam và có giá trị, độc đáo nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới. Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 11 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNECO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Thành đá được xây dựng trong một thời gian kỷ lục, chỉ chừng 3 tháng. Các cấu trúc khác như các cung điện, rồi La Thành phòng vệ bên ngoài, đàn Nam Giao… còn được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cho đến năm 1402. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thê kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Thành Nhà Hồ có địa thế khá hiểm trở, lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá. Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ.

Như mọi thành quách lúc bấy giờ, thành bao gồm thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 mét khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh. Thành Nhà Hồ thể hiện một trình độ rất cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ. Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào. Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng vững.

Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Thuyết Minh Về Khu Di Tích Lịch Sử Pác Bó 🌟 15 Bài Hay Nhất

Tham khảo bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ học sinh giỏi giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng viết và có thêm những cảm nhận sâu sắc hơn.

Thành nhà Hồ là di tích lịch sử được xây dưới triều Trần. Đây là một trong những tòa thành lũy bằng đá hiếm hoi còn sót lại trên thế giới và cũng là điểm du lịch rất được yêu thích tại Thanh Hoá.

Nhắc đến vùng đất Thanh Hóa, người ta nhớ ngay đến cái nôi của những vị anh hùng dân tộc, những câu chuyện lịch sử hùng tráng với những chiến tích vẻ vang. Trước biến cố thăng trầm của lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đến ngày nay nhiều di tích vẫn còn sừng sững với thời gian. Nổi bật trong số đó là thành nhà Hồ với những nét đẹp cổ kính, rêu phong, là chứng tích cho một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam.

Di tích thành nhà Hồ đã được Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia, có giá trị đặc biệt quan trọng của dân tộc vào năm 1962. Tiếp theo đó là 11 năm đệ trình hồ sơ lên Uỷ ban Di sản Thế giới. Đến ngày 27 tháng 6 năm 2011, tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận thành nhà Hồ di sản văn hoá thế giới.

Thành nhà hồ là di tích đạt được các tiêu chí quan trọng là hể hiện được sự ảnh hưởng và các giá trị nhân văn qua một thời kỳ lịch sử của quốc gia hay khu vực trên thế giới. Có những đóng góp quý báu về kiến trúc, công nghệ, điêu khắc, và quy hoạch thành phố. Thành nhà Hồ Vĩnh Lộc Thanh Hoá là công trình cổ xưa, khắc hoạ được giá trị của một hay nhiều giai đoạn trong lịch sử nhân loại.

Thành nhà Hồ khi ấy có tên là thành Tây Đô, được vua Trần Nhân Tông giao cho quyền thần Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397. Hồ Quý Ly cũng chính là người lập ra triều đại nhà Hồ vào năm 1400. Thành nhà Hồ bắt đầu khởi công vào mùa xuân năm Đinh Sửu. Mục đích của việc xây thành này là để buộc vua Trần Nhân Tông phải dời kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa, nhằm lật đổ triều Trần. Đến năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đại Ngu. Thành nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô của triều đại mới.

Thành nhà Hồ được xây dựng chỉ trong vòng 3 tháng, sau đó được tiếp tục hoàn thiện cho đến năm 1402. Nơi này có địa thế khá hiểm trở với núi non dựng đứng, sông nước bao quanh, vừa có ý nghĩa chiến lược trong phòng thủ quân sự, vừa phát huy được ưu thế giao thông đường thuỷ.

Các công trình thuộc thành nhà Hồ bao gồm thành nội có hình chữ nhật dài 870,5m theo chiều Bắc – Nam và 883,5m chiều Đông – Tây. Bốn cổng thành Nam – Bắc – Tây – Đông gọi là tiền – hậu – tả – hữu. Các cổng của thành nội đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi, các phiến đá được xây dựng đặc biệt lớn. Thành nhà Hồ có trình độ kỹ thuật xây vòm đá rất cao. Các phiến đá nặng hàng chục tấn được ráp với nhau một cách tự nhiên, không chất kết dính mà vẫn còn tồn tại sau 600 năm.

Hào thành rộng khoảng hơn 90m với phần đáy rộng 52m, sâu hơn 6.5m. Để giữ độ chắc chắn cho Hào thành, người xưa đã dùng đá hộc, đá dăm lót ở phía dưới. Phía trước Hào thành là La thành. La thành hiện tại là tòa thành đất cao 6m, bề mặt rộng 9.2m, mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải, mỗi bậc cao 1.5m, một số vị trí có lát thêm sỏi để gia cố. Toàn bộ La thành xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên, tạo nên bức tường thiên nhiên hùng vĩ, có chức năng bảo vệ tòa thành và phòng chống lũ lụt.

Đàn tế Nam giao được xây dựng ở phía Nam thành nhà Hồ, phía bên trong của La thành với diện tích là 35.000m2. Đàn tế được chia làm nhiều tầng, trong đó tầng đàn trung tâm cao 21.7m. Chân đàn cao khoảng 10.5m. Phần đàn tế trung tâm bao gồm ba vòng tường bao bọc lẫn nhau.

Thành nhà Hồ là điểm du lịch lý tưởng, nơi du khách vừa có thể tận hưởng bầu không khí trong lành, thoáng đãng, yên tĩnh, vừa được tìm hiểu thêm về lịch sử Việt Nam. Ghé thăm nơi này, bạn như được quay ngược thời gian, trở về thời xa xưa, được tận mắt nhìn thấy, chạm tay vào những phiến đá để cảm nhận vẻ đẹp tiềm ẩn và huyền bí của thành nhà Hồ.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Đón đọc bài văn mẫu thuyết minh về thành nhà Hồ đặc sắc sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn phong phú, giàu hình ảnh.

Thành nhà Hồ được xây dựng tại khu vực hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành được Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397, đời vua Trần Thuận Tông (1388 – 1398). Thành Nhà Hồ còn có tên gọi khác là thành Tây Đô, hay còn gọi là thành An Tôn và chính thức được coi là kinh đô của đất nước ta thời đó.

Thành nhà Hồ, được xây dựng ở khoảng giữa hai con sông: sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngọa, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam còn là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới.

Kiến trúc của tòa thành được xây dựng hết sức độc đáo, với nguyên tắc kết hợp giữa đá ở bên ngoài và đắp đất ở bên trong. Thành nhà Hồ, tọa lạc trên bình đồ kiến trúc gần vuông, hai mặt Nam và Bắc của thành nhà Hồ dài hơn 900m, Đông và Tây dài hơn 700m với tường thành bao quanh. Độ cao trung bình của thành nhà Hồ từ 7 đến 8m, có nơi như ở cửa Nam cao tới 10m. Đây chính là một bằng chứng về sức lao động và tài năng khéo léo của nhân dân ta lúc bấy giờ.

Thành nhà Hồ được tạo nên bởi những tảng đá xanh đẽo vuông vức, công phu, tạo thành 4 đến 5 mặt phẳng, có tấm rất to ở cửa Tây dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m, được xếp chồng lên nhau thành hình chữ công. Những phiến đá to và nặng như thế được xếp lên nhau, không cần chất kết dính mà vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua 600 năm thử thách, cơ bản phần ốp đá bên ngoài hầu như vẫn còn nguyên vẹn.

Thành nhà Hồ có 4 cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình tép cam, có kích thước rất lớn. Hai cánh cửa dày, nặng và chắc được thể hiện qua dấu vết để lại của những lỗ đục vào đá và những chỗ lắp ngưỡng cửa. Ba mặt Đông, Tây, Bắc đều được xây một cửa cuốn, vòm giữa xây to và cao hơn hai vòm bên.

Thành Nhà Hồ là một công trình kiến trúc vững chắc, thể hiện rõ vai trò một trung tâm quân sự. Điều đáng ngạc nhiên là một công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc như vậy mà chỉ được xây trong vòng có 3 tháng và hoàn toàn bằng đá. Thành Nhà Hồ đã từng được coi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta. Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi 7 năm (1400-1407) dưới triều Hồ, nhưng đây là một kiến trúc độc đáo và thực sự là một di sản quý báu, một biểu hiện kiệt xuất của những công trình thành cổ.

Hiện nay, di tích thành nhà Hồ còn là một danh lam thắng cảnh, một tụ điểm du lịch đẹp mắt, hấp dẫn khách du lịch tới tham quan. Đây là công trình xây dựng bằng đá lớn nhất và tồn tại lâu nhất ở nước ta.

Tiếp theo, mời bạn xem nhiều hơn 🌹 Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ lớp 8 sẽ là một trong những gợi ý để các em học sinh hoàn thành tốt đề văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của đất nước.

Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía bắc, qua các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi là Thành An Tôn, Thành Tây Giai, thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay.

Năm 1397, Hồ Quý Ly chọn đất An Tôn xây thành thủ hiểm. Thành được xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngoạ, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới. Sử cũ cho biết thành xây 3 tháng thì xong. Thành Tây Đô được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông. Hiện nay, thành có độ cao trung bình 7m đến 8m, các cổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m.

Nét đặc sắc của tường thành này là ở phần xây đá bên ngoài, còn bên trong đắp đất. Mặt ngoài thành được gia cố bằng những tảng đá xanh đẽo vuông vức, công phu ít nhất có từ 4 đến 5 mặt phẳng. Nhiều phiến rất to ở cửa Tây (dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m), được xếp chồng lên nhau thành hình chữ công. Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững.

Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay. Tường thành không những được xây bằng đá tảng mà năm Tân Tỵ (1401), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho nhân dân nung gạch để xây thêm phần tường thành phía trên. Phần tường gạch ngày nay gần như không còn nữa nhưng những viên gạch vẫn thấy nằm rải rác trong các gia đình gần thành.

Cho đến nay, nơi khai thác và cung cấp đá cho việc xây dựng thành Tây Đô và cả việc chuyên chở vật liệu đang là đề tài bàn bạc. Nhân dân địa phương cho biết, người xưa có thể lấy đá ở nhiều nơi quanh vùng Tây Đô, gần nhất là núi đá xanh Yên Tôn, hiện còn những tảng đá xanh mang tên “An Tôn xã”. Hang Tượng dùng để nhốt voi chuyên chở đá xây thành.

Con đường phía Tây được lát đá xanh bằng phẳng từ bờ sông Mã đến cửa Tây còn có tên gọi “Bến Đá”. Gần đây, những hộ dân xung quanh đường còn giữ được những viên bi đá. Đá lấy từ nhiều nơi khác, chuyên chở bằng đường sông, đường bộ, chở bằng cộ (loại xe lớn có một bánh gỗ), chở bằng voi kéo, hoặc người ta dùng những viên bi đá cho khối đá khổng lồ trượt lên trên.

Thành Tây Đô có 4 cửa : Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múi cam.

Có thể nói thành nhà Hồ là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm có còn lại không chỉ ở Việt Nam mà cả khu vực Đông Nam Á và trên thế giới mang nhiều giá trị về lịch sử và văn hoá.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Dinh Độc Lập 🌼 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về thành nhà Hồ lớp 8 ngắn gọn với những thông tin quan trọng và cơ bản nhất sẽ giúp các em học sinh ôn tập nhanh chóng và đạt điểm cao với bài viết của mình.

Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa, được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt. Thành xây trên địa phận hai thôn Tây Giai, Xuân Giai nay thuộc xã Vĩnh Tiến và thôn Đông Môn nay thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Vị trí thành nhà hồ so với các trung tâm thành phố lân cận.

Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh.

Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thê kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Thành Nhà Hồ hiện nay đã chính thức được vinh danh trên toàn thế giới, thể hiện những bước đi vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị đối với di tích đặc biệt quan trọng này.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Khi làm bài thuyết minh về thành nhà Hồ lớp 10, các em học sinh không chỉ luyện tập cách diễn đạt mà còn tìm hiểu thêm những trang lịch sử hào hùng của dân tộc.

Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa. Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407.

Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly – lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần – cho xây dựng vào năm 1397. Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa. Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô. Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai.

Thành Nhà Hồ đã đáp ứng hai tiêu chí được quy định trong Công ước Di sản Thế giới năm 2008. Đó là tiêu chí 2 “bày tỏ sự trao đổi quan trọng của các giá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bên trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, quy hoạch thành phố hay thiết kế phong cảnh” và tiêu chí 4 “là ví dụ nổi bật về một loại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”.

Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Nhờ kỹ thuật xây dựng độc đáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồ được bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn.

Đây là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì phức hợp di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thành còn có Đàn tế Nam Giao.

Thành nội được xây dựng gần như hình vuông; có chu vi 3.508m; diện tích 142,2ha; tường thành chiều Nam – Bắc dài 870,5m; chiều Đông – Tây dài 883,5m. Thành nội có 4 cổng, được mở ở chính giữa của bốn bức tường thành. Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá xanh, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các phiến đá có chiều dài trung bình 1,5m, dày 1m, nặng khoảng từ 15 – 20 tấn.

Trục chính của thành không theo đúng hướng Bắc Nam, nhưng các cổng vẫn được gọi tên theo bốn hướng chính: cổng Nam, cổng Bắc, cổng Đông, cổng Tây (hay còn gọi là: Tiền, Hậu, Tả, Hữu). Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau.

Cổng Nam là cổng chính, có ba cửa: cửa giữa rộng 5,82m, cao 5,75m; hai cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m. Ba cổng còn lại chỉ có một cửa, trong đó cổng Bắc rộng 5,8m; cổng Đông rộng 5,9m, cao 5,4m; cổng Tây rộng 5,8m, cao 5,4m. Tường thành cao trung bình từ 5 – 6m, chỗ cao nhất là cổng Nam cao 10m. Các nhà khoa học đã ước tính toàn bộ phần tường đá chiếm khoảng 25.000m3.

Theo các tài liệu, Thành nội có các công trình kiến trúc như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Cực, Đông cung, Đông Thái miếu, Tây Thái miếu… Tuy nhiên, hiện nay Thành nội chỉ còn lại một số di tích và di vật như: phần tường thành, bốn cổng thành, dấu tích các hồ nước, đôi rồng bậc thềm làm bằng đá với những nét điêu khắc rất tinh xảo, nền móng kiến trúc Thành nội, đường lát đá Hoa Nhai, bi đá, đạn đá, đồ gốm sứ, khuôn viên cổng Nam và các hiện vật có giá trị đặc trưng cho văn hóa Trần – Hồ.

Hệ thống Hào thành nằm bao quanh Thành nội và được nối thông với sông Bưởi qua một con kênh ở góc đông nam của thành. Hào thành có bốn cầu đá bắc vào 4 cửa của Thành nội. Ngày nay, nhiều phần của Hào thành đã bị lấp cạn. Tuy nhiên, dấu tích của Hào thành vẫn có thể nhận thấy rất rõ ở phía Bắc, phía Đông và một nửa phía Nam của thành.

La thành là vòng thành ngoài cùng của thành Nhà Hồ, được xây dựng để che chắn cho Thành nội (Hoàng thành) và nơi sinh sống của cư dân trong thành. La thành dài khoảng 10km, được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên. Nhà Hồ đã dựng La thành bằng cách cho đắp đất, trồng tre gai để nối liền các ngọn núi Đốn Sơn (xã Vĩnh Thành), Hắc Khuyển (xã Vĩnh Long), Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sỹ (xã Vĩnh Ninh), Kim Ngọ (xã Vĩnh Tiến), Kim Ngưu, Tượng Sơn (xã Vĩnh Quang) với hai con sông là sông Bưởi và sông Mã. Hiện nay, dấu tích của La thành thuộc địa phận làng Bèo (xã Vĩnh Long) với chiều dài 2.051,9m, cao khoảng 5m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,2m, chân thành rộng 37m đã được khoanh vùng bảo vệ.

Đàn tế Nam Giao, hay còn gọi là đàn Nam Giao là một công trình kiến trúc cung đình quan trọng, được xây dựng năm 1402 ở phía Tây Nam núi Đốn Sơn, nằm thẳng trên đường thần đạo từ cổng Nam nhìn ra, cách thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông Nam. Đàn Nam Giao có diện tích 43.000m². Mặt bằng hiện tại còn lộ rõ 5 nền đất với 5 bậc cấp. Từ nền đàn cao nhất xuống nền đàn thấp nhất chênh lệch nhau là 7,80m.

Đàn Nam Giao là nơi tế trời, cầu mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, vương triều trường tồn, thịnh trị. Ngoài ra, đàn còn là nơi tế linh vị của các hoàng đế, các vì sao và nhiều vị thần khác. Tế Nam Giao còn là lễ tạ ơn trời đất về sự hiện diện của vương triều, được coi là nghi lễ mang tính cung đình. Lễ tế Nam Giao đầu tiên của triều Hồ được tổ chức cùng năm xây dựng.

Tại thành Nhà Hồ, ngoài việc đắp đàn Nam Giao và cử hành lễ tế năm Nhâm Ngọ (1402), vương triều Nhà Hồ đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử như: lập đàn Xã Tắc năm Đinh Sửu (1397), tổ chức hai kỳ thi thái học sinh vào năm Canh Thìn (1400) và Ất Dậu (1405). Ngoài ra, thời kỳ này còn gắn liền với những cách tân đáng ghi nhận như cải cách thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ Nôm, phát hành tiền giấy.

Ngày nay Thành Nhà Hồ đã và đang được từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm trước hết là khôi phục và gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo đã có trên 600 năm và là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước mỗi lần đến Thanh Hóa.

Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít còn lại trên thế giới. Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới.

Mời bạn đón đọc 🌜 Thuyết Minh Về Đền Ngọc Sơn 🌜 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Tiếng Anh:

Ho Dynasty citadel (also known as Tay Do citadel) in Vinh Long and Vinh Tien communes, Vinh Loc district, Thanh Hoa province, is one of the most unique stone architectures of Vietnam and the world. The work was built by Ho Quy Ly in 1397, once considered the capital, the cultural and social center of Dai Ngu under the Ho Dynasty. After more than 600 years of existence with many historical events, on June 27, 2011, the Ho Dynasty Citadel was officially recognized by UNESCO as a world cultural heritage. Currently, the Ho Dynasty Citadel is considered as one of the attractive tourist attractions of Thanh Hoa province.

Tiếng Việt:

Thành nhà Hồ (còn gọi là thành Tây Đô) ở xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những công trình kiến trúc bằng đá độc đáo bậc nhất của Việt Nam và thế giới. Công trình được Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397, từng được coi là kinh đô, trung tâm văn hóa chính trị xã hội của nước Đại Ngu dưới triều Hồ. Trải qua hơn 600 năm tồn tại với bao biến cố của lịch sử, ngày 27-6-2011, Thành nhà Hồ chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, Thành nhà Hồ được xem là một trong những điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Thanh Hóa.

Gợi ý cho bạn 🔥 Thuyết Minh Về Vịnh Hạ Long 🔥 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Giúp Học Sinh Luyện Tập Và Nâng Cao Kỹ Năng Viết.

Cùng tham khảo mẫu Dàn Bài Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị chi tiết sau đây giúp các em có thể triển khai bài văn đầy đủ ý nhất.

Mở bài

Giới thiệu về di tích lịch sử đã tìm hiểu, lựa chọn để thuyết minh: Thành Cổ Quảng Trị

Đưa ra một vài nhận xét chung về di tích đó: là cụm di tích lịch sử – kiến trúc nổi tiếng

Thân bài

Vị trí, địa điểm di tích

Giới thiệu về những nét đặc biệt của di tích

Vai trò của khu di tích:

Kết bài

Nêu cảm nghĩ về di tích lịch sử đó

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em❤️️ Ngắn Hay

Thuyết Minh Hay Về Thành Cổ Quảng Trị giúp các em có thêm nhiều kiến thức về địa danh lịch sử nổi tiếng này.

Việt Nam ta có rất nhiều những danh lam thắng cảnh gắn liền với những sự kiện lịch sử, những giai đoạn thời kỳ đen tối khốc liệt của dân tộc. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến thành cổ Quảng Trị, nơi được mệnh danh là “ nghĩa trang không nấm mồ”.

Thành cổ Quảng Trị là một Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4, tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Theo sử cũ , thành được xây dựng dưới triều Nguyễn vào đầu thời Gia Long, thành Quảng Trị được xây dựng tại phường Tiền Kiên (Triệu Thành – Triệu Phong), đến năm 1809, vua Gia Long cho dời đến xã Thạch Hãn (tức vị trí ngày nay, thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị).

Thành được dùng làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính, đến năm 1929 Pháp cho xây thêm nhà lao để giam cầm các những người có quan điểm chính trị đối lập. Nơi đây đã ghi lại dấu ấn của một cuộc chiến khốc liệt nhuộm màu bi thương giữa quân ta với Mỹ – Ngụy vào năm 1972 suốt 81 ngày đêm.

Nguyên nhân diễn ra trận chiến này là sau khi quân giải phóng của ta đã chiếm được thành cổ Quảng Trị, Mỹ không chấp nhận được việc mất thành nên chúng muốn phát động cuộc chiến vừa để giành lại thành vừa để gây sức ép với nước ta trên Hội nghị Paris.

Trong suốt 81 ngày đêm ấy, chúng xả xuống hơn 328.000 tấn bom đạn cùng với lực lượng quân đội tiến đánh với số lượng khổng lồ, thế nhưng điều đó không làm nhụt chí những người lính giải phóng quân ấy, họ mặc mưa bom bão đạn, tiến về phía trước với một niềm tin chiến thắng mãnh liệt với lý tưởng cao đẹp bảo vệ Tổ Quốc.

Kết thúc cuộc chiến, chiến thắng nghiêng về quân ta nhưng lực lượng bên ta bị thiệt hại nặng nề, hơn 4000-10000 người lính đã gieo mình xuống đất, vì thế mà thành cổ trở thành vùng đất thiêng, “ cối xay thịt người” gợi nhắc người dân Việt Nam về sự kiện đẫm máu ấy, về nền hòa bình được tạo dựng ngày hôm nay được đánh đổi bằng biết bao xương máu của ông cha ta.

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đến nay, thành cổ Quảng Trị chỉ còn dấu vết của một số đoạn thành. Ban đầu, thành cổ Quảng Trị được xây bằng đất nhưng đến 1839 dưới thời vua Minh Mạng, thành được xây lại bằng gạch, mang kiến trúc phòng thành. Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành là hơn 2.000 m, cao hơn 4 m, dưới chân dày hơn 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài nhô hẳn ra ngoài.

Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính ở các phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Kiến trúc của mỗi cổng thành xây bằng gạch, gồm hai tầng: tầng dưới là phần nền với bộ phận chính là cổng thành xây vòm cuốn theo kỹ thuật “bốn viên kê dọc, nêm giữa, đội khuôn”; tầng trên là một vọng lâu có kiến trúc độc đáo theo lối vọng lâu xây bằng gạch, mái cong, lợp ngói âm dương.

Nội thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho việc ở và làm việc của các cơ quan công đường thuộc bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Trị. Trong đó, Hành cung là công trình trọng yếu, là nơi để Vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm.

Ngoài những công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn còn lại như Hành cung, Dinh Tuần phủ, dinh Án sát, ngục thất, khám đường…, Thành cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoạn… khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ.

Không chỉ mang nét đẹp cổ kính, trầm lặng mà bi thương, thành cổ Quảng Trị còn có giá trị lịch sử và chính trị vô cùng to lớn.

Nơi đây là đại diện cho nét đặc trưng của kiến trúc cũng như lĩnh vực quân sự dưới triều Nguyễn, đồng thời mang ý nghĩa là một trung tâm hành chính, chính trị và văn hóa của một địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử, và là chứng nhân của lịch sử, chứng kiến thời kỳ suy thoái, đầy biến động của dân tộc _ triều Nguyễn, chứng kiến những sự khổ đau, đói nghèo của nhân dân dưới thời Pháp thuộc, thời đế quốc Mỹ xâm lăng, và chứng kiến tinh thần dũng cảm bất khuất của những người lính đã chiến đấu hết mình vì tổ quốc.

Có thể nói, thành cổ Quảng Trị là di tích lịch sử quan trọng với nhiều ý nghĩa và giá trị to lớn, là miền đất mà khi đặt chân đến đây, lắng nghe câu chuyện lịch sử, có lẽ ai cũng không thể kìm được cảm xúc bồi hồi, tiếc thương cho những “ người hùng vô danh” đã gieo mình xuống nơi đây, mãi mãi không thể trở về quê hương, gia đình. Nơi đây đã trở thành điểm đến nổi tiếng của nhiều du khách tứ phương và người dân bản địa và được bảo tồn, duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.

Chia Sẻ Bài 🌹 Thuyết Minh Về Dinh Độc Lập ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Ngắn Gọn giúp các em có thể học hỏi được cách triển khai bài văn logic, mạch lạc nhất.

Nói đến Quảng Trị ta không thể không nhắc đến thành cổ Quảng Trị, danh lam thắng cảnh cũng như di tích lịch sử và là nơi tưởng niệm về những anh hùng liệt sĩ của “một thời máu đổ”.

Thành cổ Quảng Trị tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, là di tích Quốc gia đặc biệt của Việt Nam. Thành được xây dựng bằng đất dưới triều vua Gia Long, ban đầu thành cổ Quảng Trị nằm ở phường Tiền Kiên (Triệu Thành – Triệu Phong), đến năm 1809, vua Gia Long cho dời đến xã Thạch Hãn (tức vị trí ngày nay, thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị).

Không chỉ ghi lại dấu tích về một sự kiện đẫm máu mà bi thương của dân tộc, mà thành Cổ Quảng Trị còn mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành là hơn 2.000 m, cao hơn 4 m, dưới chân dày hơn 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài nhô hẳn ra ngoài. Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian.

Thành trổ bốn cửa chính ở các phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Kiến trúc của mỗi cổng thành xây bằng gạch, gồm hai tầng: tầng dưới là phần nền với bộ phận chính là cổng thành xây vòm cuốn theo kỹ thuật “bốn viên kê dọc, nêm giữa, đội khuôn”; tầng trên là một vọng lâu có kiến trúc độc đáo theo lối vọng lâu xây bằng gạch, mái cong, lợp ngói âm dương.

Nội thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho việc ở và làm việc của các cơ quan công đường thuộc bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Trị. Trong đó, Hành cung là công trình trọng yếu, là nơi để Vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm.

Ngoài những công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn còn lại như Hành cung, Dinh Tuần phủ, dinh Án sát, ngục thất, khám đường…, Thành cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoạn… khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ.

Có thể nói thành cổ Quảng Trị có ý nghĩa to lớn về mặt quân sự, cung cấp tư liệu nghiên cứu lịch sử về thời Nguyễn và là một trung tâm hành chính, chính trị và văn hóa của một địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử, đồng thời nơi đây còn có giá trị về lịch sự bởi thành chính là chứng nhân của một lịch sử đen tối, đầy biến động, bi thương của cả dân tộc, nó chứng kiến sự suy thoái và sụp đổ của nhà Nguyễn và chứng kiến tội ác của thực dân Pháp cũng như Đế quốc Mỹ, chính quyền Ngụy Sài Gòn đã bóc lột, hành hạ nhân dân ta qua hàng chục thập kỷ.

Như vậy, thành cổ Quảng Trị đã và đang chiếm giữ một vị trí quan trọng với người dân đất Quảng nói chung và người Việt Nam nói riêng. Những giá trị của nơi đây cần được bảo tồn, duy trì và phát huy, lưu truyền lại cho thế hệ nay và mai sau để những thế hệ ấy có cơ hội tìm hiểu, tiếp thu kiến thức về lịch sử nước nhà từ đó thêm trân trọng nền hòa bình của đất nước bởi nó đã được đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu của ông cha ta và để có thêm động lực, có thêm lý do mục tiêu cố gắng học tập để cống hiến cho quê hương, đất nước.

Qua bao thăng trầm lịch sử, thành cổ Quảng Trị vẫn ở đó, nhưng người đã mãi ra đi không thể quay về. Là nhân chứng cho những tội ác của chủ nghĩa thực dân và đế quốc, cũng là nhân chứng cho những nỗi đau bi thương của cả dân tộc, mẹ mất con, con mất cha, vợ mất chồng. Nơi những người anh hùng đã nằm xuống vì sự tàn bạo của chiến tranh.

Qua bài thuyết minh về Thành cổ Quảng Trị, chúng ta sẽ phần nào thấu hiểu nổi đau của sự mất mát, sự khốc liệt của chiến tranh đã để lại. Đồng thời cũng đề cao ý chí chiến đấu của dân tộc ta, đánh đổi xương máu để giành lấy hòa bình.

Đón Đọc Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Hồ Hoàn Kiếm ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Chia sẻ đến bạn đoc mẫu Văn Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Đơn Giản để các em có thể tham khảo và ôn tập thật tốt cho kì thi của mình.

Thành cổ Quảng Trị là điểm dừng chân thu hút nhiều du khách trên hành trình xuyên Việt vì những câu chuyện huyền thoại và chứng tích bi tráng của nơi từng diễn ra trận đánh đẫm máu 81 ngày đêm năm 1972 giữa quân dân ta với Mỹ-Ngụy.

Thành cổ Quảng Trị hoặc Cổ thành Quảng Trị là một Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4, tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

Theo như một số tài liệu thì vào đầu thời Gia Long, thành Quảng Trị được xây dựng tại phường Tiền Kiên (Triệu Thành – Triệu Phong), đến năm 1809, vua Gia Long cho dời đến xã Thạch Hãn (tức vị trí ngày nay, thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị). Ban đầu thành được đắp bằng đất, tới năm 1837 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch.

Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành là hơn 2.000 m, cao hơn 4 m, dưới chân dày hơn 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài nhô hẳn ra ngoài. Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính ở các phía Đông, Tây, Nam, Bắc.

Trong những năm 1809-1945 nhà Nguyễn lấy làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính. Từ năm 1929, Pháp xây dựng thêm nhà lao ở đây và biến nơi đây thành nơi giam cầm các những người có quan điểm chính trị đối lập.

Tại nơi đây đã có những trận đánh lớn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trong các năm 1968, 1972. Sau chiến dịch Thành Cổ “chiến dịch Xuân – Hè 1972” 1972 toàn bộ Thành Cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bomđạn.

Tại Thành cổ Quảng Trị, không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Tượng đài có hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Phía dưới của tượng đài là hành trang người lính gồm nón, ba lô và một cây thiên mệnh hướng lên trời xuyên qua ba áng mây. Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến và ánh hào quang, dưới tầng mây cuối cùng có gắn hình tượng chung là ba bát cơm tiễn người đã khuất.

Ngoài vòng tròn gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ giải phóng quân. Trong khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát. Góc phía Tây Nam của Thành cổ là Bảo tàng với rất nhiều chứng tích chiến tranh được lưu giữ và thuyết minh đầy cảm xúc, khiến bất cứ ai thăm nơi này đều xúc động, bồi hồi.

Thành cổ được vua Gia Long ra lệnh xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam. Từ Thành cổ có thể ra Bắc, vào Nam bằng đường bộ lẫn thủy thuận tiện. Theo sử liệu, ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, sau được vua Minh Mạng cho xây lại với chức năng quân sự với 4 pháo đài, có 4 cửa ra vào, bao quanh là hệ thống hào thành sâu hơn 3 mét, rộng hơn 18 mét.

Các cửa thành đều được xây vòm cuốn với vọng lâu, mái cong lợp ngói âm dương. Bên ngoài mỗi cửa đều có một chiếc cầu uốn cong bắc qua hào thành. Bên trong thành có hành cung được bảo vệ bởi hệ thống tường cao, dày, có nhà ở của các vị Vua khi đi kinh lý qua hay dự lễ thăng chức của các quan.

Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn.

Hiện nay, chỉ có vài đoạn tường thành và bốn cổng chính của Thành được phục chế. Dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là “Đất tâm linh” của nhiều người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung, vì nơi đây mỗi tấc đất đều thấm máu của các chiến sĩ ta.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Núi Voi ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Di Tích Thành Cổ Quảng Trị Sinh Động là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em ôn tập thật tốt.

Thành cổ Quảng Trị – Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị là công trình thành luỹ quân sự và là lỵ sở của triều đình nhà Nguyễn trên địa hạt Quảng Trị. Đây cũng là trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị thời thuộc Pháp và chính quyền miền Nam. Đặc biệt, trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1972 Thành cổ được cả thế giới biết đến qua cuộc chiến 81 ngày đêm giữ thành đầy khốc liệt.

Ngày nay, Thành Cổ trở thành điểm tham quan không thể bỏ qua mỗi khi du lịch Quảng Trị, đây được coi là nghĩa trang không nấm mồ, là ngôi mộ chung của những người lính Thành Cổ đã ngã xuống vì quê hương vì sự hòa bình thống nhất đất nước.

Theo tài liệu thì vào đầu thời Gia Long, thành Quảng Trị được xây dựng tại phường Tiền Kiên (Triệu Thành – Triệu Phong), đến năm 1809, vua Gia Long cho dời đến xã Thạch Hãn (tức vị trí ngày nay, thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị)1 . Ban đầu thành được đắp bằng đất, tới năm 1837 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành là hơn 2.000 m, cao hơn 4 m, dưới chân dày hơn 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài nhô hẳn ra ngoài.

Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính ở các phía Đông, Tây, Nam, Bắc.

Trong những năm 1809-1945 nhà Nguyễn lấy làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính. Từ năm 1929, Pháp xây dựng thêm nhà lao ở đây và biến nơi đây thành nơi giam cầm các những người có quan điểm chính trị đối lập.

Tại nơi đây đã có những trận đánh lớn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trong các năm 1968, 1972. Sau chiến dịch Thành Cổ “mùa hè đỏ lửa” 1972 toàn bộ Thành Cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn.

Trở về mùa hè năm 1972, tại Thành Cổ khoảng 328.000 tấn bom đạn của giặc Mỹ đã dội xuống mảnh đất này, ngày cũng như đêm, trời và đất Quảng Trị đỏ rực một màu của máu và lửa, không một nhành cây, một cành hoa hay một ngọn cỏ nào có thể sống được.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa Thành Cổ và thị xã Quảng Trị rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy.

Để bảo vệ Thành cổ, hàng vạn Anh hùng, Liệt sĩ đã anh dũng ngã xuống, đem theo tuổi thanh xuân, đem theo bao ước nguyện hóa thân vào lòng đất. Xương máu của các anh đã hóa thân trong từng tấc đất, ngủ sâu trong lòng đất mẹ Quảng Trị.

Đến với Thành cổ Quảng Trị hôm nay không chỉ nhìn lại dấu vết của một số đoạn thành, lao xá, các cổng tiền, hậu, tả, hữu mà là một bảo tàng sống về ý chí và sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Mỗi tấc đất nơi đây thấm đẩm máu xương của biết bao người con yêu quý trên mọi miền Tổ quốc vì một lý tưởng cao đẹp đó là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Chính vì vậy, Thành cổ trở thành mảnh đất thiêng, nơi hội tụ tình cảm của chiến sỹ, đồng bào cả nước.

Phía tây Thành Cổ, song song con đường từ cửa hữu của thành ra thẳng bờ sông Thạch Hãn là một công viên, quảng trường rộng lớn, nối liền quần thể di tích Thành Cổ – sông Thạch Hãn; gồm các hạng mục chính như tháp chuông, nhà thả hoa đăng hai bên bờ sông.

Tháp chuông được khánh thành vào ngày 29-4-2007; chuông được đánh vào các ngày lễ, ngày rằm… vọng tưởng linh hồn các liệt sĩ. Quả chuông đồng có chiều cao 3,9 mét, đường kính 2,15 mét, trọng lượng gần 9 tấn, được treo trên tháp có chiều cao gần 10 mét.

Thành cổ Quảng Trị nơi tôn vinh, tri ân cho những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì sự độc lập tự do của Tổ quốc về sự trường tồn của dân tộc. Nơi đây mãi mãi là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước tinh thần bất khuất kiên trung của cả một dân tộc anh hùng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Chia Sẻ Bài 💦Thuyết Minh Về Đền Ngọc Sơn ❤️️15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Ngắn Hay giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kiến thức hay.

Di tích Thành cổ Quảng Trị là một địa danh nổi tiếng, chứng tích lịch sử. Thế nhưng trong thời gian qua, du lịch Thành cổ Quảng Trị vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả so với tầm vóc và giá trị của nó.

Ngày 09 tháng 12 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Số 2383/QĐ-TTg xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 ( gồm 8 di tích thuộc Thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong).

Thành cổ Quảng Trị nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị cách quốc lộ 1A chừng 2km về phía Ðông. Thành cổ Quảng Trị là một công trình thành lũy quân sự và là lỵ sở cai trị của Nhà Nguyễn trên địa hạt Quảng Trị.

Phía Tây được ngăn cách bởi sông Thạch Hãn, phía Bắc bao bọc bởi sông Vĩnh Định. Hai phía Đông và Nam thuộc vùng dân cư và đồng bằng Triệu Hải. Từ Thành cổ có thể đi vào Nam, ra Bắc bằng đường biển, đường sông hoặc đường bộ, khá thuận lợi vì vậy nên trở thành một điểm đến thu hút du khách mọi miền Tổ quốc.

Nằm tại vị trí đắc địa, Thành cổ Quảng Trị là tập trung của nền kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và lịch sử. Được xây dựng với kiến trúc hình vuông theo kiểu Vauban. Mỗi công trình nội thành có chức năng khác nhau và bao quanh thành là hệ thống hào thành, dưới chân là đường phòng hộ.

Mỗi cửa thành đều có chiếc cầu xây vòm cuốn bắc qua hào thành nối bên trong với bên ngoài. Chiều dài tường thành là 1040m, chi vi toàn thành là 2160m, tổng diện tích là Thành Quảng Trị là 18,5ha, chiều cao thành 4,3 m.

Chính giữa 4 mặt thành có cổng: Tiền, Hậu, Tả, Hữu xây bằng gạch với lối kiến trúc vòm cuốn (rộng 3,4m), cửa bằng gỗ lim dày, bên trên có vọng lâu mái cong lợp ngói âm dương. Công trình trọng yếu là hành cung. Phía sau là các cơ quan công đường, nơi ở và làm việc của quan lại thuộc bộ máy đứng đầu gồm dinh Tuần phủ, dinh Án sát, dinh Bồ chính, dinh Lãnh binh, nhà Kiếm học, Trại quân, nhà bếp, nhà kho, ngục thất, khám đường…

Tại đây, hơn 160 năm dưới thời quân chủ là cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền địa phương đại diện cho triều đình Huế thực hiện các quyền quản lý và điều hành tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn địa hạt. Ðây cũng chính là nơi đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng được lưu ý.

Ðặc biệt, trong cuộc chiến đấu ác liệt chống phản kích để bảo vệ thị xã Quảng Trị suốt 81 ngày đêm của các chiến sĩ quân giải phóng với lực lượng lớn quân ngụy Sài Gòn từ ngày 28/6/1972 đến 16/9/1972, Thành Cổ Quảng Trị đã đi vào lịch sử một trang vàng chói lọi trước sự kính phục của nhân dân thế giới và niềm tự hào của dân tộc ta.

Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân 1972 của bộ đội chủ lực quân giải phóng chỉ trong vòng hơn một tháng (30/3/1972 – 1/5/1972) đã đập tan tuyến phòng thủ chiến lược mạnh nhất của Mỹ – ngụy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị – một đòn quyết định thắng lợi trên bàn Hội nghị Paris.

Ðể thực hiện kế hoạch chiếm lại tỉnh Quảng Trị mà trước hết là thị xã Quảng Trị, Mỹ ngụy tiến hành một cuộc hành quân lấy tên là “Lam Sơn 1972” với dự định trong vòng từ cuối tháng 5/1972 đến giữa tháng 7/1972 sẽ cơ bản chiếm xong. Chỉ trong vòng 40 ngày, Mỹ đã ném xuống thị xã Quảng Trị và vùng ven 8 vạn tấn bom, bằng số bom Mỹ dùng trong một tháng cao điểm trên toàn bộ chiến trường Châu Phi hồi chiến tranh thế giới thứ hai.

Sau 81 ngày đêm chiến đấu oanh liệt, đánh địch phản kích tại Thành Cổ/thị xã Quảng Trị, quân và dân Quảng Trị đã vượt qua mọi khó khăn, bền bỉ chiến đấu, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gan góc, táo bạo, dũng cảm, mưu trí, lần lượt bẻ gãy các cuộc tấn công của địch. Chiến công ở Thành cổ Quảng Trị đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam những trang hào hùng đầy máu và lửa. Nghĩ đến Thành cổ, chúng ta nghĩ đến mảnh đất rực lửa chiến công và sự hy sinh cao quý của quân và dân Quảng Trị anh hùng.

Sau khi được xếp hạng di tích quốc gia tháng 12/1986 Thành cổ đã trở thành một nơi hoang tàn, đổ nát. Do phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ trong chiến tranh nên từ sau ngày đất nước giải phóng, Thành cổ chỉ còn dấu tích của một vài đoạn tường thành loang lổ vết đạn; các cổng thành đã bị đánh sập; các công trình bên trong nội thành đã bị hoàn toàn xóa dấu vết.

Từ tháng 2/1992, Thành cổ đã được Bộ Văn hóa Thông tin đầu tư tôn tạo để xây dựng nơi đây thành một công viên tưởng niệm bao gồm các hạng mục: đài tưởng niệm trung tâm, trùng tu cổng tiền, kè lại hệ thống hào thành, trồng dừa, cây bóng mát để tạo cảnh quan.

Từ năm 1997, Thành cổ Quảng Trị được trùng tu, tái thiết lại các hạng mục chính gồm đài tưởng niệm trung tâm, nhà Bảo tàng Thành cổ và cuộc chiến đấu 81 ngày đêm, bia tưởng niệm sinh viên đã hi sinh tại Thành Cổ,…

Đọc Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Sông Bạch Đằng ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Giới Thiệu Về Thành Cổ Quảng Trị được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ sau đây.

Thành cổ Quảng Trị được xây dựng và đắp bằng đất từ đầu thời vua Gia Long (1802) tại làng Tiền Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong. Đến năm 1809, vua Gia Long cho dời thành đến xã Thạch Hãn (nay là phường 2, thị xã Quảng Trị). Năm 1837, vua Minh Mạng đã cho xây lại thành bằng gạch nung cỡ lớn, kết dính bởi vôi, mật mía và một số phụ gia khác.

Thành có dạng hình vuông với chu vi gần 2.000m, cao 9,4m, chân thành dày 12m. Bao quanh tường thành là hệ thống giao thông hào rộng. Bốn góc thành có 4 pháo đài cao, chính giữa 4 mặt thành là các cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu, mỗi cửa rộng 3,4m, được xây theo kiểu vòm cuốn, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói. Trong nội thành có các công trình kiến trúc như: hành cung, dinh Tuần Vũ, cột cờ, dinh Án Sát, dinh Lãnh Binh, Ty Phiên, Ty Niết…

Trong thời kỳ chiến tranh, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã biến thành cổ Quảng Trị thành khu quân sự và nhà lao giam giữ các chiến sĩ cộng sản yêu nước.

Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta, tiêu biểu là trận đánh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chống lại các đợt phản kích tái chiếm thành cổ Quảng Trị của ngụy quyền Sài Gòn trong suốt 81 ngày đêm mùa hè năm 1972 (từ 28/6 đến 16/9/1972). Trải qua sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, thành cổ chỉ còn lại dấu vết của một số đoạn thành, lao xá, cổng Tiền và cổng Hậu.

Từ năm 1993-1995, hệ thống hào, cầu, cống, một số đoạn thành và cổng Tiền đã được tu sửa lại. Đặc biệt, một đài tưởng niệm lớn đã được xây dựng ở chính giữa thành cổ nhằm ghi nhớ công lao của những chiến sĩ giải phóng đã hi sinh vì sự bình yên của mảnh đất này. Góc phía tây nam thành là bảo tàng lưu giữ rất nhiều chứng tích chiến tranh.

Ngày 12/12/1986, thành cổ Quảng Trị đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Hiện nay, thành cổ Quảng Trị đã trở thành điểm đến thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan.

Gợi Ý Bài ⏩ Thuyết Minh Về Đền Hùng ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thành cổ Quảng Trị nằm tại trung tâm thị xã Quảng Trị, ban đầu chỉ đắp bằng đất. Tới năm 1827, Vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch, cấu trúc kiểu 4 mặt thân thành, 4 góc có 4 pháo đài, có 4 cửa ra vào, bao quanh là hệ thống hào thành, chu vi 2.160m, gần bằng 1/4 thành Huế, là nơi đóng các cơ quan cai trị, hành chính…

Trong cuộc chiến này, chính quyền Mỹ, ngụy đã huy động mỗi ngày 140 máy bay B52, hơn 200 máy bay quân sự chiến đấu, 12-16 tàu khu trục, tuần dương hạm. Số máy bay dồn vào Quảng Trị chiếm 1/3 tổng số máy bay loại này mà Mỹ có ở Đông-Nam Á và bằng 1/4 lực lượng ném bom chiến lược của quân đội Mỹ.

Lực lượng địch có 2 Sư đoàn dự bị lính dù và thuỷ quân lục chiến cùng Liên đoàn Biệt động số 1… Có ngày, số bom Mỹ ném xuống thị xã Quảng Trị vượt xa số bom ném ở toàn chiến trường miền Nam những năm 1968-1969 (ngày 25-7-1972, Mỹ đã ném xuống Thành cổ 5.000 quả). Kết thúc cuộc đọ sức ở Thành cổ quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn bị tổn thất 24.000 lính, 180 máy bay bị bắn rơi, 240 xe quân sự, hơn 200 đại bác bị tiêu diệt…

Giới Thiệu Bài 💦 Thuyết Minh Về Vịnh Hạ Long ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Ngắn gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh miêu tả chân thực và sáng tạo.

Thành cổ Quảng Trị nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị các đường quốc lộ 1A khoảng 2km. Thành cổ Quảng Trị được xếp hạng là di tích Quốc gia đặc biệt. Quảng Trị được cả nước và thế giới biết đến nhiều nhất qua cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Những địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc như “Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải” gắn với nổi đau chia cắt đất nước. Thành Cổ Quảng Trị gắn với cuộc chiến đấu chống phản công, tái chiếm Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972. Cầu treo Bến Tắt, Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn… gắn với Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh huyền thoại; địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh gắn với cuộc chiến bảo vệ quê hương…

Thành cổ Quảng Trị là một công trình thành lũy quân sự và là lỵ sở cai trị của Nhà Nguyễn trên địa hạt Quảng Trị. Ðây cũng là trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị thời thuộc Pháp và thời chính quyền miền Nam. Trong cuộc tổng tấn công giải phóng Quảng Trị năm 1972, Thành cổ là nơi được cả thế giới biết đến bởi những chiến công hiển hách, những tấm gương hy sinh anh dũng trong cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị 81 ngày đêm lịch sử.

Thành cổ Quảng Trị tọa lạc trên địa phận thuộc các làng Thạch Hãn và Cổ Vưu. Phía Tây đươc ngăn cách bởi sông Thạch Hãn, phía Bắc được bao bọc bởi sông Vĩnh Ðịnh.

Hai phía Ðông và Nam là vùng dân cư và đồng bằng Triệu Hải. Từ Thành cổ có thể đi vào Nam, ra Bắc bằng đường sông, đường biển, đường bộ đều thuận tiện. Do có vị trí thuận lợi nên trải qua nhiều thời kỳ, thành Quảng Trị luôn được coi là nơi đắc địa nhất của Quảng Trị hội đủ các điều kiện địa lý, lịch sử để trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của toàn vùng.

Bao xung quanh là hệ thống hào thành. Dưới thân thành có đường phòng hộ. Trước mỗi cửa thành đều có một chiếc cầu xây vòm cuốn bắc qua hào thành nối bên trong với bên ngoài. Chiều dài của tường thành tính từ mép ngoài và ở 4 góc pháo đài là 1.040m.

Từ đó, chu vi toàn thành sẽ là 2.160m (1040m + 1120m) Tổng diện tích toàn bộ thành Quảng Trị là 18,56ha. Thành có chiều cao 4,30m. Chính giữa 4 mặt thành có cổng: Tiền, Hậu, Tả, Hữu xây bằng gạch với lối kiến trúc vòm cuốn (rộng 3,4m), cửa bằng gỗ lim dày, bên trên có vọng lâu mái cong lợp ngói âm dương.

Nội thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho việc ở và làm việc của các cơ quan công đường thuộc bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Trị.

Công trình trọng yếu trước hết phải kể đến là hành cung, Phía sau hành cung là những cơ quan công đường, nơi ở và làm việc của các quan lại thuộc bộ máy hành chính đứng đầu tỉnh như: dinh Tuần phủ, dinh Án sát, dinh Bố chính, dinh Lãnh binh, nhà Kiểm học, trại quân, nhà bếp, nhà kho, khám đường, ngục thất. Các công trình này đều được xây dựng theo mô thức kiến trúc kiểu nhà rường thời Nguyễn với bộ khung gỗ chịu lực, mái lợp ngói liệt, xung quanh xây tường gạch hoặc che ván gỗ.

Có thể nói vị thế của thành Quảng Trị dưới thời Nhà Nguyễn và những giai đoạn tiếp sau giữ vai trò của một Trung tâm hành chính hơn là một công trình phòng thủ quân sự. Tại đây, hơn 160 năm dưới thời quân chủ là cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền địa phương đại diện cho triều đình Huế thực hiện các quyền quản lý và điều hành tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn địa hạt. Ðây cũng chính là nơi đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng được lưu ý.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Đền Cửa Ông ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Soi mình bên dòng Thạch Hãn hiền hòa, Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc. Đây được xem là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng với khát vọng tự do, độc lập. Nơi đây, dưới lớp cỏ non Thành cổ, lòng đất đã thấm đẫm máu của hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào Quảng Trị. Và ngày nay, giữa không gian thanh bình, Thành cổ Quảng Trị đã trở thành điểm đến, không chỉ là nơi ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc mà còn là điểm du lịch hấp dẫn.

Với vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự, Thành cổ Quảng Trị vừa là công trình thành lũy quân sự, vừa là trụ sở hành chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị từ năm 1809 đến năm 1945.

Thành lúc đầu được đắp bằng đất. Đến năm 1837, vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Khuôn viên Thành cổ có dạng hình vuông với chu vi tường dài 2160m, thành cao 3m, dưới chân dày 13,5m, đỉnh dày 0,72m. Bên ngoài có hệ thống hào rộng bao quanh. Bốn góc thành là 4 pháo đài cao, nhô hẳn ra ngoài.

Thành có 4 cửa Tiền, Hậu, Tả, Hữu nằm chính giữa 4 mặt thành, xây vòm cuốn, vòm làm bằng gỗ lim. Mỗi cửa rộng 3,4m, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói âm dương. Nội thành có các công trình kiến trúc như Hành cung, Cột cờ, Dinh Tuần Vũ, Dinh án sát, Dinh Lãnh binh, Ty Phiên, Ty Niết, kho thóc, nhà kiểm học, trại lính. Trong đó Hành cung được xem là công trình nổi bật nhất: Bao bọc xung quanh là hệ thống tường dày, chu vi 400m, có hai cửa.

Hành cung là một ngôi nhà rường, kết cấu 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói liệt, trên có trang trí các họa tiết rồng, mây, hoa, lá… Đây là nơi thường để Vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ thì Thành cổ lại có thêm nhà lao, tòa mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoan…

Từ năm 1929 đến năm 1972, nhà lao Quảng Trị là nơi giam giữ các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước. Chính nơi đây đã trở thành trường học chính trị của những người yêu nước để rèn luyện ý chí son sắt, đấu tranh trực diện với kẻ thù.

Hơn 160 năm tồn tại dưới thời quân chủ và thực dân, Thành cổ là trung tâm chính trị của Quảng Trị. Dưới thời tạm chiếm, Mỹ – ngụy biến Thành cổ Quảng Trị thành khu quân sự, làm kho tàng quân đội và trung tâm chỉ huy chiến dịch toàn tỉnh, đồng thời mở thêm nhà giam để đàn áp phong trào cách mạng.

Vì vậy, nơi đây đã chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh chống Mỹ và các trận chiến đấu oai hùng của quân và dân ta. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu ngoan cường đánh trả các đợt phản kích tái chiếm Thành cổ Quảng Trị của ngụy quyền Sài Gòn trong suốt 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972 (từ 28-6 đến 16-9-1972).

Thành cổ Quảng Trị là “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế. Hiện nay, Thành cổ được Nhà nước đầu tư để tôn tạo và bao gồm các khu vực: Khu ghi dấu ấn về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở góc Đông – Nam; tái tạo lại chiến trường năm 1972 với hầm hào, công sự, hố bom…

Khu phục dựng Thành cổ nguyên sinh ở phía Đông Bắc, thu nhỏ kiến trúc các công trình cổ, trồng một rừng mai vàng để gợi biểu tượng non Mai sông Thạch Hãn; Khu công viên văn hóa ngoài tượng đài và nhà trưng bày bổ sung hai tầng, tại phía Tây và Tây Nam xây dựng một công viên có nhiều lối đi, ghế đá, cây cảnh, hồ nước, sân chơi.

Xem Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Thành Cổ Loa ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Ấn Tượng giúp các em có thêm nhiều gợi ý hay để làm bài văn của mình thật tốt.

Không đơn thuần là một công trình kiến trúc nổi bật, thành cổ Quảng Trị là chứng nhân lịch sử, là chứng tích cho cả một cuộc kháng chiến khốc liệt nhưng đầy vẻ vang của dân tộc. Nếu có cơ hội tới thăm mảnh đất Quảng Trị, đừng quên tới thăm thành cổ để cùng sống lại giai đoạn chiến đấu vẻ vang mà đầy tự hào ấy.

Có ai đó nói rằng đến Quảng Trị mà chưa viếng Thành cổ thì coi như vẫn chưa đặt chân tới nơi này. Di tích thành cổ Quảng Trị (hay còn gọi là cổ thành Quảng Trị) nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 2km về phía Bắc, cách sông Thạch Hãn 500m về phía Đông.

Thành có kiến trúc tiêu biểu của tòa thành quân sự với 4 góc nhô hẳn ra ngoài, dùng làm pháo đài canh giữ. Thành có chu vi 2.080m, tường cao 4,29m, chân tường dày 12,75m. Thành có các cửa tiền, hậu, tả, hữu xây hình vòm cuốn, trên có vọng lâu. Bên ngoài thành là hào bao quanh, bên trong có các công trình kiến trúc như: Hành cung, cột cờ, dinh tuần vũ, dinh án sát, dinh lãnh binh, ty phiên, ty niết, kho thóc, nhà lính…

Theo sử sách ghi lại, thành Quảng Trị được xây dựng từ thời Gia Long, ban đầu chỉ là thành đất. Tới thời vua Minh Mạng mới được xây dựng bằng gạch (năm 1837), trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của cả tỉnh Quảng Trị. Trong khoảng thời gian từ năm 1809 đến năm 1945, nơi đây được sử dụng làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính cho nhà Nguyễn. Đây cũng là trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị thời thuộc Pháp và chính quyền miền Nam.

Cuộc chiến đấu ác liệt năm 1972 như một dấu mốc mà thành cổ đã cùng thị xã Quảng Trị đi qua. Sau 81 ngày đêm khói lửa (từ 28-6 đến 16-9-1972), với khối lượng bom đạn phải gánh lên tới 328.000 tấn, tòa thành gần như bị san phẳng, chỉ còn cửa hướng Đông vẫn khá nguyên vẹn, toàn bộ đoạn tường thành cùng hệ thống hào bên ngoài thì chi chít vết bom đạn.

Người ta cũng nói rằng, mặc dù không thống kê được hết số lượng những liệt sĩ đã ngã xuống ở đây nhưng chắc chắn một điều rằng, mỗi tấc đất thành cổ đều thấm máu cha anh.

Đến nay, những di vật, thư tín của các anh hùng đã chiến đấu và anh dũng hy sinh để bảo vệ thị xã Quảng Trị vẫn còn được lưu giữ lại ở bảo tàng thành cổ. Và để tưởng niệm về “mùa hè đỏ lửa” đó, nhắc tới thành cổ Quảng Trị người ta nhớ ngay tới miền đất tâm linh, nơi mà những người còn sống sau cuộc chiến hay cả lớp trẻ bây giờ cũng có thể cùng ngồi ôn lại một thời hào hùng, sống trong không khí anh dũng mà cha ông để lại.

Bước vào khuôn viên thành cổ là cả một không gian xanh, mỗi thảm cỏ trưng bày nhiều tượng đài ca ngợi sự hy sinh oanh liệt của bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống.

Trên những tảng đá được mài khắc những câu thơ cảm xúc: “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/ Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ/ Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió/ Ru mãi bài ca Bất tử đến vô cùng” của cựu chiến binh Thành cổ Phạm Đình Lân, hay “Hễ có Việt Nam có Cổ Thành/ Kết vòng hoa lửa nối Khe Sanh/ Huân chương khó đủ từng viên gạch/ Tấc đất từng giây mỗi lá cành” (Trần Bạch Đằng)…

Trung tâm của Thành cổ Quảng Trị là Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ được xây dựng mô phỏng là ngôi mộ tập thể. Để bước lên Đài du khách cần vượt qua 81 bậc thang – tượng trưng cho 81 ngày đêm chiến đấu, tới cây hương cũng cao 8,1m; xung quanh có 81 bức phù điêu như 81 tờ lịch ghi lại từng ngày của cuộc chiến đấu anh dũng, bắt đầu từ ngày 28-6, kết thúc ngày 16-9-1972.

Một trong số các công trình không nên bỏ qua trong chuyến thăm Thành cổ Quảng Trị phải kể đến Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Đây là nơi trưng bày các hiện vật của cuộc chiến, các lá thư “thiêng” chiến sĩ gửi tới quê nhà, giữa gian trưng bày có bức ảnh đen trắng chụp Thành cổ trong 81 ngày đêm tan hoang bởi đạn bom.Trước khi rời thành cổ Quảng Trị, đừng quên ngước mặt về phía Tây để chiêm ngưỡng tháp chuông yên tĩnh trong buổi chiều xứ Quảng. Du khách có thể được lắng nghe tiếng chuông này khi tới vào các ngày lễ, ngày rằm vang lên để vọng tưởng linh hồn các liệt sĩ.

Và nếu tới thăm thành cổ, cũng đừng quên ghé lại các di tích lịch sử Quảng Trị như: Nhà lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, Sân bay căn cứ Ái Tử thời Mỹ – ngụy, Nhà thờ La Vang, bến sông Thạch Hãn, chốt Long Quang… để có chuyến đi Quảng Trị vẹn tròn ý nghĩa.

SCR.VN Gợi Ý Bài 🌹 Thuyết Minh Về Côn Sơn Kiếp Bạc ❤️️ 14 Bài Văn Hay Nhất

Văn Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Chi Tiết là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thể ôn tập hiệu quả nhất và được điểm như ý.

Thành cổ Quảng Trị nằm giữa trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía Đông, cách bờ sông Thạch Hãn chừng 200m về phía Nam.

Đứng soi mình xuống dòng sông Thạch Hãn hiền hoà, Thành cổ Quảng Trị uy nghi, trầm mặc, sáng ngời biểu tượng chủ nghĩa anh hùng cách mạng với khát vọng tự do, độc lập. Nơi đây, dưới lớp cỏ non Thành cổ, lòng đất đã thấm đẫm máu của hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào Quảng Trị.

Để trấn giữ phía bắc kinh đô Phú Xuân, năm 1809 Gia Long thứ 8 quyết định dời Dinh từ phường Tiền Kiên, huyện Đăng Xương (Triệu Giang, Triệu Phong ngày nay) đến xây dựng trên một khu đất cao tại xã Thạch Hãn- Hải Lăng (ngày nay thuộc thị xã Quảng Trị). Từ thành có thể đi vào Nam hay ra Bắc bằng đường sông, đường bộ, đường biển đều thuận tiện. Với vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự, Thành Cổ vừa là công trình thành luỹ quân sự, vừa là trụ sở hành chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị từ năm 1809 đến năm 1945.

Thành lúc đầu, được đắp bằng đất, đến năm 1837, vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Khuôn viên Thành cổ Quảng trị có dạng hình vuông với chu vi tường thành dài 2160m, thành cao 3m, dưới chân dày 13,5m, đỉnh dày 0,72m. Bên ngoài thành có hệ thống hào rộng bao quanh. Bốn gốc thành là 4 pháo đài cao nhô hẳn ra ngoài.

Thành có 4 cửa nằm chính giữa 4 mặt thành: Tiền, Hậu, Tả, Hữu xây vòm cuốn, vòm làm bằng gổ lim. Mỗi cửa có chiều rộng 3,4m, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói âm dương. Nội thành có các công trình kiến trúc như Hành cung, cột cờ, dinh Tuần Vũ, dinh án Sát, dinh Lãnh Binh, Ty Phiên, Ty Niết, kho thóc, nhà kiểm học, trại lính.

Trong đó, Hành cung được xem là công trình nổi bật nhất: bao bọc xung quanh là hệ thống tường dày, chu vi 400m, có hai cửa. Hành cung là một ngôi nhà rường, kết cấu 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói liệt, trên có trang trí các họa tiết: rồng, mây, hoa, lá…

Nơi đây thường để Vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ thì Thành cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoạn… Từ năm 1929 đến năm 1972, nhà lao Quảng Trị là nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước và chính nơi đây đã trở thành trường học chính trị, để rèn luyện ý chí son sắt, đấu tranh trực diện với kẻ thù của những người yêu nước.

Tham Khảo Bài 💦 Thuyết Minh Về Sông Hương ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thành Cổ Quảng Trị – một tòa thành nằm bên dòng sông Thạch Hãn, được biết đến qua cuộc chiến 81 ngày đêm giữ thành đầy khốc liệt trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Thành Cổ là một điểm tham quan gây nhiều xúc động, đây được coi là nghĩa trang không nấm mồ, là ngôi mộ chung của những người lính Thành Cổ đã ngã xuống vì quê hương vì sự hòa bình thống nhất đất nước.

Thành Cổ Quảng Trị thuộc thị xã Quảng Trị (cổng chính nằm trên đường Lý Thái Tổ), cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía Đông. Thành Cổ Quảng Trị được bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích Quốc gia theo quyết định số 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986, là một trong những di tích Quốc gia đặc biệt quan trọng.

Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính Đông Tây Nam Bắc.

Hiện nay, dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là vùng đất thiêng liêng của người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung.

Thành Cổ Quảng Trị vào thời nhà Nguyễn được đắp bằng đất. Theo Báo Quân khu 4, thành Cổ Quảng Trị được xây dựng từ thời vua Gia Long và đến thời vua Minh Mạng mới hoàn thiện, kéo dài gần 28 năm (1809-1837), Thành lúc đầu được đắp bằng đất, đến năm 1837 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch.

Khuôn viên Thành có dạng hình vuông với chu vi tường thành dài 2160m, thành cao 3m, dưới chân dày 13,5m, đỉnh dày 0,72m. Bên ngoài thành có hệ thống hào rộng bao quanh. Bốn góc thành là 4 pháo đài cao nhô hẳn ra ngoài. Thành có 4 cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu Xây vòm cuốn, rộng 3,4m, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói, cả 4 cửa đều nằm chính giữa 4 mặt Thành.

Theo Cổng thông tin điện tử Tổng cục Du lịch, dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế.

Giới Thiệu Bài 🌹 Thuyết Minh Về Tràng An ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Trải qua những năm tháng hào hùng của dân tộc, Thành cổ Quảng Trị là minh chứng rõ nét nhất cho sự đấu tranh kiên cường và lịch sử vẻ vang của quân dân Việt Nam, là không gian thiêng liêng tái hiện miền ký ức hào hùng và bi tráng của một thời hoa lửa.

Thành cổ Quảng Trị còn được gọi dưới tên Cổ thành Quảng Trị, nằm tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị. Theo tài liệu lịch sử, thành cổ được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ IXX dưới đời vua Gia Long, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam.

Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính Đông Tây Nam Bắc. Hiện nay, dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là vùng đất thiêng liêng của người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung.

Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị phá hủy; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn.

Nhắc đến di tích đặc biệt này, không thể không nhắc tới đến cuộc tấn công chiến lược của Mỹ năm 1972 và trận chiến 81 ngày đêm lịch sử cùng sự chiến đấu anh dũng của chiến sĩ. Mỗi mét vuông đất tại Thành Cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ 28/6 – 16/9/1972, Thành Cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn.

Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Thành Cổ Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu phi thường của quân và dân ta. Trong trận đánh ấy, 14.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh với vô vàn câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của rất nhiều chiến sĩ tuổi đôi mươi.

Khép lại trang lịch sử hào hùng của dân tộc, Thành cổ ngày nay vẫn sừng sững, uy nghi đúng như tinh thần đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ năm xưa ấy. Đến nơi đây, cả không gian hiện lên với vẻ trầm mặc, vừa bi tráng vừa bao phủ nét u buồn. Mặc dù bị bom đạn phá hủy, song Thành cổ Quảng Trị vẫn là một trong những số rất ít thành cổ Việt Nam còn giữ được cấu trúc thành lũy rõ ràng với hệ thống tường thành, cổng thành, hào nước.

Trong Thành cổ bây giờ được phủ một màu xanh mướt của cỏ cùng hàng ngàn cây dừa cao vút. Khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn. Nơi đây thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát.

Đặc biệt, du khách khi tới thành cổ không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Đài tưởng niệm trung tâm được xây theo thuyết âm dương siêu thoát. Dưới chân Đài tưởng niệm được xây theo hình bát giác tượng trưng cho bát quái, có bốn lối đi lên Đài tưởng niệm tượng trưng cho tứ tượng.

Hầm của Đài tưởng niệm được coi là nơi linh thiêng nhất của Thành cổ, vì nơi đây được ví như bên trong lòng một ngôi mộ tập thể và trung tâm của hai trục đường chính giao nhau. Tại trung tâm trưng bày hành trang của một người lính với đôi dép cao su, ba lô, khẩu súng AK, bi đông nước, mũ tai bèo, xẻng, phao. Hành trang của người lính đơn sơ giản dị, chỉ từng ấy thôi mà các bác, các chú, các anh đã làm nên lịch sử.

Đến thăm Thành cổ, du khách sẽ được nghe kể lại những câu chuyện huyền thoại về Di tích Thành cổ. Nhất là trong những dịp lễ hay ngày kỷ niệm, trong lòng du khách sẽ lưu lại dấu ấn rất sâu đậm. Du khách sẽ cảm thấy như đang có một sợi dây vô hình kết nối hiện tại với quá khứ, hiểu thêm những nét đẹp trong tình cảm và đời sống tâm linh của người dân sống quanh Thành cổ.

Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng những ký ức về cuộc chiến tranh ác liệt năm xưa vẫn như vừa hôm qua. Không chỉ với những người lớn tuổi, lớp trẻ hôm nay cũng sẽ mãi mãi không quên bản hùng ca bi tráng của bao lớp chiến sĩ đã viết nên nơi Thành Cổ.

Đọc Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Thánh Địa Mỹ Sơn ❤️️ 11 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Lớp 10 giúp các em có thêm cho mình nhiều kiến thức hay về địa danh lịch sử nổi tiếng này.

Thành Quảng Trị được khởi dựng vào những năm đầu của thế kỷ XIX. Quá trình xây dựng thành Quảng Trị từ khi khởi công dưới thời Gia Long đến khi hoàn thiện dưới thời Minh Mạng kéo dài gần 28 năm (1809-1837).

Kích thước thành Quảng Trị được chép trong các tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn có sự chênh lệch nhau khá lớn. Các nhà nghiên cứu thông qua các bước khảo sát, đo đạc cho biết, tổng diện tích toàn bộ thành Quảng Trị là 18,56 ha. Chiều cao của thành cổ Quảng Trị là 4,3m. Vật liệu xây dựng thành là đất và gạch. Án ngữ bốn góc thành là 4 pháo đài nhô hẳn ra phía ngoài, sắp xếp cân đối, ở mỗi góc đối xưng nhau qua các cửa chính diện của chân thành.

Thành Quảng Trị có 4 cửa nằm ở vị trí chính điện của 4 mặt thành. Kiến trúc của mỗi cổng thành xây bằng gạch, gồm hai tầng: tầng dưới là phần nền với bộ phận chính là cổng thành xây vòm cuốn theo kỹ thuật “bốn viên kê dọc, nêm giữa, đội khuôn”; tầng trên là một vọng lâu có kiến trúc độc đáo theo lối vọng lâu xây bằng gạch, mái cong, lợp ngói âm dương.

Nội thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho việc ở và làm việc của các cơ quan công đường thuộc bộ máy hành chính của tỉnh Quảng Trị. Trong đó, Hành cung là công trình trọng yếu, là nơi để Vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm.

Ngoài những công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn còn lại như Hành cung, Dinh Tuần phủ, dinh Án sát, ngục thất, khám đường…, Thành cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoạn… khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ.

Thành Quảng Trị trước hết là một bộ phận quan trọng trong nền kiến trúc cổ, là sự thể hiện một trình độ kỹ thuật nhất định về lĩnh vực quân sự của vương triều Nguyễn. Nơi đây cũng mang ý nghĩa là một trung tâm hành chính, chính trị và văn hóa của một địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Chia Sẻ Bài 💦 Thuyết Minh Về Chùa Thiên Mụ ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Thành Cổ Quảng Trị Bằng Tiếng Anh giúp các em có thêm những vốn từ vựng về lịch sử hay nhất.

Quang Tri citadel on the bank of river Thach Han was the site of fierce battles during the US war in Vietnam. The site became the tomb of tens of thousands of Vietnamese soldiers who sacrificed their lives for national liberation. The site now attracts many foreign and Vietnamese tourists.

Quang Tri citadel was built in 1809 by order of King Gia Long. Initially, it was made of clay. In 1837, during the reign of King Minh Mang, it was rebuilt in brick. Built in a square shape with a circumference of 2 km, the citadel covers 20 ha and is surrounded by a moat. In the feudal era, Quang Tri citadel was a military fortress and also an administrative, political and economic center.

Tạm dịch

Thành Quảng Trị bên bờ sông Thạch Hãn là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Khu di tích này đã trở thành lăng mộ của hàng vạn chiến sĩ Việt Nam hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hiện địa điểm này thu hút rất nhiều khách du lịch nước ngoài và Việt Nam.

Thành Quảng Trị được xây dựng vào năm 1809 theo lệnh của vua Gia Long. Ban đầu, nó được làm bằng đất sét. Năm 1837, thời vua Minh Mạng, nó được xây dựng lại bằng gạch. Được xây dựng theo hình vuông với chu vi 2 km, thành có diện tích 20 ha và có hào bao quanh. Trong thời kỳ phong kiến, thành Quảng Trị là pháo đài quân sự, đồng thời là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

11 Cách Thuyết Trình Thu Hút Khán Giả Từ Những Giây Đầu Tiên

1. Cách thuyết trình thu hút qua phần mở bài

Mở đầu một bài thuyết trình bằng một tình huống gây sốc là một trong những phương pháp hay, giúp bạn có thể sử dụng trong bài thuyết trình của mình. Những tình huống gây sốc sẽ làm cho khách hàng bất ngờ, bị lôi cuốn vào những lời bạn nói. Thế nhưng, bạn cần lựa chọn tình huống phù hợp, không nên gây ra những tình huống quá sốc và phản cảm cho người nghe.

Những tình huống gây sốc sẽ làm cho khách hàng bất ngờ, bị lôi cuốn vào những lời bạn nói

2. Tương tác với mọi người

Tương tác với mọi người là cách thuyết trình thu hút được rất nhiều người áp dụng thành công. Bài thuyết trình chính là hành trình đưa thông tin đến khán giả nhưng nó không thể thu hút sự chú ý của khán giả nếu bạn không tương tác với họ. Cách giúp bạn tạo được “sợi dây” kết nối đó là khiến khán giả thấy được niềm đam mê và nhiệt huyết của mình.

Hơn nữa, bạn đừng quên mỉm cười, dùng ánh mắt để kết nối với khán giả. Khi mỉm cười và nhìn vào mắt ai đó, bạn sẽ thu hút được sự tập trung của họ vào điều mà bạn đang nói. Việc này cũng sẽ giúp bạn giải tỏa đi một chút lo lắng. Bởi nó sẽ tạo cho bạn cảm giác như thuyết trình cho một người chứ không phải là nhiều người.

3. Cách thuyết trình thu hút bằng tạo ấn tượng qua giọng nói

Nếu bạn sở hữu một giọng nói truyền cảm, cùng một tác phong chuyên nghiệp thì đây chính là một lợi thế không thể tuyệt vời hơn giúp bạn thuyết trình thu hút. Và nếu đã từng theo dõi Obama, Steven Job thuyết trình thì bạn có thể nhìn ra sự khác biệt trong cách mở đầu bài nói của họ. Giọng nói có thể là món quà vô giá mà ông trời ban tặng, nhưng bạn vẫn có thể rèn luyện hàng ngày cùng với tác phong chuyên nghiệp để thuyết trình thành công giống như họ.

4. Chú ý đến ngoại hình

Một trong những cách thuyết trình thu hút không thể không nhắc đến đó là chăm chút đến ngoại hình. Nếu bạn khoác lên mình một bộ trang phục luộm thuộm, xuề xòa thì bạn sẽ không thể tạo được ấn tượng tốt và khiến người nghe mong chờ bài thuyết trình.

Cách thuyết trình thu hút là chăm chút đến ngoại hình

Chính vì vậy, hãy đầu tư cho mình một vẻ ngoài thật chỉn chu, lịch sự, phù hợp với hoàn cảnh. Điều này không chỉ giúp bản thân bạn tự tin trước đám đông, mà còn tạo được thiện cảm với người nhìn.

5. Sử dụng chiêu thức kích thích khán giả

Ngoài nội dung hấp dẫn, bạn sẽ thu hút được khá giả hơn khi có nhiều dẫn chứng, các câu chuyện hài hước. Để thực hiện được điều này, bạn có thể mời một người đứng lên trả lời các câu hỏi, mục đích là chứng minh những điều mà bạn đang nói. Ngoài ra, bạn cũng có thể đề nghị mọi người vỗ tay để không khí thêm phần sôi động.

6. Sử dụng ngôn ngữ hình thể

Ngôn ngữ cơ thể chính là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bài thuyết trình. Một hành động không phù hợp cũng khiến bạn mất điểm trước người nghe. Vì vậy, khi cần nhấn mạnh vấn đề, bạn có thể mở rộng vòng tay, còn khi thể hiện sự quyết tâm thì bạn có thể nắm chặt tay thành hình nắm đấm…

Một số ngôn ngữ hình thể không phù hợp không nên sử dụng trong buổi thuyết trình như: đưa tay lên mũi, môi, tai hoặc khoang tay trước ngực. Sự đồng điệu và lời nói và cử chỉ chính là chiếc “chìa khóa vàng” giúp cho buổi thuyết trình của bạn tạo được dấu ấn riêng trong lòng khán giả. Đây chính là cách thuyết trình thu hút mà bạn không nên bỏ qua. Tuy nhiên, bạn cần có một thời gian dài để tập luyện thì mới có thể trở thành bậc thầy thuyết trình.

7. Xây dựng một tình huống hài hước

Dù là người lớn hay trẻ nhỏ họ đều thích nghe kể chuyện hoặc được xem một tình huống hài hước. Do đó, bạn hãy để người nghe thỏa mãn mong muốn của họ. Nếu bạn đang thuyết trình về vấn đề kinh doanh thì bạn hãy kể một câu chuyện về một khách hàng nào đó đã sử dụng sản phẩm của bạn và họ có những đánh giá tốt.

Bạn có thể xây dựng một tình huống hài hước để thu hút mọi người

Người thuyết trình chuyên nghiệp còn sử dụng biện pháp diễn hài, kể những câu chuyện cười, thậm chí là tự mình sáng tạo ra những tình huống hài hước để thu hút người nghe. Tuy nhiên, nếu bạn không có khả năng gây cười cho người khác thì bạn không nên áp dụng chiêu thức này.

8. Tránh dùng từ đệm quá nhiều

Trong suốt quá trình thuyết trình rất khó để tránh khỏi các tình huống khiến bạn mất tập trung hoặc lỡ quên mất điều mình đang định nói. Để có thể khắc phục điều những lỗi đó trong thời gian ngắn nhất là không làm ngắt quãng toàn bộ bài thuyết trình, bạn có thể sử dụng một số từ đệm thay thế như “ừm, là,mà…”. Thế nhưng bạn cũng không lam dụng nó quá nhiều vì nó sẽ là con dao hai lưỡi khiến bạn trở nên thiếu chuyên nghiệp và nội dung bị mất đi tính nhất quán, mạch lạc. Thay vì sử dụng từ đệm với tần suất quá nhiều, bạn có thể dừng lại một vài giây và hít thở thật sâu để lấy lại sự tự tin và bình tĩnh trước khi tiếp tục bài thuyết trình của mình. Việc làm chủ bài thuyết trình của mính sẽ khiến bạn trở nên tự tin, chuyên nghiệp và ấn tượng hơn rất nhiều.

9. Hãy nhìn thẳng vào mắt khán giả

Trong giao tiếp, nếu không có sự tương tác bằng mắt, bạn sẽ bị đánh giá là thiếu sự trung thực và thiếu sự tự tin. Điều này khiến cho khán giả cảm thấy nhàm chán và không muốn tiếp thục theo dõi bài thuyết trình của bạn. Để khắc phục được điều này, hãy chọn mũi làm điểm đáp để tương tác với khán giả thông qua ánh mắt. Sự tương tác hai chiều sẽ khiến cho khán giả cảm thấy họ được tôn trọng, còn bạn sẽ càm thấy tự tin và phấn chấn hơn rất nhiều.

10. Nắm bắt tâm lý người nghe

Nắm bắt tâm lý của người nghe là một trong những cách thuyết trình thu hút mà bạn không nên bỏ qua. Để bài thuyết trình thu hút được khán giả, bạn cần “nằm lòng” đối tượng mà bạn đang hướng đến. Bạn hãy tìm hiểu xem họ đang muốn được bạn cung cấp những thông tin gì.

Việc nắm bắt được tâm lý của người nghe sẽ giúp bạn xây dựng được bài thuyết trình mang lại những thông tin hữu ích. Để thu hút người nghe, tùy vào đối tượng khán giả mà bạn hãy thêm những yếu tố phù hợp. Ví dụ, bạn trình bày trước lớp thì hãy tìm kiếm các câu chuyện, vấn đề mà thu hút được các bạn. Còn nếu đối tượng của bạn là đối tác, khách hàng thì bài thuyết trình của bạn cần nhấn mạnh vào những lợi ích mà họ quan tâm.

Giao tiếp bằng mắt với khán giả

11. Trình bày nội dung một cách khoa học

Nội dung là phần chính của một buổi thuyết trình hay một cuộc nói chuyện, nó sẽ giúp bạn làm chủ sân khấu. Bạn sẽ không bao giờ tự tin nếu không biết mình phải làm gì, nói những gì trong buổi thuyết trình. Bạn nên trình bày sao cho dễ hiểu nhất và đặt ra những vấn đề xung quanh câu chuyện mà bạn kể. Nên đặt ra câu hỏi để khiến buổi thuyết trình trở nên tự nhiên hơn và có thể lôi kéo được người nghe tham gia vào cuộc thuyết trình của bạn.

Sự chú ý của khán giả đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết trình. Cách thuyết trình thu hút chính là phương pháp tuyệt vời để bạn giữ họ đi theo dòng suy nghĩ của mình. Để trở thành bậc thầy thuyết trình, bạn cần dành nhiều thời gian luyện tập và tham khảo các khoá học thuyết trình online để tự tay thiết kế một bài thuyết trình cuốn hút.

Đăng bởi: Kênh Phụ Tv

Từ khoá: 11 Cách thuyết trình thu hút khán giả từ những giây đầu tiên

Bài Viết Số 5 Lớp 8 Đề 4: Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Mà Em Yêu Thích Dàn Ý & 47 Bài Giới Thiệu Về Một Loài Hoa Hoặc Loài Cây

Giới thiệu về một loài hoa Thuyết minh về hoa cúc

Trong thế giới của những loài thực vật, mỗi loại hoa, mỗi cành cây, nhánh cỏ lại mang những vẻ đẹp riêng, những ý nghĩa riêng mà chúng ta không phải ai cũng biết điều đó. Những loài hoa mỗi loại cây lại thể hiện những ý nghĩa riêng. Có những khi, chúng ta tặng cho nhau những bó hoa để thay cho những lời mình muốn nói, thay cho tấm lòng của chúng ta về những điều quan trọng mà chúng ta dành cho người con người thân yêu bên cạnh mình hay chỉ đơn giản là thay cho chúng ta nói lên những lời chúc tốt đẹp nhất dành cho đối phương. Và đối với em, em yêu nhất là những bông hoa cúc- loài hoa tượng trưng cho sự cao thượng và hoa cúc cũng được coi là hình ảnh đại diện mỗi khi chúng ta nhắc tới mùa thu.

Mùa thu tới mang theo những cơn gió heo may, cái lành lạnh của mùa thu mang tới bên khung cửa cũng là lúc chúng ta lại tìm những cánh hoa cúc nhỏ xinh về bên mình như một nét đẹp mà chỉ mùa thu mới có. Cúc được coi là một trong từ bình:mai- trúc- cúc- tùng. Đây là không chỉ là những hình ảnh đại diện cho bốn mùa còn là những hình ảnh tượng trưng cho cốt khi của những con người có cốt cách thanh tao. Hoa cúc tại sao lại nằm trong tứ bình? Đó là bởi vì hoa cúc không chỉ là loài hoa tượng trưng cho mùa thu mà hoa cúc còn tượng trưng cho sự vĩnh cửu, sự trường thọ mà biểu đạt cho ý nghĩa trên chính là những bông cúc trường thọ. Theo quan điểm của nhân dân, những bông hoa cúc khi bị khô héo đi, chúng chỉ bị lụi tàn ở trên cây chứ không bao giờ rụng xuống dưới mặt đất, cũng giống như hình ảnh của những người chính nhân quân tử chỉ có thể chết đứng trong sự ngay thẳng chứ không bao giờ chịu sự chèn ép, chết không được trong sạch. Bởi vậy nên cúc đã là hiện thân của người quân tử trong lòng những người yêu thiên nhiên và muốn tìm cho mình những ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Còn theo quan niệm của những dân gian, chắc hẳn chúng ta cũng đã từng nghe sự tích về cây hoa cúc. Cây hoa cúc cũng thể hiện sự hiểu thảo, báo đáp công ơn của cha mẹ, mỗi cánh hoa là mỗi ngày người mẹ được sống. Với những bông cúc có vô vàn những cánh hoa nhỏ xinh như vậy thì điều đó cũng có nghĩa là cha mẹ của chúng ta cũng sẽ luôn được hạnh phúc, trường thọ.

Những bông hoa cúc tuy được coi là đại diện, là hình ảnh của mùa thu, thế nhưng, chúng vẫn có thể nở quanh năm. Có rất nhiều những loại hoa cúc trong thế giới của chúng hiện nay. Nào là hoa cúc vàng, hoa cúc trắng, cúc vạn thọ, cúc tím. Với những người yêu hoa thì mỗi loại hoa cúc lại mang những ý nghĩa riêng biệt không giống nhau. Có lẽ chúng ta sử dụng những bông cúc có màu vàng nhiều nhất bởi màu sắc rực rỡ của nó. Màu vàng là màu tượng trưng cho tuổi trẻ, cho những khát vọng mãnh liệt của mỗi chúng ta. Cũng gần giống như những bông hoa cúc vàng, những bông hoa cúc trắng cũng mang trong mình vẻ đẹp riêng. Phía trên cùng là những cánh hoa nhỏ li ti xếp chồng lên nhau, mang trong mình mùi thơm thoang thoảng, đầy ý nhị. Không phô trương như những bông hoa hồng rực lửa, cúc chỉ có sự nhẹ nhàng, đằm thắm như hình ảnh của những người phụ nữ dịu dàng. Phía dưới là những đài hoa xanh biếc nâng đỡ những cánh hoa bên trên, . Chúng như bàn tay nhỏ bé, nâng niu từng cánh hoa giúp cho chúng có thể bám vào nhau, tạo nên vẻ đẹp của những bông cúc trong nắng nhẹ của những ngày thu- nhất là những ngày thu của tiết trời hà nội. cúc thường mọc thành từng cụm, những bông cúc thường có thể tươi trong nửa tháng mới tàn, thế nhưng chỉ vài ngày sau, những nụ hoa cúc đã bắt đầu nở rộ ở những nhánh bên cạnh. Vào những lúc như thế này, sức sống của những bông cúc mới mãnh liệt hơn bao giờ hết. hay như những bông cúc trường thọ, chúng gây nổi bật bởi hình dáng của mình. Chúng là những bông hoa to bằng cái bát ăn cơm, bông hoa nở rộ lên, mang ý nghĩa của sự vĩnh cửu. Có lẽ vì vậy mà những bông cúc trường thọ cũng được nhiều người ưu ái hơn so với những bông cúc khác. Chúng rất hay được mua trong những ngày lễ quan trọng như ngày cha mẹ hay ông bà trong những ngày mừng thọ.

Thuyết minh hoa ly

Trung Quốc là nước trồng hoa Lily sớm nhất từ hàng trăm năm trước. Trong tài liệu cổ “Thần nông bản thảo” thì củ Lily có tác dụng thanh phế, nhuận táo, tư âm, thanh nhiệt. Vì vậy, từ lâu củ Lily ngoài tác dụng làm giống còn được dùng để ăn, làm thuốc chữa bệnh… Ban đầu, hoa Ly được trồng để lấy củ ăn, bắt đầu từ đời nhà Đường (Trung Quốc), nhưng vẻ đẹp và mùi hương quyến rũ của chúng đã được khẳng định qua những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của Lily thời nhà Đường, nhà Tống qua các nhà thơ nổi tiếng. Vì thế, hoa Ly không chỉ được mọi người ưa chuộng về củ của chúng mà người ta còn thích thưởng thức vẻ đẹp của Lily.

Mặt khác, quá trình phát triển của hoa Ly cũng hết sức lâu dài. Cuối thế kỉ 16, các nhà thực vật học Anh đã phát hiện và đặt tên cho các giống Lily. Đầu thế kỉ 17 Lily được mang từ châu Âu đến châu Mỹ. Tiếp đến, sang thế kỉ 18 các giống Lily của Trung Quốc được mang sang châu Âu, do vẻ đẹp và mùi thơm hấp dẫn nên cây Lily đã nhanh chóng phát triển và được coi là cây hoa quan trọng của châu Âu, châu Mỹ. Đây là bước đầu cho thời kì hoa Ly được biết đến rộng rãi và được ưa chuộng trên toàn Thế Giới.

Vào cuối thế kỉ 19, bệnh Virut ở Lily lây lan mạnh, tưởng chừng cây Lily sẽ bị huỷ diệt. Đến đầu thế kỉ 20, khi người ta phát hiện ra giống Lily thơm ở Trung Quốc (L. regane) có khả năng chống chịu tốt với bệnh virut, giống này được nhập vào châu Âu và chúng đã được dùng vào việc lai tạo giống mới để tạo ra rất nhiều giống có tính thích ứng rộng, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, cây Lily lại được phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, các giống hoa Ly rất đa dạng và phân bố khắp nơi trên Thế Giới.

Hiện nay, các giống hoa Ly rất đa dạng và phân bố khắp nơi trên Thế Giới. Một một hoa Ly trưởng thành có bảy bộ phận chính là rễ, thân, lá, hoa, củ, quả và hạt. Về phần rễ, hoa Ly có hai loại: rễ củ để hút nước và chất dinh dưỡng cho củ và rễ thân để nâng đỡ, hút nước và chất dinh dưỡng cho cây sinh sống. Củ của hoa ly nằm dưới mặt đất, nhiều lớp vải bên ngoài củ bọc lại thành lớp thân vảy. Ở thân chính của cây, thân trên mặt đất mang lá và hoa, phần dưới mặt đất mang rễ thân và củ con. Chiều cao thân chủ yếu quyết định bởi chiều dài đốt.

Trong điều kiện ánh sáng yếu, ngày dài, nhiệt độ thấp và xử lý trước khi bảo quản lâu đều có tác dụng kéo dài đốt thân. Ngược lại ánh sáng mạnh, ngày ngắn, nhiệt độ cao lại ức chế đốt kéo dài. Về phần lá, hoa ly có nhiều hình dạng lá khác nhau như hình mũi mác, hình oval, hình elip, hình trứng hoặc thuôn dài hoặc tròn dài… lá không có cuống hoặc cuống ngắn tùy thuộc vào từng giống, nhóm giống. Phần hoa, phần quan trọng nhất làm nên vẻ đẹp quyến rũ của chúng có màu sắc đa dạng, phong phú, có loại có hương thơm, loại không có hương thơm.

Hoa của hoa ly cũng có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu là 3 dạng chính: Hoa hướng trên, hoa quay ngang và hoa rủ xuống. Hoa có 6 nhị dài, một nhụy chia làm 3 thuỳ, bầu hoa hình trụ. Quả ly có chiều dài từ 5 – 7m, bên trong có 3 ngăn, mỗi quả có vài trăm hạt. Khi chín, quả tự nứt ra thành 3 khía dọc theo quả và phóng thích hạt ra ngoài. Hạt dẹt, xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu hoặc 3 góc, bên trong hạt có chứa phôi. Khi gieo sẽ nảy mầm thành cây mới. Tất cả những thành phần này đã góp phần tạo nên một cây hoa Ly tuyệt đẹp, làm cho bất cứ ai cũng phải trầm trồ khen ngợi.

Hoa Ly phát triển mạnh mẽ trên đất thoát nước tốt, đất ẩm có axit nhẹ như đất hữu cơ làm từ mùn, đất tự nhiên. Nhiệt độ thích hợp để cây phát triển ban ngày là 20 – 25 độ C, ban đêm là 12 – 15 độ C. Ngoài ra, các giống lai phương Đông thời kỳ đầu thích hợp với nhiệt độ ban ngày 25 – 28 độ C, ban đêm 18 – 20 độ C. Dưới 18 độ C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù. Lily ưa cường độ ánh sáng ở mức trung bình, từ 12 – 15 nghìn lux. Vào mùa hè, nhóm lily châu Á và lily thơm cần che bớt 50% ánh sáng, nhóm phương Đông thì 70% ánh sáng.

Lily thích không khí ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất là 80 – 85%, vào thời kì đầu nên tưới nhiều nước, đến thời kì ra hoa cần giảm lại. Khi trồng cần nhớ phải luôn giữ ẩm cho đất. Khi chăm cây,cần tưới ở phần gốc, tránh làm lá và nụ bị ướt. Ngoài ra cần sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho ly với chế độ tưới 30 phút/ngày. Việc bón phân cho hoa cũng cần tiến thành kịp thời, bạn dùng phân hữu cơ (NPK, lân) để bón từ khi cây được 20 ngày đến khi cây nở hoa với tần suất 10 ngày/lần. Hỗn hợp phân hòa với nước đem tưới đều lên cây, sau đó đem tưới lại bằng nước để rửa phần còn bám trên lá.

Bông hoa ly vừa có hương thơm, vừa có vẻ đẹp quyến rũ , có thể tận dụng trong trang trí, làm quà tặng lại có lịch sử lâu đời. Vì vậy, chúng trở thành một phần quan trọng trong đời sống của người Việt nói chung và toàn Thế Giới nói riêng bởi những câu chuyện, những biểu tượng đằng sau những bông hoa Ly.

Thuyết minh về loài hoa sen

Bài ca dao về hoa sen gợi biết bao niềm yêu mến và tự hào về loài hoa hương đồng gió nội. Nhắc đến hoa sen là nhắc đến một loài hoa đẹp đẽ, thánh thiện, hoàn toàn thoát tục; một loài hoa trở thành biểu tượng cho tâm hồn và nhân phẩm Việt Nam.

Hoa sen là một trong những loài hoa truyền thống lâu đời nhất ở phương Đông. Đây là loài thực vật sống dưới nước có nguồn gốc Á châu và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trong tất cả nền văn hóa, đặc biệt là của Phật giáo. Khi nhắc đến Phật giáo là nhắc đến hình ảnh Phật ngồi trên đài sen thơm ngát. Phật giáo đã có hơn hai nghìn năm trăm năm, vậy ắt hẳn tuổi của loài sen còn nhiều hơn thế.

Một bông hoa sen ngắm lần lượt từ ngoài vào trong ta sẽ thấy “bông trắng, nhị vàng”. Cánh hoa sen rất giống với hình trái tim, đáy tim hướng lên trên. Một bông sen có nhiều lớp cánh xếp lớp vào nhau; đến khi nở cũng ngần ấy cánh hoa xoè ra khoe sắc. Cánh hoa sen có thể có màu hồng hoặc trắng. Bên trong cánh sen là nhị sen màu vàng tươi rất nổi bật. Khi sen đã già, nhị đã tàn có thể thấy rõ bát sen với những hạt sen lớn bằng đầu ngón tay. Toàn bộ bông sen được đỡ bằng một cuống hoa dài và đưa sen mọc khỏi trên mặt nước. Thân sen được cấu tạo rất đặc biệt. Bẻ đôi thân sen sẽ thấy hai nửa thân còn được nối với nhau bằng những sợi tơ dài. Chính đặc điểm đó của sen đã gợi hứng để đại thi hào Nguyễn Du viết nên câu thơ tuyệt bút: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. Bởi vậy, sen còn là biểu tượng của lòng thuỷ chung son sắt. Lá sen có hình tròn, rất rộng và có màu xanh. Mặt lá có một lớp nhung trắng, khi ánh nắng chiếu vào, lớp nhung trắng ấy óng ánh li ti mờ ảo rất đẹp. Hoa sen, lá sen, thân sen được nuôi sống bởi củ sen nằm sâu dưới lòng bùn. Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Thật đúng như lời ca dao: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Trong bức tranh làng quê Việt Nam, sẽ thật thiếu sót nếu thiếu đi hình ảnh đầm sen bát ngát, mênh mông. Có điều ấy bởi từ Bắc vào Nam, sen có mặt khắp mọi nơi, gắn bó rất mật thiết với đời sống con người Việt Nam như cây tre, cây đa… vậy. Mùa hạ đến giữa cái nóng như thiêu như đốt, đi làm đồng hay đang trên đường đi xa, người ta chỉ ao ước đến gần một đầm sen. Hương sen thơm ngát, mát lành thoảng qua làm dịu đi cái nóng nực, oi nồng. Thêm nữa, nhìn hình ảnh đầm sen rờn sóng, lá sen lấp loáng, hoa sen lung linh, chỉ vậy thôi đã như cảnh tiên khiến người ta quên cả mệt mỏi. Vài cậu bé con tinh nghịch ngắt chiếc lá sen che lên đầu làm nón, ngất ngưởng ngồi lên lưng trâu đi về đường làng, hình ảnh ấy cũng thật nên thơ nên hoạ. Không chỉ vậy, nhắc đến hoa sen còn là nhắc đến một loài hoa quý. Hoa sen được dùng để làm đẹp cho những ngôi nhà đơn sơ, giản dị của người nông dân Việt Nam đồng thời làm sang cho những khu vườn kim chi ngọc diệp. Bên cạnh đó, sen còn là một món ăn rất ngon và bổ. Củ và ngó sen sau khi rửa sạch liền trở thành món ăn mát lành, một món đặc sản chốn đồng quê. Hạt sen cũng được dùng làm món ăn, vị thuốc công hiệu. Đặc biệt, nhị sen còn được dùng để ướp trà tạo nên thức trà sen nức tiếng. Sáng sớm, khi trời còn tinh sương, người ướp trà phải chèo thuyền ra hồ thả từng lá trà vào giữa bông sen rồi buộc nhẹ bông sen lại để chè được ngấm cái hương vị thơm lành của sen. Cầu kỳ hơn, có người còn đi thâu từng hạt sương đọng trên cánh hoa sen, lá sen đề làm nước hãm trà… Vậy mới biết, sen được con người yêu thích đến nhường nào.

Khi mùa hạ qua đi, sen dần tàn lụi. Sen chỉ thích hợp với môi trường có khí hậu ấm nóng bởi vậy khi thu đến đông về, sen tạm thu mình xuống lớp bùn lạnh để chờ xuân sang vươn chồi non biếc và mùa hè đến thì xoè hoa, khoe lá. Nếu ở miền Bắc, hoa sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm. Quê hương của Bác có tên là “Làng Sen” và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta:

Không chỉ có những giá trị thực dụng, sen còn thể hiện những ý nghĩa sâu sắc giàu tính triết lí. Sen sống trong bùn nhưng vẫn vươn lên trên lầy, toả hương thơm ngát. Sen có một sức sống mạnh mẽ đến kỳ lạ và tự tính của sen là tinh khiết, thanh thoát. Nó tượng trưng cho bản tính thân thiện, phong thái tao nhã, tinh thần “vươn dậy” trong mọi nghịch cảnh của con người Việt Nam. Đặc biệt trong tư tưởng Phật giáo, hoa sen được tôn quý và chiếm vị trí rất quan trọng bởi tôn giáo này quan niệm rằng bản thân bông sen đã thể hiện tinh thần “cư trần bất nhiễm trần” – ý nghĩa ấy biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện… Trong Phật giáo, phật tổ Thích Ca được sinh ra từ đóa sen vàng. Trong các công trình kiến trúc Phật giáo ở Việt Nam, sen luôn trở thành hình tượng nghệ thuật. Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu lấy cảm hứng từ hoa sen là chùa Một Cột. Theo truyền thuyết, ngôi chùa này được hình thành từ một giấc mộng đài sen của một vị vua triều Lý. Chùa có hình dáng hoa sen, mọc lên từ hồ nước, chỉ với “một cột” như một cọng sen. Tại đất nước Ai Cập, bông sen cũng được tôn thờ vì sự thanh khiết và thánh thiện. Đây là loài hoa duy nhất nở được trên dòng sông Nin huyền thoại bởi dòng chảy ở đây rất mạnh, các loài hoa khác đều bị vùi dập bởi sông nước nhưng riêng hoa sen thì khác, hoa sen có thể đâm chồi, nảy lộc và đem lại vẻ đẹp không gì sánh bằng cho con sông giàu màu sắc thần bí này.

Hãng hàng không quốc gia của Việt Nam, Vietnam Airlines đã chọn hình ảnh bông sen sáu cánh làm biểu tượng của mình sau bao thời gian chắt lọc, suy nghĩ. Đó cũng là biểu tượng mà người Việt Nam muốn cho bạn bè quốc tế trên khắp năm châu được biết đến. Đóa sen hồng giờ đã được nâng lên không trung, bay đến với khắp mọi nơi trên thế giới, mang niềm vui đoàn tụ, hạnh phúc, hòa bình và đã giúp khoảng cách giữa người và người, giữa các cộng đồng trên thế giới được xích lại gần nhau. Trong mắt của bạn bè thế giới, hình ảnh của bông sen sẽ in đậm và đọng lại trong tư tưởng của mọi người về một đất nước anh hùng, bất khuất dù phải trải qua bao cuộc bể dâu, bao trận chiến tang thương, khốc liệt nhưng giờ đây vẫn vững bước đi lên hội nhập với thế giới.

Thuyết minh về loài hoa mai

Mỗi dịp xuân về, ngàn hoa lại khoe sắc. Trong muôn ngàn loài hoa rực rỡ sắc hương ấy có một loài hoa rất đỗi quen thuộc với người Việt Nam: hoa mai vàng.

Mai vàng thuộc họ hàng mai, vốn là một loài cây hoang dã, mọc nơi núi rừng với dáng vẻ tự nhiên mà quyến rũ. Trải qua thời gian cùng với nhu cầu thưởng ngoạn, trao gửi tâm linh, con người đã phát hiện, thuần dưỡng và xem mai như một người bạn thân thiết, tao nhã.

Mai có dáng vẻ thanh cao. Thân cây mềm mại, lá xanh biếc, dịu dàng, hoa tươi, rực rỡ. Mai thường trút lá vào mùa đông và ra hoa vào mùa xuân. Hoa nở thành từng chùm, có cuốn dài treo lơ lửng trên cành, thoảng mùi thơm e ấp, kín đáo. Mỗi nụ hoa thường có năm cánh. Cá biệt có hoa tới những chín, mười cánh. Dân gian vẫn tin rằng năm mới nhà nào có cành mai như vậy là dấu hiệu của điềm lành, của một năm thịnh vượng, an khang.

Mai thuộc loại dễ trồng và cũng dễ chăm sóc. Người ta thường trồng mai bằng cách chọn những hạt mai nhín mẩy, phơi khô rồi đem gieo vào đất ẩm, có thể gieo trong chậu hoặc ngoài vườn. Nó ưa đất ẩm và ánh sáng nhưng không chịu được úng. Vì vậy cần trồng cây mai nơi cao ráo và phải thường xuyên tưới nước cho cây. Nếu trồng trong chậu thì cần chú ý bón phân và thay đất hàng năm. Nếu chăm sóc tốt thì khoảng 5 – 7 năm mai có thể cho hoa. Để có một chậu hoa đẹp thường chú ý cắt nhánh, uốn cành, tạo thế để có được những chậu mai có hình dạng độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc, đậm chất triết lí Á Đông. Để mai ra hoa đúng vào ba ngày Tết, người trồng mai thường phải chú ý trút lá và canh thời tiết. Năm nào thời tiết nắng ấm thì trút lá trước Tết khoảng hai mươi lăm ngày. Năm nào rét đậm thì phải trút lá sớm hơn.

Từ lâu cây mai đã đi vào đời sống tinh thần của người Việt Nam. Tương truyền rằng chúa Nguyễn Hoàng lúc di dân vào miền Nam lòng vẫn không nguôi nỗi nhớ thương cành đào xứ Bắc nên mỗi độ xuân về lại dùng cành mai thay thế. Có lẽ thú chơi mai ngày Tết của người Việt ra đời từ đó.Đối với người Việt Nam, nhất là người miền Trung và miền Nam, mai thường là một thứ hoa thường không thể thiếu trong ngày Tết. Ba ngày xuân, ai cũng muốn có một cành mai đẹp trong nhà, vừa để tô điểm sắc xuân, vừa để cầu mong những điều tốt đẹp. Cùng với hoa đào miền Bắc, hoa mai trở thành hiện thân của mùa xuân phương Nam. mai, trúc, cúc, tùng là biểu tượng của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đã viết: “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. Mai là biểu tượng của người quân tử, là bạn tâm giao của những người thanh lịch, tao nhã.

Mai là một cây quý của người Việt Nam. Hiểu biết về cây mai sẽ giúp chúng ta khám phá ra bao điều thú vị để từ đó càng thêm yêu quý, nâng niu trân trọng và biết cách làm tôn vinh giá trị của mai, góp phần làm cho ngàn hoa của xứ sở luôn rực rỡ sắc hương.

Thuyết minh về loài hoa hồng

Không biết tự bao giờ, cây hoa hồng đã trở thành một loài hoa tôn quý, vẻ đẹp của nó không thanh cao như hoa mai, không sặc sỡ như hoa ngũ sắc. Nhưng nó mang một vẻ đẹp mềm mại mà nhẹ nhàng, êm đềm như tình cảm của con người.

Cây hoa hồng có tên khoa học là Rosa, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Người ta khẳng định hoa hồng đầu tiên ở Trung Quốc và Tiểu Á, sau đó mới du nhập vào châu Âu, nhưng người châu Âu lại có công lai tạo ra giống hoa hồng hiện đại ngày nay. Trên thế giới, mỗi khi nhắc đến đất nước Bungari, người ta lại nhắc đến cây hoa hồng. Nếu như nói Nhật Bản là xứ sở của hoa anh đào thì Bungari lại là xứ sở của hoa hồng. Cây hoa hồng được trồng ở hầu khắp cả nước ta, đặc biệt là Đà Lạt.

Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng. Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng. Hồng nhung Đà Lạt có thể xem là loại hồng đẹp nhất nước ta, cánh hoa mềm mại, xếp chồng xen kẽ lên nhau, gần như hình trái tim mang một màu đỏ tươi thắm, nó như hội tụ tất cả những tinh túy của đất trời, của cuộc sống, của thế giới các loài hoa. Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại.

Hồng dại thường được thấy ở những nơi hoang dã, mọc ngoằn nghèo nên còn gọi là hồng leo. Hồng cổ điển là những giống hồng được thuần chủng, lai tạo từ trước năm 1867. Còn hồng hiện đại là những giống hồng được lai tạo từ sau năm 1867. Ở nước ta, hoa hồng còn được phân loại theo đặc tính của cây như: hồng cứng, hồng thạch, hồng quế, hồng cánh sen, hồng vàng…

Cây hoa hồng như một món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, nó làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta nói, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu: tình yêu gia đình, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình yêu đôi lứa… Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. Trong ngày lễ “vu lan”, vào chùa chúng ta thường thấy những bông hồng cài trên ngực áo thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, rồi đến ngày Nhà giáo Việt Nam, từng lớp học trò lần lượt mang những cánh hồng đỏ thắm dâng tặng lên thầy, cô kính yêu như thể hiện lòng biết ơn. Ngày lễ Valentine, ngày 8/3… chúng ta cũng không quên những bông hồng xinh xắn tặng cho các mẹ, các chị và đặc biệt là người yêu mình. Cứ như thế, cây hoa hồng đi vào thơ ca một cách tự nhiên không biết từ lúc nào, chúng ta thường nghe câu nói dân gian Hoa đẹp là hoa có gai, câu nói đó ám chỉ cây hoa hồng, rồi ta cũng thường nghe bài hát Bông hồng cài áo, đọc tác phẩm Hoa hồng Bungari…

Không những phục vụ cho đời sống tinh thần, hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người. Một phòng họp, một phòng khách, một quán trà… có thêm một cành hồng trên bàn cùng đủ làm cho không gian thêm trang trọng và lãng mạn. Có thể nói rằng hoa hồng có tính trang trí cao. Hương hoa hồng không thơm ngát như hoa lài mà ngược lại rất nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì vậy, hoa hồng được nhiều nước chọn nguyên liệu để làm nước hoa, mỹ phẩm, góp phần tôn lên vẻ đẹp của con người. Hoa hồng cũng được trồng để kinh doanh, thu lợi nhuận.

Nhìn chung, hoa hồng ở Việt Nam thích nghi nhiệt độ trung bình từ 18 – 25 độ ẩm tối đa 85%, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000 – 2000mm, độ pH từ 5,6 – 6,5. Trong mùa hè, do nhiệt độ lên cao, độ ẩm lớn cây hoa hồng có nguy cơ xuất hiện các loại bệnh như gỉ sắt, phấn trắng, rệp. Nếu cây bị nấm phấn trắng trong vụ xuân thì dùng đồng 1% để tưới, đồng thời phải cắt bỏ những cành bị bệnh nặng và đốt đi. Đất dùng để trồng hoa hồng phải bằng phẳng, tơi xốp. Hoa hồng thường được nhân giống theo ba cách: giâm cành, chiết cành hoặc ghép cành.

Như thế, cây hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp và tâm tình, nó không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Vì vậy, bảo vệ và phát triển giống hoa hồng là điều cần thiết mà con người cần làm hiện nay.

Thuyết minh về loài hoa đồng tiền

Ở Phương Tây, người ta đặt cho mỗi màu hoa, mỗi thứ hoa một ý nghĩa nhất định. Màu trắng biểu thị sự trong sạch, màu xanh nhạt chỉ sự xoa dịu đam mê, màu hoàng yến đường hoàng kiêu hãnh, màu phấn hồng êm ái ôn nhu. Còn ở Phương Đông, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, hoa thủy tiên tượng trưng cho sắc đẹp kiều diễm, trong trắng, hoa cúc tượng trưng cho người ẩn dật, hoa phù dung sớm nở tối tàn thường được ví với những người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bạc mệnh; hoa lan là thứ hoa vương giả; hoa mẫu đơn là thứ hoa phú quý; hoa nhài là thứ hoa lãng mạn, chỉ nở về đêm. Còn đồng tiền, thứ hoa gắn liền với cho sự may mắn,tài lộc, luôn cố gắng vươn lên để đến được nơi tươi sáng nhất giống như con người Việt Nam.

Đồng tiền hay cúc đồng tiền (Gerbera), có tên khoa học là Gerbera jamesonii, là một chi của một số loài cây cảnh trong họ Cúc (Asteraceae). Tên gọi Gerbera được đặt theo tên nhà tự nhiên học người Đức Traugott Gerber, một người bạn của Carolus Linnaeus. Đây là một trong 10 loại hoa thương mại quan trọng nhất được trồng trên thế giới, có nguồn gốc từ Châu Á, Nam Phi và Tasmania. Đồng tiền thích hợp với khí hậu ôn đới hoặc cận nhiệt đới. Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng hơn 30 giống hoa đồng tiền đang được trồng ngoài sản xuất, các giống này có nguồn gốc từ Hà Lan, Trung Quốc, màu sắc phong phú, đa dạng. Hoa được trồng chủ yếu ở Đà Lạt và các nơi có khí hậu mát mẻ.Cây hoa Đồng tiền thuộc loại thân thảo. Thân ngầm, không phân cành chỉ đẻ nhánh, lá và hoa phát triển từ thân, lá mọc chếch so với mặt đất một góc 15 – 45 độ, hình dáng lá thay đổi theo sinh trưởng của cây (từ hình trứng thuôn đến thuôn dài); lá dài 15 – 25cm, rộng 5 – 8cm, có hình lông chim, xẻ thuỳ nông hoặc sâu (tùy thuộc vào từng loại giống), mặt lưng lá có lớp lông nhung.

Hoa có cuống dài, là loại hoa tự đơn hình đầu và bông hoa được tạo bởi hai loại cánh hoa hình lưỡi và hình ống. Cánh hình lưỡi lớn hơn, xếp thành một vòng hoặc vài vòng phía ngoài; cánh hình ống nhỏ hơn, do sự thay đổi hình thái và màu sắc nên được gọi là mắt hoa hoặc tâm hoa. Trong quá trình hoa nở, cánh hoa hình lưỡi nở trước, cánh hoa hình ống nở sau theo thứ tự từ ngoài vào trong theo từng vòng một. Đồng tiền là cây thân thảo, dạng thân ngầm, không phân cành chỉ đẻ nhánh. Lá và hoa phát triển từ thân, lá mọc chếch so với mặt đất một góc 15 – 45 độ, hình dáng lá thay đổi theo sinh trưởng của cây (từ hình trứng thuôn đến thuôn dài); lá dài 15 – 25cm, rộng 5 – 8cm, có hình lông chim, xẻ thuỳ nông hoặc sâu (tuỳ thuộc vào từng loại giống), mặt lưng lá có lớp lông nhung. Thuộc dạng rễ chùm, hình ống, phát triển khỏe, ăn ngang và nổi một phần trên mặt đất, vươn dài tương ứng với diện tích lá tỏa ra. Hoa là dạng hoa tự đơn hình đầu và bông hoa được tạo bởi hai loại cánh hoa hình lưỡi và hình ống. Cánh hình lưỡi lớn hơn, xếp thành một vòng hoặc vài vòng phía ngoài; cánh hình ống nhỏ hơn, do sự thay đổi hình thái và màu sắc nên được gọi là mắt hoa hoặc tâm hoa. Trong quá trình hoa nở, cánh hoa hình lưỡi nở trước, cánh hoa hình ống nở sau theo thứ tự từ ngoài vào trong theo từng vòng một.

Hoa đồng tiền có rất nhiều màu: trắng, vàng, hồng, đỏ, cam… và mỗi màu lại có một ý nghĩa đặc biệt riêng. Nhưng dù là màu gì đi nữa thì loài hoa này đều tượng trưng cho sự hạnh phúc. Nó còn mang ý nghĩa về vẻ đẹp và điều kỳ diệu. Nó mang đến cho chúng ta sự tươi sáng và vui vẻ. Không những thế, nó còn thể hiện sự ngây thơ, tình yêu và lòng ca ngợi.

Đồng tiền là loại hoa có sản lượng và giá trị kinh tế cao. Ở điều kiện thích hợp có thể ra hoa quanh năm; trồng trọt và chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một lần có thể thu hoa từ 4 – 5 năm. Đồng tiền có hình dáng cân đối hài hòa, hoa, tươi lâu, giá trị thẩm mỹ cao, nên là loại hoa lý tưởng trong cắm hoa nghệ thuật cũng như trang trí khuôn viên, nhà cửa…

Trong giáo dục và nghiên cứu khoa học, đây cũng là một loài hoa điển hình, nó được dùng như một mô hình sinh học giúp nghiên cứu về sự hình thành của hoa. Trong y học, hoa đồng tiền cũng được coi là một bài thuốc quý. Trong Đông y Trung Quốc gọi là Nhật Quế hoa. Hoa đồng tiền có tác dụng thanh nhiệt, tiêu đờm, làm ngừng cơn ho (bằng cách: phơi khô cánh hoa trong mát, rồi nấu nước uống); dùng chữa trị rắn cắn hay bị thương, sưng đau (cánh hoa đâm nhuyễn, pha với nước chín, lấy nước uống, còn xác thì đắp lên vết cắn, chỗ sưng)… Ngoài ra, trong cây hoa đồng tiền có chứa các dẫn xuất của coumarin (thành phần của thuốc chống đông máu) nguồn gốc tự nhiên.

Ngoài giờ đi làm, ba em lúi húi chăm sóc mấy cây hoa. Em cũng lăng xăng giúp ba tưới nước hoặc lấy dụng cụ cho ba. Có mấy cây đồng tiền, góc cây cảnh của ba tươi hẳn lên. Ngắm hoa em thấy sảng khoái và thư thái vô cùng. Đồng tiền làm tươi thêm cảnh sắc sân nhà. Không gian thoang thoảng hương thơm của hoa làm dịu bớt không khí bụi bặm, tù túng của phố thị. Hoa đồng tiền tươi rất lâu, em rất thích hoa đồng tiền là vậy.

Giới thiệu về một loài cây Thuyết minh cây chè

Nếu được chọn một loại nước gắn liền với người dân Việt Nam thì chẳng phải thứ nước cao sang, phức tạp gì mà chính là nước chè hay nước trà. Cây chè từ lâu đã đi vào đời sống của người dân, trở thành một loại cây quen thuộc.

Gốc gác của cây chè theo nghiên cứu là nằm ở vùng Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á. Đây là loại cây thích hợp sống ở những vùng có khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, tiêu biểu như là Việt Nam. Đất nước ta có những đồi chè bạt ngàn ở Thái Nguyên, Mộc Châu, Đà Lạt. Từng hàng chè này nối tiếp hàng chè kia với màu xanh tràn đầy sức sống nối tiếp tận chân trời. Hình ảnh thanh bình này đã khiến cho lòng người thêm khoan khoái, đã đi vào bao bức ảnh và là phông nền lý tưởng cho nhiều video ca nhạc hay giới thiệu vẻ đẹp của đất nước Việt Nam. Đặc tính của chè là được trồng trên vùng cao khoảng một nghìn năm trăm mét. Với độ cao lý tưởng này tuy chè phát triển chậm nhưng bù lại lại hấp thụ rất nhiều sinh dưỡng của đất trời, hương vị của nắng, gió, sương càng làm cho lá chè thơm tho.

Chè hay trà thuộc loại cây lưu niên, không mọc riêng lẻ mà mọc thành bụi. Người ta thường cắt tỉa cho chiều cao của cây chè chỉ còn hai mét để cây tập trung phát triển các phần trọng điểm khác, đặc biệt là lá. Chè chỉ gồm một thân chính, có thể coi là thuộc loại thân gỗ hoặc bán gỗ. Từ đây các cành nhỏ khác cũng đâm ra tạo thành một tán được che phủ bởi màu xanh của lá. Chè có hệ rễ cái dài đâm sâu vào lòng đất hút chất dinh dưỡng. Mầm sinh dưỡng của cây cho cành và lá còn mầm sinh thực thành nụ hoa và quả. Lá chè mang hình bầu dục, thuôn thuôn về hai đầu. Nhưng người ta sẽ thường thu hoạch phần búp trà, tức là khi lá trà vẫn còn non, xanh nõn rà. Mỗi búp chỉ vài ba lá.

Chè thường được dùng để pha nước uống. Có hai loại chè tươi và chè khô. Chè tươi được pha trực tiếp từ những lá chè hái ngoài vườn hay trên đồi về. Còn chè khô là loại đã thông qua cả một quy trình sản xuất. Một năm thường có ba vụ chè. Lá chè được hái, đặc biệt là nên hái vào lúc sáng sớm khi những giọt sương vẫn còn đọng trên lá, sau đó đem về phơi khô. Rồi chè được đem vào tôn quay, loại bỏ những phần vụn nát rồi bước vào công đoạn vò chè. Sau khi vò, chè được đưa ra phơi cho lên hương. Cuối cùng có thể đem đóng gói và xuất ra thị trường. Chè khô này cũng là nguyên liệu của chè sen, loại chè nhiều người mong muốn thưởng thức.

Trà cũng rất tốt cho sức khỏe. Trước tiên nó có tác dụng giải khát, là thức uống không thể thiếu của các quán nước, thậm chí còn hình thành nét văn hóa “trà đá vỉa hè”. Ngoài ra trong trà xanh còn có các thành phần ngăn ngừa ung thư, diệt khuẩn. Trà còn được dùng làm nguyên liệu cho một số loại thuốc Đông Y. Trà cũng còn là sự lựa chọn của các chị em phụ nữ trong phương pháp làm đẹp. Lên du lịch ở các vùng trồng chè, có túi chè mang về làm quà biếu cho người thân, họ hàng thì quả là đáng quý mỗi dịp nhà có khách. Ngoài ra, chè cũng có giá trị kinh tế, là mặt hàng được xuất khẩu ra nhiều nước. Uống trà cũng được coi là cả một đạo, là phương thức thanh lọc tâm hồn để tận hưởng cuộc sống, là dư vị cho mỗi vị khách phương xa vấn vương mãi. Tuy nhiên, uống nhiều trà quá cũng không tốt cho cơ thể, dễ gây ra vàng răng hay chứng mất ngủ.

Cây chè đã cứ thế đi vào gắn bó với đời sống con người. Được thưởng thức một chén trà lòng chợt bình yên đến lạ.

Thuyết minh cây xoài

Từ xưa đến nay, xoài vẫn luôn là loại cây vô cùng thân thuộc và gần gũi đối với mọi người, thậm chí đây còn là loại quả yêu thích đối với một số người. Vậy đã bao giờ chúng ta thử tìm hiểu kĩ về loại quả này chưa?

Cây xoài có tên khoa học là mangifera indica L.(Anacardiaceae). Cả thế giới gọi là “Vua của loài quả”. Cây ăn quả vùng nhiệt đới. Không ai biết chính xác nguồn gốc của xoài, nhưng nhiều người tin là chúng có nguồn gốc ở Nam và Đông Nam Á, bao gồm miền đông Ấn Độ, Myanmar, Bangladesh. Xoài được phân chia thành rất nhiều loại nhưng một cây xoài bình thường sẽ có những đặc điểm cơ bản sau: Một cây xoài trưởng thành thường cao khoảng ba đến bốn mét. Từ xa nhìn lại, cả cây xoài như một chiếc ô màu xanh khổng lồ. Rễ cây to cắm sâu vào lòng đất như người mẹ hiền cần cù hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Cũng như rễ, thân cây khá to, một vòng tay trẻ em ôm không xuể. Thân cây có màu nâu sẫm, trên thân có một vài vết cắt như in hằn dấu ấn của thời gian. Từ thân cây tỏa ra nhiều cành như những cánh tay lực lưỡng bảo vệ cây khỏi mọi thứ xung quanh. Lá cây xoài có màu xanh, to hơn lá bình thường một chút và đặc biệt là có mùi rất thơm giống mùi quả xoài. Một số người bảo chỉ cần ngửi lá xoài là có thể biết được cây đó cho ra quả xoài ngot hay chua. Đến mùa ra hoa kết quả, cả cây xoài như được tô điểm bằng những bông hoa xoài trông rất đẹp. Hoa xoài màu trắng trắng, nhỏ li ti và thường mọc thành chùm. Khi những bông hoa rụng đi thì cũng là lúc những quả xoài bắt đầu xuất hiện và lớn dần theo thời gian. Quả xoài to to hơi dài một chút và có vỏ màu xanh, khi chín sẽ chuyển sang màu vàng. Đằng sau lớp vỏ mỏng đó là những miếng xoài thơm ngon, ngọt lịm khiến ai ăn cũng phải say mê. Những miếng xoài vàng tươi hấp dẫn biết bao khiến không ai có thể chối từ thứ quả này. Và phần bên trong cùng của quả xoài chính là hột xoài, đây là phần không thể ăn được là cũng là bộ phận dùng để gieo mầm tạo ra một cây xoài mới.

Cây xoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mọi người. Trước hết đó là loại cây giàu giá trị dinh dưỡng cao rất tốt cho sức khỏe của mọi người. Hơn nữa, đây còn là loại trái cây vô cùng dễ ăn. Chúng ta có thể ăn trực tiếp trái xoài khi đã chín hoặc có thể xay quả xoài để làm thành sinh tố rất hấp dẫn. Không chỉ xoài chín mà cả xoài xanh cũng được sử dụng để làm những món ăn vặt như xoài lắc vô cùng được ưa chuộng. Bên cạnh đó, xoài cũng là loại cây ăn quả đem lại nguồn thu nhập cho mọi người để có thể trang trải cuộc sống. Ở một số nơi người ta còn xuất khẩu xoài để tăng thêm thu nhập…

Như vậy, cây xoài có giá trị cao đối với cuộc sống chúng ta. Vì vậy mỗi người cần phải nâng cao nhận thức để chăm sóc và bảo vệ loài cây này để cây có thể phát triển một cách tốt nhất và cho ra những quả xoài giàu giá trị dinh dưỡng cho mọi người cùng thưởng thức.

Thuyết minh cây bưởi

Cây bưởi là một trong những cây ăn quả quen thuộc và có lợi ích rất lớn trong kinh tế với con người. Vì thế theo một lẽ tự nhiên cây bưởi trở nên gắn bó và được mọi người yêu thích.

Bưởi có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, Đông Dương, Trung Quốc, Ấn Độ có tên khoa học là Citrus Grandis thuộc họ Cam quýt, ưa khí hậu nóng ẩm nên chỉ trồng được ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nóng. Các quần đảo Angti (thuộc vùng biển Caribe – Châu Mỹ) cũng có bưởi nhưng là bưởi chùm, tên khoa học là Citrus paradisi, còn gọi là bưởi Pômelô. Phương Tây ưa bưởi chùm ngược lại với phương đông chúng ta ưa bưởi ta vì mọng nước hơn.

Cây bưởi thuộc loại cây thân nhỏ, sống đa niên, có thể sống hơn 30 năm tuỳ vào giống cây và chăm sóc. Bưởi là loài cây to, cao trung bình khoảng 3-4 m ở tuổi trưởng thành, vỏ thân có màu vàng nhạt, ở những kẽ nứt của thân đôi khi có chảy nhựa. Từ thân cây chia thành ba cành lớn, từ ba cành lớn chia thành nhiều cành, cành có gai dài, nhọn. Lá bưởi có gân hình mạng, phiến lá hình trứng, dài 10 -12 cm, rộng 5-6 cm, hai đầu tù, nguyên, dai, cuống có dìa cánh to.

Hoa bưởi rất đẹp. Hoa bưởi màu trắng ngà ngà, là loại hoa kép có năm cánh nở uốn cong bao quanh nhị vàng như màu nắng mùa thu. Hoa bưởi không mọc đơn lẻ mà mọc thành từng chùm với nhau. Mỗi chùm có khoảng sáu đến mười bông hoa. Hoa bưởi rất thơm. Mùi hương nhè nhẹ không gắt mà thoang thoảng trong gió rất dễ chịu.

Quả bưởi hình cầu to, vỏ dày, màu sắc tùy theo giống. Da bưởi trơn, bóng. Nhìn xa trông những quả bưởi lúc lỉu thích mắt. Hạt bưởi màu trắng, dẹt, rất có lợi trong nhiều bài thuốc tốt.

Họ hàng nhà bưởi rất phong phú và đa dạng. Việt Nam là một trong những vùng nguồn gốc cây bưởi nên có rất nhiều giống bưởi, có nhiều giống bán hoang dại chua đắng, nhưng cũng có nhiều giống ngon như bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Thanh Trà, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, bưởi Biên Hoà…

Cây bưởi có rất nhiều lợi ích đối với đời sống chúng ta. Hoa bưởi thơm thường được dùng để tết thành vòng hoa, ướp chè. Chè ướp hương hoa bưởi trở thành thức uống đặc sản dân giã của con người Việt Nam. Hoa bưởi cũng được dùng cùng vỏ bưởi để nấu thành nước gội đầu cho các bà các mẹ các chị vì không chỉ gội rất sạch mà còn rất thơm.

Tháng Tám hàng năm là mùa bưởi chín. Những quả bưởi chín lúc lỉu được hái xuống mang lên thắp hương ngày Rằm. Những múi bưởi dưới bàn tay trang trí khéo léo được tạo thành những hình thù ngộ nghĩnh cho mâm hoa quả Trung Thu. Bởi vậy mùa thu nhắc tới gắn liền với cây bưởi.

Ngoài ra bưởi còn được chế biến thành nhiều thức ăn tốt cho sức khoẻ như salad, chè bưởi, nước ép bưởi,… Những món ăn đó có chứa nhiều vitamin có lợi cho da và hệ tiêu hoá. Vì thế bưởi còn được sử dụng trong các bài thuốc chữa các bệnh như đau bụng, ăn không tiêu, vàng da,…

Những người dân trồng bưởi muốn thu được vụ mùa cao phải có những bí quyết riêng của mình. Họ cần chú ý đến những yếu tố sau : Giống cây phải chuẩn, kỹ thuật chăm sóc cây phải khéo léo, chính xác,…Ngoài ra để cây sinh trưởng và phát triển tốt còn phụ thuộc vào những yếu tố tự nhiên như : Đất ẩm, kết cấu xốp, khí hậu ôn hoà, nguồn nước cung cấp cho cây phải sạch, phân bón vừa đủ, đúng lúc…

Cây bưởi có rất nhiều lợi ích trong cuộc sống chúng ta. Nó là loại cây đa năng góp phần tăng nguồn vốn sinh hoạt cho người dân. Vì thế cây bưởi luôn được mọi người yêu quý và trân trọng.

Thuyết minh cây phượng vĩ

Trong cuộc sống và những kỷ niệm học sinh, mùa hạ thường đến bằng mùa thi, cùng với những nhánh phượng vĩ đỏ ối lấp ló báo hiệu ngày chia taỵ Cùng với mầu đỏ rực của phượng vĩ, là những hàng lưu bút, là những món quà nho nhỏ lưu niệm tặng nhau của những cô cậu học trò. Phượng vĩ dường như là nhân chứng cho những tình yêu, lãng mạn mơ mộng vu vơ của thời học trò áo trắng cắp sách. Và còn nhiều nữa. Trong mỗi chúng ta, nếu đã trải qua thời áo trắng đến trường, ắt hẳn mỗi người đều mang một kỷ niệm đặc biệt, gắn liền với phượng vĩ. Từ bao giờ, phượng vĩ trở thành biểu hiện của mùa hạ, và của một thời học trò. Có phải vì thế mà phượng vĩ còn có cái tên Hoa Học Trò?

Phượng vĩ có thật nhiều tên, từ tên khoa học Delonix regia, thuộc gia đình Caesalpiniaceae, Họ poincianas có cùng một họ với đậu (Leguminosae), giống Delonix. Nguyên giống phát xuất từ Madagascar, phượng vĩ đã được đi du lịch đến khắp mọi miền nhiệt đới trên thế giới, nhất là Đông Nam Á và Châu Mỹ Latin. Có lẽ vì mầu sắc rực rỡ đỏ rực nổi bật trên nền trời, nên phượng vĩ được so sánh như những ngọn lửa giữa rừng chăng? Chỉ biết rằng, mầu đỏ thắm của phượng vĩ đã được thổ dân vùng Madagascar cho vào hạng hoàng tộc của thảo mộc, cũng như nó được công nhận là hoa biểu tượng cho xứ Puerto Rico.

Thuộc vào loại thân mộc, cây phượng vĩ cao khoảng 6-12 mét, với tàn lá xoè rộng như chiếc dù lớn, với những cành dài khoảng 20-40cm, dầy đặc những lá kép nhỏ li ti. Hoa phượng đỏ thẫm, đường kính khoảng 6-10cm mỗi hoa, với năm cánh hoa xoè rộng. Cánh hoa đỏ thẫm với những đốm đậm li ti trên cánh, và một trong năm cánh hoa màu vàng cam, với những đốm đỏ thẫm, hơi quăn góc, và thô hơn những cánh còn lại. Bên trong nhụy hoa là tập hợp của mười nhánh, dài khoảng 10cm, với phấn hoa thu hút ong bướm. Sau khi hoa tàn, từ đài hoa mọc ra trái phượng, dẹp và dài khoảng 2 feet, khi chín đen thẫm và vỏ cứng, với hạt phượng màu nâu thẫm bên trong. Trái phượng có thể được dùng làm củi đốt. Ở những miền quê Việt Nam, đôi lúc hạt phượng được đem rang trong cát để ăn vì có nhiều dầu, vị bùi bùi thơm thơm.

Trong ngành tinh chế hóa chất, hương và dầu thơm (essence) của phượng vĩ được dùng trong việc xoa bóp (massage) làm giảm căng thẳng cơ bắp. Hương phượng vĩ giúp chúng ta có thể tách rời khỏi những phiền toái, và những cuộc tranh cãi không cần thiết. Biết sử dụng hương hoa phượng, người ta có thể thoải mái hơn, cũng như cảm thấy nhẹ nhàng hơn để bắc nhịp cầu liên lạc giữa người với người. Bởi mùi hương hơi nồng, nhưng lại rất dễ dàng ăn sâu vào lòng người, cũng như sự chuyển vận và dễ dàng hoà nhập vào môi sinh, phượng vĩ vì thế được người ta tin tưởng có tác dụng làm cho con người bớt căng thẳng, dễ dàng kết bạn, dễ đi sâu vào lòng người…Nó giúp người ta giao thiệp dễ dàng hơn, và lịch sự hơn với nhau, cũng như vượt qua được những bực bội, giận dữ, để tâm hồn thoải mái hơn.

Phượng vĩ được gọi là mệnh phụ của những loại cây cảnh. Với tán cây rực rỡ, hào nhoáng mỗi khi hoa nở rộ, loại cây duyên dáng này xứng đáng để được liệt kê vào hạng hoàng tộc trong tất cả các loại cây cảnh. Phượng vĩ nở rất lâu, và mùa phượng vĩ thường kéo rất dài, từ tháng năm, sáu đầu mùa hạ, cho đến cuối mùa vào tháng chín. Thông thường vào mùa hạ ở những vùng nhiệt đới hay có giông bão, thế mà phượng vỹ lại rất kiên cường, và rất đáng ngạc nhiên rằng sau những cơn mưa bão đó, cây vẫn không bị đốn, và hoàn toàn không sao cả. Chỉ có những cành cây giòn dễ gãy, để cho cả lùm cây phượng không bị đốn vì gió. Có thể vì thế mà cây phượng tồn tại được dưới trời bão chăng?

Vì cái đẹp của phượng vĩ, và vì sự bền bỉ của cây phượng qua bao nhiêu năm tháng, dù trụi cành giữa mùa đông nhưng xanh tươi trong những tháng ngày còn lại trong năm, và vì tán lá xanh um mở rộng như chiếc dù che nắng mưa, phượng vĩ có lẽ vì thế được ưa chuộng trong những khuôn viên học đường. Cũng có lẽ vì vậy mà phượng vĩ thường hay được trồng trong những công viên, dọc theo hai bên đường phố hầu tạo được bóng mát trên đường, và làm cảnh đẹp mỗi mùa phượng nở. Có lẽ vì vẻ đẹp của hoa phượng khá rực rỡ, lại rất lạc quan, nên mỗi năm vào tháng sáu, miền nam Florida thường tổ chức hội hoa phượng vĩ (Royal Poinciana Fiesta) để cùng thưởng hoa, như người Nhật thường có hội hoa Sakura chăng? Chỉ biết, hàng năm, tại quê nhà, mỗi mùa phượng vĩ nở rộ, là mỗi người trong chúng ta lại nao nao nhớ về một mùa phượng vĩ riêng của chính mình. Cũng có lẽ vì vẻ đẹp của phượng vĩ mà biết bao người, từ Âu đến Á, đã viết biết bao nhiêu mẩu truyện, làm biết bao nhiêu bài thơ, hoạ bao bức tranh, và nhất là phối âm bao nhiêu bản nhạc riêng cho phượng vĩ, ví dụ như bản “Poinciana”, và có phải vì thế, bao tâm hồn thi sĩ bắt đầu biết nhớ, và biết mong “Sớm Nở Phượng Yêu”…

Dù năm tháng đã qua đi, nhưng cây phượng vĩ vẫn nằm nguyên đó, che nắng mưa cho học trò và tạo nên những sắc hoa làm đẹp cho đời. Chia sẻ niềm vui cũng như nỗi buồn của biết bao thế hệ học trò.

Thuyết minh về cây chuối

Đất nước Việt Nam ta được thiên nhiên ban tặng cho rất nhiều loại trái cây thơm ngon. Mỗi loài mang một hương vị khác nhau, một hình dáng khác nhau. Và có lẽ về sự dẻo thơm thì chuối là loại quả thơm ngon nhất trong số tất cả các loại hoa quả. Ngoài ra, cây chuối còn rất nhiều tác dụng trong đời sống Việt Nam.

Advertisement

Chuối được trồng rất nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ rất nhanh tươi tốt; còn ở rừng, bên những khe suối hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn, vô tận. Chuối phát triển rất nhanh. Chuối có gốc tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất. Thân chuối thuôn, thẳng, có màu xanh rì là do từng lớp lá mọc đè lên nhau thành từng lớp, từng lớp, bao trùm cái ruột rỗng bên trong. Lá chuối mọc thành từng tàu, to bản. Mỗi cây chuối đều cho một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả và nhiều hơn thế. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cây uốn trĩu xuống tận gốc cây. Chuối chặt theo nải. Quả chuối có nhiều hình dạng tùy thuộc vào từng loại khác nhau. Ví dụ: chuối ta có dáng thuôn dài, vỏ xanh; còn chuối tiêu quả căng tròn, vỏ mỏng, thịt dày, vỏ vàng. Ngoài ra còn có chuối hương, chuối ngự, chuối sứ, chuối mường…

Trong đời sống vật chất của con người Việt Nam thì chuối là một loài cây hữu dụng từ thân đến lá, từ gốc đến hoa, quả. Thân chuối rồng nên người xưa hay dùng thay phao để tập bơi, ngoài ra còn làm thức ăn cho gia súc. Lá chuối tươi rửa sạch dùng để gói xôi, bánh giầy, bánh cốm, bánh chưng… và một trò chơi dân gian mà trẻ con hay chơi là cưỡi ngựa. Lá chuối khô cũng dùng để gói bánh gai hay cuộn chặt thay nút chai khá tốt. Bắp chuối thì chẻ ngọn nhỏ làm nộm, tương tự với nõn chuối làm rau sống hay ăn kèm với bún ốc, bún riêu. Trái chuối xanh hay được nấu cùng các thức ăn có vị tanh như ốc, lươn,… vừa khử tanh lại vừa làm cho món ăn thêm ngon, thêm đa dạng. Trái chuối chín là một thức quả được nhiều người ưa chuộng.

Cây chuối cho ta thật nhiều công dụng, không chỉ trong đời sống vật chất mà còn ở đời sống tinh thần: cây chuối là biểu tượng cho làng quê Việt Nam. Nải chuối chín không thể thiếu trong các mâm cúng trời, đất, tổ tiên. Cây chuối gắn liền với cuộc sống nông thôn, với đất nước, dân tộc ta.

Cây chuối gắn bó từ bao đời nay và đã dâng hiến tất cả cho con người Việt Nam, từ đời sống vật chất cho tới đời sống tinh thần. Cây chuối là niềm tự hào không chỉ của thiên nhiên, của đất mẹ mà còn của nông dân Việt Nam; cây chuối sẽ mãi là hình ảnh đẹp trong lòng mọi người.

Thuyết minh cây vải

Nếu như đặc trưng của mùa xuân là mưa phùn se lạnh, hoa đào hoa mai khoe sắc, thì dấu ấn riêng của mùa hè lại là hương vị thơm mát ngọt lành của hoa trái. Đó là hoa phượng đỏ rực một góc trời, là bằng lăng tím bâng khuâng cùng tà áo trắng, là cái ngọt thanh của dưa hấu hay ngọt bùi của khoai lang. Mùa hè còn là mùa của vải thiều-thứ vải chín từ cái nắng chang chang của khí hậu nhiệt đới đã trở thành một thứ đặc sản không thể thiếu của mảnh đất Việt Nam.

Vải là thứ cây thân gỗ, thuộc họ Bồ Hòn, có nguồn gốc từ miền Nam của Trung Quốc. Du nhập về Việt Nam, vải được trồng nhiều ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương hay Huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Trung bình một cây vải cao từ 5 đến 10 mét. Tán vải xum xuê xanh mướt, bao phủ quanh gốc cây. Lá vải có hình lông chim, hai phiến lá hơi cụp lại từ gân chính, được xếp so le trên từng nhánh cành. Hoa vải có màu trắng xanh nhạt, mọc thành từng chùm, nổi bật giữa muôn vàn tán lá. Dưới cái nắng gay gắt, rực rỡ của mùa hạ, từng chùm hoa dần trở thành những chùm quả sai trĩu. Quả vải còn non có màu xanh lá mạ, vỏ sần. Khi vải chín thì chuyển dần sang đỏ thẫm, vỏ cũng trở nên nhẵn hơn. Hạt vải có màu đen tuyền, được bao phủ bởi một lớp cùi trắng mịn, mọng nước. Vải chín có vị ngọt rất riêng

Bởi vẻ thanh mát, ngọt lành, vải hấp dẫn từ cụ già đến em nhỏ. Sau mỗi bữa ăn, vải được dùng làm đồ tráng miệng. Vào những ngày hè oi ả, vải ướp lạnh như một thức quà để giải khát. Khi tách riêng hạt còn có thể kết hợp với hạt sen để nấu thành chè. Ở một vài nơi, cây vải còn được xem như một loại cây cảnh, góp phần làm nên màu xanh tươi mát cho ngôi nhà. Thế nhưng, thuộc tính của vải vốn nóng, khi ăn nhiều có thể gây mụn nhọt trên da hoặc loét miệng. Bởi vậy, khi ăn vải nên ăn vừa đủ để có thể thưởng thức vị ngon riêng của thứ quả này.

Vải chín vào đầu mùa hạ, nên một vụ vải thường bắt đầu vào mùa Xuân. Khoảng từ tháng 1 đến tháng 2, người ta đã chuẩn bị cho một vụ mới. Giữa tháng 3, vải đã bắt đầu ra hoa và dần kết quả. Thu hoạch vải thường vào cuối tháng 8 hoặc tháng 9. Đây là thời điểm quả vải chín hoàn toàn và có vị ngọt sắt.

Giống như các loại cây khác, vải cũng cần có cách chăm sóc riêng. Khi trồng cần bới sẵn một hố nhỏ, sâu tầm 20cm, đặt cây con vào chính giữa hố rồi lấp đất. Điều quan trọng nhất chính là phải dùng tay để lấp và chèn đất cho thật chặt. Sau đó rào cẩn thận xung quanh để các tác nhân bên ngoài không làm ảnh hưởng đến cây. Trong thời gian cây phát triển, cần chú ý tưới nước, bón phân, phun thuốc cho đúng thời điểm, liều lượng.

Ngày nay, khi Xã hội ngày một phát triển, vải nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng nông sản có thương hiệu, được bày bán rộng rãi trên khắp cả nước. Quả vải, mà nhất là giống vải thiều Thanh Hà nổi tiếng có giá trị không nhỏ về mặt kinh tế, giúp hàng loạt hộ gia đình thoát nghèo, đem lại lợi nhuận và danh tiếng cho Vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng, cho ngành nông sản Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, bằng sự cải tiến về Khoa học kĩ thuật, những giống vải chín mọng, hạt nhỏ, cùi dày, phòng trừ sâu bệnh tốt đã thu hút rất khách hàng quốc tế, đưa vải Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp, và các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Thật chẳng sai khi nói: Vải là thứ quả nổi bật trong bữa tiệc đầy hương thơm vị ngọt của mùa Hè. Cây vải đã trở thành loài cây thân thuộc và gần gũi, gắn bó mật thiết với cái nắng rực rỡ ở Việt Nam, là thứ quà mà mỗi người con xa xứ khi trở về đều làm quà biếu. Hi vọng rằng, trong thời đại Khoa học Kĩ thuật ngày một phát triển, con người sẽ lai tạo ra nhiều giống vải ngon hơn, ngọt hơn, hấp dẫn hơn, để quả vải được đến gần hơn với mọi người mọi nhà, và thương hiệu Vải Việt Nam sẽ lan truyền trên toàn thế giới.

Thuyết minh về cây cà phê

Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Năm 1930 ở Việt nam có 5.900 ha.

Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13.000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố tự nhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê phải thanh lý.

Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước có khoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000 tấn.

Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây nguyên nhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên xô cũ, CHDC Đức, Bungary, Tiệp khắc và Ba lan, đến năm 1990 đã có 119.300 ha. Trên cơ sở này, từ 1986 phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân, đến nay đã có trên 390.000 ha, đạt sản lượng gần 700.000 tấn.

Ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc. Chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng lên hàng trăm lần. Thành tựu đó được ngành cà phê thế giới ca ngợi và chúng ta cũng đã từng tự hào vì nó. Tuy nhiên trong vài năm lại đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị trường, cà phê đã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch. Tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, và chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến thời kỳ khủng hoảng thừa. Giá cà phê giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục 30 năm lại đây. Người ta hô hào trữ lại cà phê không bán, người ta chủ trương huỷ bỏ hàng loạt cà phê chất lượng kém… Thời đại hoàng kim của ngành cà phê đã qua đi, ngành cà phê bước vào thời kỳ ảm đạm và có phần hoảng loạn, đài phát thanh và báo chí thường xuyên đưa tin nông dân chặt phá cà phê ở nơi này, nơi khác…

Có thể nói đây là tình hình chung của ngành cà phê toàn cầu và nó tác động lớn đến ngành cà phê nước ta, một ngành cà phê đứng thứ nhì thế giới với quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng. Tình hình thị trường thế giới tập trung vào những thay đổi then chốt của nền kinh tế cà phê thế giới, cán cân cung cầu và vận động của giá cả thị trường.

Ngoài cà phê Robusta hiện đang chiếm gần hết diện tích và sản lượng ra, Việt Nam đang thực hiện một chương trình mở rộng diện tích cà phê arabica, trong đó có cả một chương trình chuyển dịch cơ cấu giống đưa một số diện tích cà phê từ Robusta sang Arabica.

Thuyết minh về cây dừa

Nhắc đến Bến Tre là ta không thể không nhắc đến dừa- một loại cây quen thuộc với người dân Việt ta. Đi dọc dải đất miền Tây nắng gió ta nhất định sẽ bắt gặp những rặng dừa rủ bóng xanh mát. Cây dừa không chỉ làm đẹp cho cảnh sắc làng quê mà nó còn có nhiều công dụng hữu ích cho con người.

Dừa là loại cây dễ trồng, nó có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là đất pha cát và có khả năng chịu mặn tốt nên ở Việt Nam dừa được trồng nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dừa được chia ra làm nhiều loại trong đó có hai loại phổ biến phải kể đến là dừa xiêm và dừa khô. Các giống dừa xiêm sẽ cho ra nước để uống còn các giống dừa khô sẽ dùng để lấy tinh dầu dừa nguyên chất. Ngoài ra còn có một số giống dừa đặc biệt khác như dừa sọc, dừa sáp, dừa dứa.

Mặc dù được chia ra nhiều giống khác biệt nhưng phần lớn cấu tạo của các cây dừa là giống nhau. Thân dừa mọc thẳng , không phân nhánh, cao tầm 20m đến 25m. Thân dừa là đặc điểm để đánh giá sự sinh trưởng của cây bởi thân dừa cao chỉ phát triển mạnh sau từ 4 đến 5 năm. Lá dừa xanh, dài, chia thành nhiều tàu rủ xuống giống như lá chuối nhưng chúng không liền một dải như chuối mà mỗi lá chia thành nhiều nhánh. Một cây dừa sẽ có khoảng 30 đến 35 tàu lá và vào thời kì trưởng thành mỗi tàu lá sẽ dài từ 5m-6m. Rễ dừa được sinh ra liên tục ở phần đáy gốc thân, không có rễ cọc. Rễ không có lông hút mà chỉ có rễ dinh dưỡng. Khi cây dừa 5 năm tuổi nó có 548 chiếc rễ và đến năm 13 tuổi chúng sẽ đạt số lượng lên tới 5200 rễ.

Hoa dừa có màu trắng và nhỏ, thuộc loại đơn tính, hoa đực và hoa cái riêng lẻ vì vậy hoa dừa được thụ phấn chủ yếu nhờ gió và côn trùng. Quả dừa được sinh ra từ hoa. Quả dừa tròn quây quanh thân dừa kết thành từng buồng. Mỗi buồng gồm từ 5 đến 10 trái. Vỏ dừa cứng, độ cứng của cùi và độ ngọt của nước dừa bên trong sẽ phụ thuộc vào độ “già” của trái dừa. Khi thu hoạch dừa người ta phải trèo lên cây dừa để vặn, xoay, cắt cho trái dừa rơi xuống đất hoặc có thể đứng dưới đất dùng sào tre để cắt trái dừa rụng xuống.

Cây dừa đã dốc hết sức lực của mình để phục vụ cho đời sống con người. Có thể nói chúng ta tận dụng được hết những bộ phận của dừa vì chúng vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị sử dụng. Thân dừa to khỏe được đục đẽo làm thành những chiếc xuồng giúp người dân miền Tây đi lại trong những ngày lũ lụt hay những ngày xuôi mái chèo qua rừng ngập mặn. Gỗ dừa còn dùng làm đồ mĩ nghệ tinh xảo. Lá dừa phơi khô có thể làm chất đốt trong gian bếp làng quê, làm mái che, đan làm giỏ đựng và ta cũng có thể dùng lá dừa sáng tạo ra chiếc chổi dừa độc đáo. Đến rễ dừa có thể tận dụng để làm thuốc nhuộm…

Và phần giá trị nhất có lẽ là quả dừa. Nước dừa có vị thanh ngọt dùng để giải khát trong những ngày nắng nóng thì không gì sánh được. Cùi dừa dùng để kho thịt, làm mứt hay kẹo dừa- những món ăn quen thuộc với người dân Việt. Xơ dừa được tách ra và được bện thành những sợi dây thừng vững chắc, nó cũng là một nguyên liệu cần thiết để sản xuất than củi. Dừa còn là một phương pháp làm đẹp hữu hiệu với chị em phụ nữ. Dầu dừa có công dụng làm đẹp da, chống nứt nẻ và dưỡng tóc óng mượt. Người xưa còn ca ngợi dầu dừa bằng câu ca dao:

Quả thật, cây dừa đã gắn bó với người dân Việt Nam từ bao đời nay. Dừa tỏa bóng mát làm dịu tâm hồn con người, dừa lại tạo giá trị kinh tế giúp con người kiếm thêm thu nhập. Cây dừa còn đi vào thơ ca, tạo nên một nét riêng giản dị đặc trưng của tâm hồn Việt. Vì thế dừa xứng đáng là một loài cây được yêu quý và trân trọng.

Sự Khác Biệt Của Một Website Có Sử Dụng Cdn

Website luôn là điểm đến của nhiều người với nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Có nhiều người truy cập website rất mượt mà nhưng có nhiều trường hợp thì hoàn toàn ngược lại nhất là trong những giờ cao điểm. Và CDN chính là nguyên nhân cho thấy được sự khác biệt lớn này.

CDN là gì? 

Để nắm được sự khác biệt của một website có sử dụng CDN, trước tiên bạn cần hiểu rõ CDN là gì? CDN là một hệ thống bao gồm những bản sao nội dung được chứa trong nhiều máy chủ. Những máy chủ được đặt tại những vị trí khác nhau trong một mạng lưới và được tối đa hóa bằng việc truy cập dữ liệu.

Sử dụng CDN sẽ giúp làm giảm thiểu tình trạng quá tải khi tất cả người dùng đang cùng truy cập vào một máy chủ gốc. Các dữ liệu có thể sử dụng được CDN bao gồm các file, các web ứng dụng,…

Sự khác biệt của một website có sử dụng CDN

Cách tốt nhất để bạn nhận thức rõ về sự khác biệt của một website có sử dụng CDN là nắm được một số tiêu chí đánh giá được Bizfly Cloud chia sẻ như sau:

Bộ lọc nội dung (Content Filltering):

Nội dung gửi đến cho người dùng cuối luôn được đảm bảo an toàn

Những truy cập bất hợp pháp ảnh hưởng đến lưu lượng đều được giảm tải.

Tăng tốc độ website:

Người dùng ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có thể sử dụng website với tốc độ tải nhanh và ổn định.

Nội dung luôn được phân tán đến các POP để người dùng truy cập nhanh hơn, tránh việc Overload hệ thống

Khi máy gốc đang ở trong tình trạng không hoạt động, các website vẫn luôn được duy trì hoạt động ở dạng Cache, không tốn băng thông cho static files.

Download Optimise (Tối ưu hóa Download): Trong một thời điểm, nhiều người dùng có thể tải file cùng lúc nhờ vào khả năng chịu tải lớn (lên tới 600.000 lượt).

Live Streaming & VoD ( Streaming & VoD)

Khả năng chịu tải lớn trong lúc truyền phát giúp giảm tối đa các trường hợp gián đoạn.

Các nội dung, phim ảnh, clip,…đều được truyền tải một cách ổn định và mượt mà (độ trễ gần như bằng không). Ngoài ra, các nội dung này còn được hỗ trợ ngăn chặn tối đa việc bị download, sao chép.

Hoạt động tốt trên mọi ứng dụng và thiết bị.

Dịch vụ hỗ trợ website Bizfly CDN 

Tìm hiểu về sự khác biệt của một website có sử dụng CDN, chắc hẳn bạn đã hiểu rõ về tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, với số lượng dịch vụ CDN lớn như hiện nay thì tìm được một dịch vụ phù hợp luôn là điều khó khăn với các doanh nghiệp. Và dịch vụ Bizfly CDN chính là vị cứu tinh của bạn. Với khả năng tối ưu hoá dung lượng, phân phối nội dung từ máy chủ nhanh chóng, website của bạn sẽ nhận được vô số những lợi ích như:

Tăng tốc độ: Các file cache tại ba cụm server lớn bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí MInh giúp tăng tốc độ trả file cho người dùng ở khắp Việt Nam.

Tối ưu dữ liệu: Các dung lượng file ảnh, javascript, css,..được tự động tối ưu, nén, giảm dung lượng đồng thời giảm chi phí dữ liệu cho người dùng.

Tăng hiệu suất: Tốc độ website luôn được duy trì ở mức độ cao ngay cả khi có nhiều khách hàng truy cập.

Tiết kiệm: Các chi phí đầu tư băng thông, phần cứng và nhân sự vận hành website đều được giảm thiểu.

Ngoài ra, đội ngũ chuyên viên hỗ trợ tại Bizfly Cloud đều vô cùng năng động, chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm. Do đó, bạn có thể liên hệ để nhận giúp đỡ hay giải đáp thắc mắc bất cứ khi nào bạn muốn.

Nội dung có sự tham khảo từ Bizfly Cloud

BizFly Cloud – Cung cấp dịch vụ điện toán đám mây tốt nhất tại Việt Nam

Vận hành bởi VCcorp

Địa chỉ: Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, P. Thanh Xuân Trung, Q. Thanh Xuân, TP Hà Nội.

Xem thêm: Sử dụng CDN tăng kết quả SEO cho website

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Giả Thuyết Khác Về Loa Thành trên website Quar.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!