Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 9: Cảm Nhận Về Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long 2 Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 9: Cảm Nhận Về Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long 2 Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Quar.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long đã khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động âm thầm, lặng lẽ xây dựng quê hương, đất nước. Với 8 bài cảm nhận Lặng lẽ Sa Pa sẽ giúp các em cảm nhận sâu sắc hơn.

Qua truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, còn cho chúng ta thấy được bức tranh thiên nhiên Sa Pa đẹp, thơ mộng và tràn đầy sức sống. Vậy mời các em cùng theo dõi 8 bài cảm nhận Lặng lẽ Sa Pa để hiểu sâu sắc hơn, ngày càng học tốt môn Văn 9.

1. Mở bài:

Giới thiệu về Nguyễn Thành Long và truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa.

2. Thân bài:

a. Hoàn cảnh sáng tác và nội dung:

Viết năm 1970, sau chuyến đi thực tế Lào Cai của tác giả.

Truyện kể về cuộc gặp gỡ của anh thanh niên làm công tác khí tượng và ông hoạ sĩ già cũng cô kĩ sư trẻ.

b. Vẻ đẹp của thiên nhiên:

Bức tranh thiên nhiên Sa Pa đẹp thơ mộng, hiện lên qua con mắt của ông hoạ sĩ với “nắng bắt đầu lên tới”, “những cây thông chỉ cao đầu người”, “mây cuộn tròn, lăn cả xuống gầm xe”.

Vẻ đẹp hoang sơ, mang nét độc đáo riêng của Sa Pa.

c. Vẻ đẹp của con người

Anh thanh niên: mới 27 tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét:

Anh là một con người có tinh thần trách nhiệm với công việc và luôn hết mình vì công việc.

Vì công việc nên anh phải sống một mình ở trên đỉnh núi cao “bốn bề chỉ có cây cỏ”

Luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình: góp phần phát hiện “đám mây khô” giúp không quân ta hạ máy bay Mỹ.

Lạc quan, yêu đời: anh tự tạo cho mình những thú vui nhỏ như trồng hoa, đọc sách, nuôi gà, …

Sống ngăn nắp, gọn gàng.

Anh thanh niên là một người cởi mở, chân thành và hiếu khách.

Anh còn là một người rất khiêm tốn: Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ anh, anh đã đề nghị giới thiệu người khác vì cảm thấy họ xứng đáng hơn.

– Nhân vật người hoạ sĩ:

Là một người hoạ sĩ tâm huyết với nghề, người nghệ sĩ chân chính.

Cả đời tìm kiếm cái đẹp, khao khát truyền tải “tấm lòng của người hoạ sĩ” vào sáng tác của mình.

Khi bắt gặp anh thanh niên, ông biết đó là cơ hội, thử thách của mình.

– Cô kĩ sư trẻ:

Vừa mới đỗ kĩ sư, đi nhận việc ở Ti nông nghiệp Lai Châu.

Băn khoăn về cuộc đời, chưa tìm được hướng đi cho mình.

Sau khi gặp anh thanh niên, cô thấy mình “bàng hoàng”: hiểu về cuộc sống, thế giới của anh thanh niên, cũng như “con đường cô đang đi tới”.

– Bác lái xe:

Là một người yêu nghề, đã sống với nghề được “ba mươi hai năm”, từ “trước cách mạng tháng Tám”.

Là một con người chân thành, cởi mở, cầu nối của người thanh niên tới mọi người.

d. Nghệ thuật

Câu chuyện được làm nên bởi chất trữ tình, sâu lắng.

Ngôn từ bình dị, nhẹ nhàng, dung dị như chính những con người trong tác phẩm.

3. Kết bài:

Câu chuyện là lời ngợi ca những con người lao động thầm lặng.

1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Thành Long (những nét chính về con người, cuộc đời, các sáng tác chủ đạo, đặc điểm sáng tác,…)

Giới thiệu khái quát về truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…)

2. Thân bài

a. Bức tranh thiên nhiên Sa Pa

Nghệ thuật: liệt kê, nhân hóa

Tác giả Nguyễn Thành Long như đã làm hiện lên trước mắt người đọc những nét đặc trưng, độc đáo rất riêng của mảnh đất Sa Pa – một bức tranh đẹp, thơ mộng.

b. Các nhân vật

* Nhân vật anh thanh niên

– Một con người yêu nghề, luôn đam mê và hết mình vì công việc

Chấp nhận làm việc trong một điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt và đầy sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khí hậu.

Coi công việc là bạn

Luôn hoàn thành xuất sắc công việc của mình

– Một người luôn tràn đầy tình yêu cuộc sống và sống lạc quan trong mọi hoàn cảnh.

Biết tự tạo niềm vui cho bản thân bằng những việc làm giản dị như trồng hoa, nuôi gà, nuôi ong

Đọc sách để bồi đắp tâm hồn và nâng cao vốn hiểu biết

Sắp xếp căn phòng, cuộc sống của mình một cách ngăn nắp, gọn gàng – “một căn nhà ba gian sạch sẽ khiến ông họa sĩ phải trầm trồ và bất ngờ”.

– Một người chân thành, cởi mở và giàu lòng hiếu khách.

Trong anh luôn hiện hữu nỗi “thèm người”

Khi gặp được người, anh vui mừng không xiết đến nỗi không thể làm chủ được cảm xúc của mình “anh chạy vụt đi, cũng tất tả như khi đến” hay “người con trai nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nói”.

Anh rất cởi mở, hiếu khách và quan tâm đến tất cả mọi người: hồ hởi pha trà, rồi lúc họ ra về anh còn tặng quà,…

– Một con người khiêm tốn: khi ông họa sĩ muốn được vẽ anh thì anh từ chối, e ngại và muốn được giới thiệu người khác mà với anh họ xứng đáng hơn mình

* Nhân vật ông họa sĩ

Giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi ông mang điểm nhìn trần thuật của tác giả

Ông là một người họa sĩ chân chính, nghiêm túc, say mê và không ngần ngại khó khăn để đi tìm cái đẹp- Khi gặp anh thanh niên, chứng kiến công việc và cuộc sống của anh, ông họa sĩ xúc động và bối rối

Trước vẻ đáng yêu của anh, ông lại thấy “nhọc quá” vì những điều người ta nghĩ về anh

* Nhân vật cô kĩ sư

– Cô là hiện thân, là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ.

– Cuộc gặp gỡ bất ngờ cũng những câu chuyện, những lời tâm sự của anh thanh niên đã khiến cô cảm thấy “bàng hoàng”, giúp cô hiểu hơn về anh và có niềm tin vào con đường mình đã chọn.

* Nhân vật bác lái xe

Là nhân vật xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, tạo nên cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ba nhân vật còn lại.

Bác là một người yêu nghề và có trách nhiệm với công việc, bác đã làm nghề lái xe ba mươi năm và có vốn hiểu biết phong phú về Sa Pa.

Bác còn là một người niềm nở và cởi mở và có tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Sa Pa.

Bác là cầu nối giữa anh thanh niên với miền xuôi, với cuộc đời

3. Kết bài

Khái quát những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” và nêu cảm nhận của bản thân.

Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết truyện ngắn và bút ký. Các tác phẩm của ông luôn mang một hình tượng đẹp với ngôn từ trong sáng, giọng văn gần gũi, trong trẻo và nhẹ nhàng. Ông để lại nhiều tác phẩm văn xuôi như Giữa trong xanh (1972), Ta và chúng nó (1950), Bát cơm cụ Hồ (1952), … nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến tác phẩm Lặng lẽ Sa pa (1970).

Lặng lẽ Sa Pa là tác phẩm được đúc kết từ chuyến đi thực tế tại Lào Cai của nhà văn vào năm 1970. Đó là câu chuyện về cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và thú vị của một ông họa sĩ già, một cô kĩ sư trẻ và một anh thanh niên mới 27 tuổi đang làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn, Lào Cai. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng lại khiến những con người ấy thấu hiểu nhau, hiểu được vẻ đẹp của nhau và thêm trân trọng nhau. Truyện ngắn cũng là lời ca ngợi vẻ đẹp của những con người đang cống hiến hết mình cho Tổ quốc trong thầm lặng.

Đến với Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long đã đem tới cho người đọc không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên của Sa Pa mà còn là vẻ đẹp của những con người lao động bình dị trong những năm tháng cùng nhau xây dựng Tổ quốc Việt Nam.

Điều đầu tiên ta cảm nhận được ở tác phẩm là bức tranh phong cảnh thiên nhiên của Sa Pa. Đó là bức tranh thiên nhiên với vẻ đẹp rất đỗi thơ mộng và dịu dàng. Bức tranh thiên nhiên hiện qua con mắt của nhà hoạ sĩ và cô kĩ sư với nắng, với những cây thông, với những đám mây “cuộn tròn”, một vẻ đẹp khiến người ta phải “nín bặt”: “Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kính thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”. Thiên nhiên ở Sa Pa đẹp quá, “đẹp một cách kì lạ” bởi thiên nhiên ở đó vẫn còn hoang sơ và mang những nét đặc trưng, độc đáo riêng của mảnh đất này.

Thiên nhiên ở Sa Pa đẹp là vậy, nhưng những con người ở nơi đây lại càng “đẹp” hơn, rực rỡ hơn! Như người thanh niên trẻ làm “công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu” ở đỉnh Yên Sơn này! Mới chỉ hai mươi bảy tuổi nhưng anh đã sống một mình ở trên đỉnh núi cao 2600 mét này được bốn năm. Quanh năm, anh chỉ làm bạn với những cây cối, núi non tuyết phủ. Sự tĩnh lặng và cô đơn ấy có thể khiến con người ta phải chùn bước, thoái thác công việc của mình, như người hoạ sĩ già đã nói: “Buồn thì ai mà chả sợ? Nó như con gián gặm nhấm người ta? Tốt hơn là tránh nó để làm việc đời”. Thế nhưng người thanh niên ấy vẫn luôn một lòng vì công việc của mình bất chấp cả khó khăn, thử thách, cả nỗi cô đơn “thèm người” tới cùng cực!

Ở anh thanh niên, người ta có thể nhận thấy ngay anh là một con người yêu nghề, luôn hết mình vì công việc. Nếu không tại sao một người con trai chỉ mới 27 tuổi lại chấp nhận nhận công tác tại một nơi “bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo”, không một người làm bạn cùng? Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày”. Đó là một công việc đòi hỏi sự chính xác cao trong khi thực hiện, đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm lớn với những khung giờ “ốp” bất thường. Có khi là “một giờ sáng”, người thanh niên ấy phải dậy trong cái “rét” tê tái của đỉnh Yên Sơn để thực hiện nhiệm vụ của mình. Thời tiết khắc nghiệt đến độ “Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy”. Nếu không phải là một con người hết lòng vì công việc, yêu nghề, say mê nghề thì chỉ cần như thế thôi cũng khiến người ta phải chán nản tới mức tuyệt vọng rồi!

Thế nhưng, người thanh niên trẻ ấy trong bốn năm làm việc chưa từng một lần quên đi công việc của mình vì sự cô đơn. Bởi anh luôn định nghĩa trong lòng rằng “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”. Với anh, công việc là một người bạn, là một người đồng hành với anh trong cuộc sống thường ngày. Vậy nên, anh không cô đơn, chưa từng cô đơn khi phải làm việc trên đỉnh Yên Sơn cao vời vợi này. Hơn thế, chàng thanh niên trẻ còn hiểu được ý nghĩa của công việc của mình, anh nói: “Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”. Chính vì thế mà người ta luôn thấy anh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Những giờ “ốp” luôn được anh thực hiện chính xác và nghiêm chỉnh. Và hơn thế, có một lần anh đã “góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng”. Điều đó đã khiến anh “bất ngờ” và “sống thật hạnh phúc”, bởi công việc của anh đã góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mình.

Ở người thanh niên đó, ta còn thấy một tình yêu cuộc sống luôn tràn trề và sự lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Sống một mình trên núi cao, nhưng anh biết tự tạo cho mình những niềm vui nho nhỏ như trồng hoa, nuôi gà, đọc sách, … Bước tới nơi làm việc của anh, người hoạ sĩ và cô kĩ sư trẻ đã phải trầm trồ trước vườn hoa rực rỡ như cầu vồng của anh. Và thêm đó, người thanh niên cũng không ngừng bồi đắp cho mình những tri thức và tâm hồn bằng việc đọc sách. Với anh, đọc sách cũng như được trò chuyện với con người, được thấu hiểu “lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.”. Luôn mang trong mình một tinh thần lạc quan, vui vẻ, anh biết sắp xếp cuộc sống của mình ngăn nắp và gọn gàng “Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách.”. Tất cả con người anh thu gọn lại trong cái không gian ấy, nó giản dị, trong ngần như chính người thanh niên trẻ đó vậy!

Người thanh niên trẻ 27 tuổi ấy còn khiến người ta phải mến thương vì sự chân thanh, hiếu khách, cởi mở của mình. Anh gửi biếu bác lái xe “củ tam thất mới đào thấy” vì “hôm nọ bác chẳng bảo bác gái vừa ốm dậy”. Ở trên trạm khí tượng, làm bạn cùng công việc nên anh luôn có cảm giác “thèm người”, “thèm” được trò chuyện. Chính vì thế, khi được gặp ông hoạ sĩ và cô kĩ sư, được giới thiệu lên nhà, anh đã “đỏ mặt” và “luống cuống”. Bởi anh vui quá, vui đến nỗi không thể làm chủ được cảm xúc của mình “chạy vụt đi”, “tất tả” trở về nhà hái hoa tặng khách, pha trà mời họ. Anh còn hào phóng tặng cho cô kĩ sư cả vườn hoa của mình “cô muốn lấy bao nhiêu nữa, tuỳ ý”. Đến khi người hoạ sĩ và cô kĩ sư ra về, anh còn tặng họ “cái làn” với “bao nhiêu là trứng”.

Và khi người hoạ sĩ già muốn vẽ tặng anh một bức hoạ, người thanh niên ấy lúng túng và khiêm tốn cho rằng “những người khác đáng vẽ hơn”. Anh cho rằng công việc của mình chỉ là một phần nhỏ nhoi, không xứng đáng so sánh với những người con người lao động khác như ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sapa hay anh kỹ sư vẽ bản đồ sét, …Người thanh niên trẻ hiện lên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa pa là một con người mang những phẩm chất đáng mến, vừa cởi mở, chân thành, khiêm tốn lại hết lòng vì công việc của mình mà không hề quản ngại khó khăn.

Bên cạnh hình tượng người thanh niên, Nguyễn Thành Long còn khắc hoạ tỉ mỉ hình ảnh của người hoạ sĩ già và cô kĩ sư trẻ.

Ông hoạ sĩ già, qua lời của bác lái xe là một người “hoạ sĩ lão thành”. Ông say mê với công việc của mình, không ngần ngại đi tìm cái đẹp, kể cả khi đã về già. Ông cũng luôn trăn trở với những suy tư của một người nghệ sĩ chân chính “Làm một bức chân dung, phác họa như ông làm đây, hay rồi vẽ dầu, làm thế nào làm hiện lên được mẫu người ấy? Cho người xem hiểu được anh ta, mà không phải hiểu như một ngôi sao xa? Và làm thế nào đặt được chính tấm lòng của nhà họa sĩ vào giữa bức tranh đó?”. Và khi bắt gặp chàng thanh niên trẻ trên Yên Sơn này, ông lại càng băn khoăn hơn nữa về công việc của mình làm sao để “đặt được chính tấm lòng của nhà hoạ sĩ” vào bức tranh, để người xem hiểu cái đẹp mà ông muốn truyền tải. Đó là sự thử thách và ông – người hoạ sĩ già “chấp nhận sự thử thách”.

Còn về cô kĩ sư, cô là hiện thân của tuổi trẻ, của sức sống mãnh liệt. Cô chỉ vừa mới đỗ kĩ sư và tự nguyện “đi nhận việc ở Ti Nông nghiệp Lai Châu”. Trước khi gặp người thanh niên ấy, cô gái còn băn khoăn nhìn đời, cô chưa hiểu được hướng đi của mình trong cuộc sống này. Đến khi gặp được người thanh niên ấy, cô mới “bàng hoàng” và nhận ra rằng cô đã “hiểu thêm về cuộc đời”, về “thế giới của những con người như anh và về con đường cô đang đi tới”. Chính anh đã giúp cô có thêm niềm tin vào sự lựa chọn của mình, thêm tin vào con đường mình chọn.

Cuối cùng là hình ảnh của bác lái xe. Bác là hiện thân của một người lao động yêu nghề, có trách nhiệm cao trong công việc. Chẳng thế mà bác đã lái xe suốt trên con đường này “ba mươi hai năm”, từ khi trước Cách mạng tháng Tám. Không chỉ vậy, bác lái xe còn là một con người cởi mở, là cầu nối của người thanh niên trẻ với mọi người, với cuộc đời.

Ở Lặng lẽ Sa Pa, người ta không thấy được sự kịch tính, cao trào như trong những truyện ngắn khác. Nét đặc sắc ở trong tác phẩm là chất trữ tình trong sáng được gợi lên từ cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng Sa Pa cũng như vẻ đẹp của những con người nơi đây. Với ngôn từ rất bình dị, nhẹ nhàng, gần gũi, Nguyễn Thành Long đã mang tới cho chúng ta câu chuyện về cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ giữa ba con người. Cuộc gặp gỡ tưởng chừng như quen thân đã lâu ấy để lại trong chúng ta những dư vị khó quên.

Câu chuyện Lặng lẽ Sa Pa viết về những con người bình thường, họ không có tên riêng, chỉ là những danh từ phiếm chỉ: anh thanh niên, cô kĩ sư, ông hoạ sĩ, … nhưng đã góp phần ngợi ca một cách đầy đủ nhất cuộc sống của những con người thầm lặng đang cùng nhau góp công xây dựng đất nước.

Nguyễn Thành Long là một cây bút truyện ngắn nhưng vẻ đẹp nghệ thuật không nằm ở những phát hiện sắc sảo – táo bạo xung đột mạnh mẽ mà nghiêng về tạo dựng chất thơ nhẹ nhàng trong trẻo lặng thầm, kín đáo nhưng vẫn có sức ngân vang sâu rộng lâu bền. Lặng lẽ Sa Pa tiêu biểu cho phong cách dó của Nguyễn Thành Long. Truyện ra đời sau một chuyến đi thực tế kiểm nghiệm. Nguyễn Thành Long đã giới thiệu với chúng ta một vùng đất lặng thầm nhưng ở đó vẫn có những con người đang ngày đêm làm việc cống hiến quên mình cho quê hương đất nước.

“Lặng lẽ Sa Pa” khi mới đọc cái tên ta có cảm giác Nguyễn Thành Long đang viết về một nơi yên ắng, lạnh giá, hiu hắt hoặc nghĩ về một vùng đất nghỉ ngơi tham quan du lịch Sapa nhiều hơn. Nhưng điều kì diệu và bất ngờ là trong cái lặng lẽ của Sa Pa vẫn vang lên những nhịp sống sôi động trong sáng, tuổi trẻ, vẫn lung linh những sắc màu và lan toả ấm áp lòng người. Nơi ấy đang bừng dậy sức sống của những con người, những tấm lòng đang sống, cống hiến làm việc âm thầm lặng lẽ cho quê hương đất nước. Đó là những con người sống đẹp, có ích cho đời, có lý tưởng ước mơ, niềm tin yêu vững bền vào nghề nghiệp, kiến thức, trình độ, khoa học mà nhân vật anh thanh niên là hiện thân vẻ đẹp đó.

Nhân vật anh thanh niên, ở tuổi đời hai mươi bảy vừa rời phồn hoa, đô thị đông đúc, anh lên công tác ở đỉnh núi Yên Sơn (Sa Pa) ở độ cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm mây mù tuyết phủ, suốt ngày làm bạn với núi đá rừng cây. Cái yên ắng, yên lặng tĩnh mịch đến ghê sợ để khiến cho người ta thoái thác nhiệm vụ rời bỏ vị trí nhưng theo tiếng gọi nghề nghiệp và tình yêu cuộc sống, công việc, anh đã tự nguyện gắn bó mình với nghề nghiệp khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Công việc là như vậy nhưng điều kiện làm việc là ngoài trời, kỹ thuật máy móc lại thiếu thốn đơn giản, thô sơ. Cả ngày nắng cũng như ngày mưa hay lúc giá rét lạnh buốt xương, anh vẫn phải lên “ốp” đúng giờ, ghi chép đầy đủ chính xác để bảo vệ cơ quan cấp bộ.

Thế nhưng tất cả những sự vất vả, khó nhọc, thiếu thốn với anh nào có kể gì, thấm tháp gì đâu so với sự lạnh lẽo buồn cô đơn đến “thèm người”. Ở chốn rừng sâu hoang vu vắng lặng, anh chỉ biết làm bạn với chim kêu vượn hót. Xuất phát từ lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm tự giác, ý thức được nhiệm vụ của tuổi trẻ: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Ở anh còn có một tấm lòng nhiệt tình say mê nghề nghiệp, nghiên cứu, sáng tạo và luôn tìm thấy niềm vui từ công việc. Anh từng tâm sự: “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi”.

Ngoài là người có học thức, có trình độ, anh thanh niên lại còn có một tâm hồn trong sáng, cao đẹp, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu nơi mình gắn bó, làm việc bằng cách tự tạo ra niềm vui từ công việc hiện thực – đẩy lùi buồn tẻ cô đơn như đọc sáng – nghiên cứu – trồng rau – trồng hoa, nuôi gà, cải thiện cuộc sống. “Thèm người” anh thanh niên tìm cách gặp người, gặp bạn để trao đổi, trò chuyện thân mật và cởi mở, luôn quan tâm chu đáo đến người khác. Anh tự tạo ra một cuộc sống ngăn nắp, khoa học, một thói quen chủ động trong mọi tình huống và công việc. Trong giao tiếp ở anh thanh niên toát lên một phong cách, một vẻ đẹp trong phong cách lời ăn tiếng nói khiêm tốn, vui vẻ, chân tình, lịch sự luôn biết sống vì mọi người.

Có thể nói ở anh thanh niên mang một vẻ đẹp trong sáng của người thanh niên thời đại mang trong mình những hiểu biết về tri thức, sống tận tụy, yêu nghề, yêu đời, hiểu được việc làm và chỗ đứng của mình từ đó mà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ở anh còn toả sáng và sưởi ấm cho bao tâm hồn khác dẫu chỉ một lần gặp gỡ ngắn ngủi cho những người đến Sa Pa.

Qua lời kể của anh thanh niên, ông kỹ sư nông nghiệp ở vườn ươm su hào và ông kĩ sư nghiên cứu bản đồ chống sét đều là những người sống lặng thầm trên mảnh đất Sa Pa mà lao động cần mẫn, say mê, quên mình vì mục đích chung của mọi người. Họ đang làm nên cái “lặng lẽ” mà ngân vang sôi động ở Sa Pa.

Bác lái xe trong vai người dẫn truyện là điểm dừng cho mọi cuộc gặp gỡ, tình cảm nảy sinh tốt đẹp trong cuộc gặp gỡ đặc biệt là trong 30 phút ngắn ngủi giữa ông họa sĩ và cô kỹ sư đã để lại trong tình cảm những con người đối với Sa Pa là một kỉ niệm tốt đẹp. Bác là người am hiểu anh thanh niên hơn ai về cuộc sống, sinh hoạt của anh và chính bác đã tạo ra cho anh thanh niên những niềm vui về tinh thần, đẩy lùi sự cô đơn, buồn vắng. Ông họa sĩ là nhân vật hoá thân của nhà văn, người xem đây là một chuyến đi may mắn trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Còn đối với cô kĩ sư trẻ, cô đã phát hiện ra nhiều điều mới mẻ trong chuyến đi đầu đời giúp cô nhận thức về tình yêu nghề nghiệp cuộc sống vững tin hơn trong sự lựa chọn của mình. Người ta gọi đây là những tâm hồn đồng điệu đến với Sa Pa.

Truyện có một tuyến nhân vật, không có biến cố xung đột kịch tính. Các nhân vật đều dưới những cái tên chung, có cuộc sống và công việc khác nhau khiến mọi người sa vào đó đều có bóng dáng công việc của mình. Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, giàu chất thơ mượt mà như ý nghĩa nhan đề của chính câu chuyện. Truyện ngắn như một bức tranh lung linh kì ảo đằm thắm, ấm áp tình người sâu lắng trong từng bức tranh thiên nhiên.

“Lặng lẽ Sa Pa” viết về con người bình thường, nhịp sống bình thường. Nhưng phía sau nhịp sống bình thường ấy là những âm vang âm sắc cuộc đời. Nguyễn Thành Long đã góp một tiếng nói nhỏ nhẹ để ngợi ca cuộc sống và tái hiện một cách đầy đủ những vẻ đẹp của con người, có năng lực trình độ, nhiệt thành và hăng say cách mạng trên mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một truyện ngắn hay. Với cốt truyện đơn giản xoay quanh một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sapa, đã để lại trong lòng người đọc một niềm sung sướng, thú vị. Vì thế có ý kiến cho rằng:

“Đọc truyện’’ Lặng lẽ Sa Pa “của nguyễn thành Long tuổi trẻ chúng ta cảm nhận được bao điều bổ ích và thú vị:Cuộc đời thật đẹp và đáng yêu. Chung quanh ta có biết bao nhiêu con người đẹp, tâm hồn họ, việc làm của họ làm ta cảm phục,kính yêu.

Truyện lặng lẽ Sapa “gần như không cốt truyện. Một anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu và sống đơn độc trên đỉnh Yên Sơn cao hai nghìn trăm mét. Công việc của anh bình thường nhưng vô cùng quan trọng góp phần phục vụ cho sản xuất và chiến đấu. Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ già,cô kĩ sư trẻ với anh đã làm nổi bật mẫu người lí tưởng và để lại một cuộc chia tay đầy lưu luyến.

Cuộc đời của anh thanh niên cũng như ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ đo xét trong truyện thất đẹp và đáng yêu.

-Anh thanh niên còn rất trẻ vậy mà chấp nhận một cuộc sống lẻ loi cô độc trên đỉnh núi cao quanh năm chỉ làm bạn với cỏ cây, mây mù SaPa. Anh biết tự tạo cho mình có một có một cuộc bình thường:Trồng hoa, nuôi gà, đọc sách. Mặt dù ở môt nơi quanh năm vắng bóng người nhưng vẫn làm tròn nhiệm vụ một cách hoàn hảo, bởi vì anh có tinh thần trách nhiệm, ý thức vai trò của người thanh niên đối với đất nước, với con người.

– Ông kĩ sư vườn rau SaPa với công việc lặng thầm tưởng như bình thường nhưng lại có sức đóng góp cao: Thụ phấn nhân tạo cho su hào được to hơn, ngọt hơn để phục vụ cho đời sống con người.

– Người cán bộ khoa học nghiên cứu xét đã 11 năm ròng chờ xét để hoàn thành bản đồ xét hầu tìm tài nguyên cho đất nước.

Đó là những con người sống làm việc, cống hiến hết sức mình cho đời, cho nhân dân. Đúng như Nguyễn Thành Long đã nhận định: Trong cái lặng im của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước.

Trong cuộc sống hôm nay,giữa thời kỳ kinh tế thị trường, những mẫu người lý tưởng ấy thật hiếm. Nếu như ai cũng biết suy nghĩ và làm việc như vậy thì đáng quý biết bao.

Hình ảnh những con người ở Sa Pa thật đáng để mọi người đang bon chen giành giật, vun vén cho quyền lợi cá nhân mình đều suy nghĩ.

Những con người ấy đã tạo thành cái thế giới của con người miệt mài lao động trong lặng lẽ mà khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của mọi người.

Thế nào là hạnh phúc? Làm thế nào để diễn tả một cách chân thực và giản dị cảm nhận về hạnh phúc? Làm thế nào để lột hiện được chân dung một con người đang hạnh phúc? Và nữa, nếu nhà văn đã chỉ ra một cách đúng đắn hạnh phúc là gì và một con người đang hạnh phúc là như thế nào thì điều gì sẽ là mấu chốt kêu gọi sự đồng cảm của biết bao người đọc?

Một nét thôi, Nguyễn Thành Long đã khẳng định như vậy, như trong một bức kí họa, người họa sĩ phải có được một họa tiết làm bật lên nét hồn cốt của nhân vật, để khi nhìn vào bức họa đó, người khác phải nảy sinh những suy nghĩ về anh ta và cảm nhận được những điều anh ta suy nghĩ. Nếu anh ta đang hạnh phúc, thì theo đó, tác phẩm phải gieo vào lòng người đọc ấn tượng đẹp đẽ, niềm vui ấm áp và tin yêu vào cuộc sống xuất phát từ cội nguồn cảm xúc và lý tưởng sống của anh ta. Một tác phẩm làm được trọn vẹn điều này như Lặng lẽ Sa Pa là vô cùng hiếm. Bởi trong tác phẩm, không chỉ có một hai nhân vật chính có niềm yêu sống mà tất cả mọi người đều là những người yêu sống. Bởi không chỉ niềm yêu sống ấy vút lên trong những khát vọng cao vợi mà nó lan tỏa khắp nơi trong cuộc sống bình dị hàng ngày. Nguyễn Thành Long đã hòa lòng mình trong từng rung động ấy, để trái tim rung lên với niềm hạnh phúc nơi này, lặng lẽ nhưng tràn đầy.

Có biết bao người đã từng qua Sa Pa. Đã có biết bao người đã từng ước muốn đến Sa Pa. Rất nhiều trong số đó, hiển nhiên, trong cảm thức thông thường, coi Sa Pa là vùng đất đẹp, lí tưởng để nghỉ ngơi. Nhưng đến với tác phẩm của Nguyễn Thành Long, điều tưởng như hiển nhiên đã thay đổi. Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Những con người ấy là ai? Anh kĩ sư làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, ông kĩ sư ở vườn sau, đồng chí nghiên cứu khoa học thiết lập bản đồ sét,… Đấy là những con người trực tiếp sinh sống ở nơi này. Bổ trợ vào đó là bác lái xe, từng thân hành lên trạm khí tượng để tìm anh thanh niên “thèm người”. Và lần này, là ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ, một người đi chuyến thực tế gái già và một người vừa mới ra trường lần đầu tình nguyện lên miền núi công tác. Cả hai đã lên thăm ngôi nhà của anh thanh niên làm công tác khí tượng, đem niềm vui đơn sơ đến với những người cắm chốt ở vùng hẻo lánh. Câu chuyện vỏn vẹn có ngần ấy người, kéo dài cũng chừng vỏn vẹn một giờ đồng hồ, một nửa cho câu chuyện từ “trạm rừng” sau cầu cây số bốn giữa bác tài và hai hành khách, phần còn lại cho cuộc gặp gỡ với anh thanh niên làm khí tượng. Nhưng qua những đối thoại, suy ngẫm của họ, cuộc sống ở nơi này đã hiện lên một cách sống động, tỉ mỉ. Có thể nói, chỉ với chừng ấy thời gian, với chừng ấy sự gặp gỡ, như có một giao cảm giữa những con người lần đầu tiếp xúc, người này đã trở thành chất xúc tác để người kia bộc lộ tất cả vẻ đẹp chiều sâu tâm hồn. Như vườn hoa của anh thanh niên làm công tác khí tượng, với hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong,… mỗi người giống như một loài hoa đẹp rực rỡ tỏa hương sắc dưới trời Sa Pa.

Người đầu tiên có được niềm vui là cô kĩ sư trẻ. Lần đầu ra khỏi Hà Nội đi nhận việc tận Ty Nông nghiệp Lai Châu, bỏ lại sau lưng cuộc đời chật hẹp, những rung động non tơ còn nhiều nhầm lẫn, bước vào cuộc sống mới tinh, bát ngát, ngay từ chuyến xuất hành đầu tiên, cô đã có được sự chia sẻ từ người bạn đồng hành già. Ông họa sĩ đã chăm chút và hứa đưa cô đến tận nơi công tác như “một ông bố thực sự”. Nhưng điều làm cô cảm kích hơn cả, là với sự nhạy cảm riêng có của người nghệ sĩ, ông họa sĩ già đã nhận ra tâm trạng của cô, động viên khích lệ mà như gieo vào lòng cô định hướng, lẽ sống và niềm tin. Ông già vui tính ấy đã diễn tả một cách thanh thoát bằng lời những cảm nghĩ mơ hồ và lả tả mà cô đã cố gắng vẫn không thể định hình được. Đối với một người khao khát trời rộng, sự dứt bỏ một tình yêu nhiều khi lại nhẹ lòng. Đó là một chân lí thật giản dị, người ta phải biết quên đi những niềm vui, nỗi buồn, những ham thích nhỏ mọn để vươn tới những chân trời rộng mở, biết quên đi những cái nhỏ nhen, ích kỉ để hòa mình vào cuộc sống lao động và cống hiến vô tư, đẹp đẽ, không vụ lợi.

Cô đã cảm tình ngay với anh thanh niên làm công tác khí tượng bởi sự tương đồng trong lẽ sống mà cả hai đã lựa chọn. Nếu như lời giới thiệu của bác tài mới đủ gieo vào lòng cô một nỗi tò mò, thích thú, hoài nghi về một anh thanh niên với biểu hiện “thèm người” kì lạ thì vườn hoa, bó hoa anh tặng đã khiến cô dâng lên niềm yêu mến, cảm phục. Tình cảm ấy càng ngày càng tăng tiến khi cô bước chân vào căn nhà sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp. Đặc biệt, một giá sách với nhiều sách quý. Rất thường có người lên đây thăm mà anh phải chuẩn bị tươm tất đến vậy? Không hề, bởi anh đã thổ lộ một cách hồ hởi, chân thành niềm vui như con trẻ: Tôi không biết kỉ niệm thế nào cho thật long trọng ngày hôm nay. Bác và cô là đoàn khách thứ hai đến thăm nhà tôi từ Tết. Và cô là cô gái thứ nhất từ Hà Nội lên tới nhà tôi từ bốn năm nay. Để rồi, khi lắng nghe câu chuyện giữa người thanh niên và ông họa sĩ già, cô mới nảy ra một ý định táo bạo. Cũng như anh thanh niên, cô muốn tặng cho chàng trai kia một món quà làm kỉ niệm cho lần gặp gỡ. Bởi cuộc gặp gỡ tình cờ đã làm nảy nở trong cô “một ấn tượng hàm ơn khó tả”. Không phải chỉ vì bó hoa rất to sẽ đi theo cô trong chuyến đi thứ nhất ra đời. Mà vì một bó hoa nào khác nữa, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên mà anh cho thêm cô. Và vì một cái gì đó nữa mà lúc này cô chưa kịp nghĩ… Chiếc khăn mùi xoa cố tình bỏ lại đã bị anh thanh niên vô tình mang trả. Dự định gửi lại “một cái cỏn con gì rồi ra có thể biến thành một chút dịu dàng, một chút xíu dũng cảm trong cuộc sống” cho anh thanh niên đã vô tình đổ bể. Cái nắm tay cuối cùng của họ nói lên nhiều điều, trong sự òa vỡ của hai tấm lòng đồng điệu. Đó không phải là một sự từ biệt đơn thuần, trong cái hành động chìa tay ra của cô gái, cả hai trái tim trong trắng ấy đều hiểu ra rằng, trong cái nắm tay cẩn trọng, rõ ràng, họ đã nói với nhau tất cả trong im lặng. Tình cảm mà họ vừa kịp nhen lên trong lòng kia sẽ không bùng cháy, nó sẽ ấp iu như ngọn lửa nhỏ sưởi ấm lòng người trong những đêm núi rừng tê lạnh. Đó là ngọn lửa của lòng cảm thông, sự sẻ chia, của những trái tim cùng chí hướng đang vươn lên giữa cuộc đời này.

Để đến được niềm vui nho nhỏ, thậm chí cuối cùng phải trốn chạy, không dám đối mặt với niềm vui quá lớn và đột ngột, khi không dám đưa tiễn hai người bạn mới xuống tận dưới xe dù giờ “ốp” chưa đến, anh thanh niên đã phải biết bao lần cố gắng. Có thể coi sự rung động trong lòng cô gái và những ý nghĩ nảy nở trong đầu ông họa sĩ là món quà quí giá bù đắp cho lòng nhiệt thành, sự chân tình và những khát vọng tưởng chừng như vô cùng lạ lẫm mà hết sức con người của anh thanh niên. Thèm người, bác lái xe đã nhấn mạnh vào đặc điểm “kì dị” nhất ấy của anh ta khi giới thiệu cho ông họa sĩ già và cô gái trẻ. Nhưng cái đặc điểm dị kì ấy lại có một sức hút đặc biệt. Bởi nó đáng yêu, thậm chí, phần nào đó đáng thương. Ai lại không thể dâng lên niềm xót thương một thanh niên phải vần cả khúc cây ra chặn đường hòng kiếm cớ dừng xe cho có người nói chuyện, cho được nghe thấy những tiếng người, nhìn thấy những con người đang hoạt động, huyên náo? Song nếu đó mới chỉ là dấu ấn để người ta phải “xúc động, tò mò” thì những cử chỉ khi anh xuất hiện khiến người ta cảm mến ngay được. Đó là sự chu đáo, chỉ nghe thấy bác tài bảo bác gái ốm anh đã đi đào tam thất mang biếu; vẻ hồn nhiên, mừng quýnh khi nhận sách bác tài mua hộ mà vẫn không quên tranh thủ ngắm nhìn hành khách cho đỡ nhớ người; rồi cả thẹn, đỏ mặt luống cuống khi bác tài giới thiệu và gợi ý anh mời hai người bạn mới lên thăm nhà.

Sau phút ban đầu bỡ ngỡ ấy, nếu vườn hoa của anh tạo được cảm tình với cô gái trẻ thì cái cách nói chuyện như báo cáo công việc để tranh thủ thời gian của anh lại tạo được cảm tình sâu đậm trong lòng người họa sĩ già. Ngay sau cái phút báo cáo liến thoắng ấy, câu chuyện bỗng nhiên chững lại. Một cảm giác mới mẻ, lạ lẫm xâm chiếm tâm hồn người họa sĩ từng đã tưởng dạn dĩ với cuộc đời. Nguyễn Thành Long đã lấy ra những câu văn thấm thía: Anh thanh niên đang nói, dừng lại. Và tại sao họa sĩ cảm giác mình bối rối? Vì nhác thấy người con gái nhỏ nhẻ, e lệ, đứng giữa các luống đơn, không cần hái hoa nữa, ôm nguyên bó hoa trong tay, lắng tai nghe? Vị họa sĩ già đã bắt gặp một điều thật ra ông vẫn ao ước được biết, ôi, một nét thôi đủ khẳng định tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị một chuyến đi dài.

Cái bừng ngộ của nghệ thuật là khi ấy. Cũng có thể coi đấy là cái bừng ngộ của tâm hồn. Khi người ta nhận ra được chân lí cao vời của nghệ thuật, nhận ta được vẻ đẹp giản dị và đằm thắm của lòng người. Anh thanh niên đã sống say mê một đời sống cống hiến vô tư, không toan tính. Anh đã sống một cuộc sống giản dị nhưng cao đẹp từ việc chiến thắng các thói quen lười nhác của chính bản thân mình. Cuộc sống lao động của anh trên đỉnh Yên Sơn cần một kỉ luật lao động nghiêm ngặt và anh đã thực hiện nó nghiêm túc như một thói quen sống. Đó là lối sống của anh, trách nhiệm và niềm vui của anh. Người ta bảo anh cô đơn nhất thế gian, rằng anh “thèm người” đến não nề, anh chứng minh cho mọi người rằng thực tế không phải thế. Rằng chỉ những ngày đầu anh cảm thấy thế thôi chứ sau này anh ngẫm nghĩ ra thì không hẳn sự thực đã là như vậy. Công việc của anh gắn kết với biết bao nhiêu người. Bạn bè của anh là biết bao cây cối xung quanh, bao người bạn bất ngờ trong trang sách. Nhưng không vì thế mà anh không cần đến những con người thực, những người thỉnh thoảng ghé qua Yên Sơn này thăm anh. Anh không thèm người, mà anh thèm lòng người, những tấm chân tình của con người với con người. Đó là điều mà anh đã tâm niệm, đã suy nghĩ và muốn bộc bạch: Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mết. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: cái nhớ xe nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng…

Hóa ra, vẻ trẻ trung và cả thẹn của chàng thanh niên chỉ là vẻ bề ngoài, ẩn giấu trong hình hài non tơ ấy là một tâm hồn già dặn. Nó làm lóe lên trong trí não người họa sĩ già ước mong được vẽ tác phẩm cho cả cuộc đời mình. Bởi cùng với khát vọng khắc họa chân dung anh thanh niên, chính những phát hiện về con người anh khiến ông phát hiện ra những chân lí về nghệ thuật. Sáng tạo nghệ thuật đối với ông là để “yêu thêm cuộc sống”, là để “đặt chính tấm lòng của nhà họa sĩ vào giữa bức tranh”. Nghệ thuật phải giao cảm với cuộc đời. Mà sự thật là như thế, nét bút của ông chỉ có thần khi thấu thị tấm lòng của anh thanh niên. Anh ta càng khiêm tốn bao nhiêu, càng không đặt mình là tâm điểm cuộc sống nơi này bao nhiêu thì vẻ đẹp của anh ta càng ngời rạng trong bức chân dung của người họa sĩ. Tất cả làm cho ông họa sĩ, từ việc sáng tạo của mình, nhận ra quy luật của cuộc sống; từ bàn tay cầm cọ của mình, hiểu thấu được cái lẽ huyền diệu của đấng sáng tạo mà bấy lâu ông từng ngộ nhận. Người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người. Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác, có sẵn mà chưa rõ hay chưa được đúng. Ví dụ như quan niệm về cái đất Sa Pa mà ông quyết định sẽ chỉ đến để nghỉ ngơi giai đoạn cuối trong đời, mà ông yêu nhưng vẫn còn tránh. Hóa ra, Sa Pa không lặng lẽ. Sa Pa sục sôi bởi cuộc sống và khát vọng của con người.

Có thể nói, trong cái lặng lẽ của mây trời Sa Pa, Nguyễn Thành Long đã vẽ nên chân dung của những niềm yêu sống, luôn rạo rực, luôn sinh sôi. Anh thanh niên làm công tác khí tượng, cô kĩ sư trẻ, ông họa sĩ già, cả bác lái xe, đều là những con người hạnh phúc. Họ hạnh phúc bởi họ được làm những việc mà họ yêu thích, tiếp xúc với những con người mà họ cảm mến, phấn đấu cho lí tưởng mà họ lựa chọn. Cả tác phẩm là một niềm vui, cái lặng lẽ của thiên nhiên cũng như cái im lặng của con người không khuất lấp được niềm vui rạo rực, sinh sôi ấy. Ngược lại, chính trong cái lặng lẽ tưởng như đang bao trùm, cái mạch sống tươi mới càng có cơ hội vươn lên, rì rào trỗi dậy. Sẽ có người hoài nghi về sự thật được thể hiện trong tác phẩm, sẽ có người cho rằng Nguyễn Thành Long đã lí tưởng hóa cuộc sống. Cuộc sống có nhiều âu lo và khúc mắc hơn thế, đâu dễ dàng gì mà người ta có thể vui tươi mà vượt qua khó khăn một cách dễ dàng như vậy. Nhưng phải đặt tác phẩm vào trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ mới thấy hết được sức sống kỳ vĩ đến ngạc nhiên của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam.

Lặng lẽ Sa Pa được sáng tác năm đầu thập kỉ 70 của thế kỉ trước, khi mà cả miền Bắc đang hồ hởi trong không khí xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Tất cả cho tiến bộ xã hội, tất cả cho miền Nam ruột thịt không chỉ là những khẩu hiệu cổ vũ, hô hào chung chung, nó ngấm vào trong ý thức của từng người dân, nhất là thế hệ trẻ. Nếu bạn đọc để ý, sẽ thấy tác phẩm hai lần nhắc đến tư cách đoàn viên của hai kĩ sư trẻ. Một lần là cô gái, trong tâm niệm của mình, khẳng định ý hướng sẵn sàng đi công tác ở bất kì nơi đâu. Bởi cô nghĩ mình là đoàn viên, mang trong mình ý thức của thanh niên xung kích. Lần thứ hai là chàng trai, trong lời hỏi thăm cô gái: Cũng đoàn viên, phỏng? Bởi với họ, đã là đoàn viên, đã là thế hệ tuổi trẻ của đất nước thì họ tự hào, vinh dự được đứng đầu sóng, ngọn gió, được đến mọi miền Tổ quốc phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc. Đấy là lí tưởng sống của một thời, là phút thăng hoa của những tâm hồn chân chất, giàu ước mơ, khát vọng và ý thức trách nhiệm. Ngày nay, có thể vì hoàn cảnh sống đã thay đổi, người ta không phải sống trong những áp lực khắc nghiệt của đời sống chiến tranh, nên ý thức xả thân vì cộng đồng có giảm nhẹ và đòi hỏi về cá nhân có phần trội át. Song không vì thế mà ý thức tự nhiệm ấy mất đi, nó phát triển theo một đường hướng khác, tuy không tạo thành những cơn phấn khích tập thể như trước, nhưng âm thầm bộc lộ trong ý thức phấn đấu phát triển trọn vẹn tất cả năng lực của mình. Vấn đề chính với thanh niên hiện nay nằm ở chỗ phải nhân rộng những ý thức chiếm lĩnh như thế. Thanh niên Việt Nam phải biết nhìn về quá khứ, ở thế hệ của những chàng trai, cô gái kĩ sư trẻ kia, những con người gối đầu lên những trang sách nóng bỏng ý chí cống hiến, hy sinh. Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người… Câu nói của Pavel Corsaghin ngày nào, giờ đây đang cần chính các thanh niên viết tiếp: sự nghiệp phát triển trọn vẹn các năng lực người, vì hòa bình, công lí và tiến bộ xã hội. Nó làm thành tương lai cho thanh niên Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam.

Đọng lại khi đọc Lặng lẽ Sa Pa là niềm vui đang cựa mình trỗi sống, là khát vọng được cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước, bằng sự nghiệp giản dị mà cao cả của mình. Hạnh phúc nảy mầm mỗi khi con người ý thức được phận vị của mình và hoạt động tự giác, hăng say với tất cả những khả năng mà mình có được. Qua một cảnh ngộ gặp gỡ, với mấy con người giản dị, trong truyện ngắn lãng mạn diệu kì, Nguyễn Thành Long đã khơi gợi trong lòng người đọc biết bao suy nghĩ. Lặng lẽ và thâm trầm, hào hứng và sôi nổi, ngỡ ngàng và lắng đọng, truyện ngắn đã gieo vào lòng người đọc cảm nhận sâu sắc về hạnh phúc. Và sự lan tỏa của hạnh phúc.

Nguyễn Thành Long là một trong số những nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam nói chung và văn xuôi hiện đại nói riêng. Bằng lối viết nhẹ nhàng, giàu tình cảm cùng ngôn ngữ trong sáng, giàu chất thơ và những hình tượng nhân vật độc đáo, những sáng tác của Nguyễn Thành Long về cuộc đấu tranh chống Mĩ cứu nước của dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc luôn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, sáng tác năm 1970 là một trong số những sáng tác tiêu biểu của ông.

Trước hết, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên Sa Pa đẹp, thơ mộng và tràn đầy sức sống. Bằng ngòi bút giàu chất thơ, tác giả Nguyễn Thành Long đã tái hiện lại khung cảnh Sa Pa thật tuyệt “Nắng bất ngờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên những vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe,…” Bằng thủ pháp liệt kê kết hợp với biện pháp nhân hóa, tác giả Nguyễn Thành Long như đã làm hiện lên trước mắt người đọc những nét đặc trưng, độc đáo rất riêng của mảnh đất Sa Pa. Tất cả cảnh vật như mang cái hồn điệu, dáng vẻ của Sa Pa và không gian rộng lớn ấy như bừng sáng, lung linh, rực rỡ.

Và để rồi, trên cái nền của thiên nhiên Sa Pa thơ mộng ấy, nhà văn đã khắc họa thành công chân dung các nhân vật với những vẻ đẹp đáng trân trọng. Trước hết đó chính là nhân vật anh thanh niên – nhân vật chính của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. Nhân vật anh thanh niên hiện lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đầu tiên, ở anh thanh niên, ta thấy hiện lên một con người yêu nghề, luôn đam mê và hết mình vì công việc. Có lẽ vì yêu nghề nên anh thanh niên chấp nhận làm việc trong một điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt và đầy sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khí hậu. Anh sống và làm việc “trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo”. Ở cái độ cao ấy, lại sống một mình nên với anh, công việc cũng chính là bạn của mình, “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi” và có lẽ bởi vậy nên anh luôn tìm thấy niềm vui, tìm thấy ý nghĩa trong chính công việc ấy – “báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Với tình yêu và niềm đam mê với công việc, anh luôn hoàn thành công việc của mình một cách xuất sắc. Dẫu trong hoàn cảnh nào, anh vẫn báo kết quả công việc về nhà đúng giờ, mỗi đêm bốn lần.

Thêm vào đó, anh thanh niên còn là một người luôn tràn đầy tình yêu cuộc sống và sống lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Sống một mình trên đỉnh núi cao, chắc hẳn nhiều người nghĩ anh sẽ sống cô đơn lắm, buồn lắm nhưng với anh lại hoàn toàn khác bởi lẽ anh luôn biết cách tự tạo ra niềm vui cho bản thân mình bằng những công việc rất giản dị, đời thường như trồng đủ các loài hoa với muôn vàn màu sắc quanh ngôi nhà của mình, nuôi gà, nuôi ong,… Cùng với đó, anh còn chăm chỉ đọc sách để tìm niềm vui cho bản thân và làm tăng thêm vốn sống, vốn hiểu biết của mình. Đồng thời, anh còn là người biết sắp xếp căn phòng, cuộc sống của mình một cách ngăn nắp, gọn gàng – “một căn nhà ba gian sạch sẽ khiến ông họa sĩ phải trầm trồ và bất ngờ”.

Không dừng lại ở đó, anh thanh niên còn là một người chân thành, cởi mở và giàu lòng hiếu khách. Trong anh thanh niên luôn hiện hữu một “nỗi thèm người”, muốn được trò chuyện cùng mọi người và vì vậy nên anh đã lấy khúc gỗ để chắn ngang đường để dừng những chuyến xe đi qua nơi đây. Khi gặp được người, anh vui mừng không xiết đến nỗi không thể làm chủ được cảm xúc của mình “anh chạy vụt đi, cũng tất tả như khi đến” hay “người con trai nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nói”. Thêm vào đó, anh rất cởi mở, hiếu khách và quan tâm đến tất cả mọi người, cho dù đó là những người mới chỉ lần đầu gặp gỡ. Khi có khách đến nhà, anh hồ hởi pha trà, rồi lúc họ ra về anh còn tặng họ hoa, trứng và hoa quả để ăn dọc đường. Anh còn tặng cho bác lái củ tam thất cho vợ bác vì anh tình cờ biết được việc vợ bác bị bệnh.

Cuối cùng, anh thanh niên là một con người khiêm tốn. Mọi người, ai cũng biết, công việc của anh góp phần phục vụ cho sản xuất và lao động, tạo nên những bước chuyển mình cho đất nước mình. Nhưng anh lại cho rằng đó là công việc rất nhỏ bé, đơn sơ và giản dị. Chính vì vậy mà khi ông họa sĩ muốn được vẽ anh thì anh từ chối, e ngại và muốn được giới thiệu người khác mà với anh họ xứng đáng hơn mình.

Đầu tiên không thể không nói đến đó chính là nhân vật ông họa sĩ. Mặc dù không phải là nhân vật chính của tác phẩm nhưng ông họa sĩ lại là nhân vật giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi ông mang điểm nhìn trần thuật của tác giả. Suốt cả câu chuyện, dường như, tác giả đã đặt mình vào vị trí của ông để quan sát và cảm nhận. Đồng thời, ở ông họa sĩ cũng hiện lên nhiều vẻ đẹp. Ông là một người họa sĩ chân chính, nghiêm túc, say mê và không ngần ngại khó khăn để đi tìm cái đẹp “Hơn bao nhiêu người khác, ông biết rất rõ sự bất lực của nghệ thuật, của hội họa trong cuộc hành trình vĩ đại của cuộc đời… Đối với chính nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó, nặng nhọc và gian nan”. Thêm vào đó, khi gặp anh thanh niên, chứng kiến công việc và cuộc sống của anh, ông họa sĩ xúc động và bối rối còn trước vẻ đáng yêu của anh, ông lại thấy “nhọc quá” vì những điều người ta nghĩ về anh. Những cảm xúc, suy tư của ông họa sĩ về nhân vật anh thanh niên đã góp phần cho chân dung nhân vật anh thanh niên hiện lên sáng rõ.

Cùng với ông họa sĩ, nhân vật cô kĩ sư cũng là nhân vật để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc. Cô chính là hiện thân, là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ. Cuộc gặp gỡ bất ngờ cũng những câu chuyện, những lời tâm sự của anh thanh niên đã khiến cô cảm thấy “bàng hoàng”, giúp cô hiểu hơn về anh, về những con người như anh và có lẽ đó chính là động lực, là niềm tin để cô có thể tự tin vững bước trên con đường cô đã lựa chọn.

Cuối cùng, đó chính là nhân vật bác lái xe. Nhân vật bác lái xe xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm và cũng là người tạo ra cuộc gặp gỡ bất ngờ, thú vị giữa anh thanh niên, ông họa sĩ và cô kĩ sư. Bác là một người yêu nghề và có trách nhiệm với công việc, bác đã làm nghề lái xe ba mươi năm và có vốn hiểu biết phong phú về Sa Pa. Bác còn là một người niềm nở và cởi mở và có tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Sa Pa. Đồng thời, bác còn là cầu nối giữa anh thanh niên với miền xuôi, với cuộc đời – bác mua sách cho anh thanh niên, giới thiệu với anh những người bạn mới,…

Tóm lại, với cách xây dựng tình huống truyện tự nhiên, hợp lí, lời văn mượt mà, giàu chất thơ, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” đã khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động âm thầm, lặng lẽ trong công cuộc xây dựng xã hội mới.

Nguyễn Thành Long (1925- 1991; quê ở Duy Xuyên, Quảng Nam) chuyên viết về truyện ngắn và bút kí. Ông thành công hơn cả là ở những truyện ngắn và bút kí viết về cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc những năm 60- 70 thế kỉ XX. Nguyễn Thành Long là cây truyện ngắn- với một phong cách văn xuôi rất nhẹ nhàng, tình cảm, giàu chất thơ và ánh lên vẻ đẹp con người và mang ý nghĩa sâu sắc. Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa in trong tập Giữa trong xanh, giản dị, mộc mạc như một ghi chép về cuộc gặp gỡ những con người bình thường mà lắng đọng tình người.

Cốt truyện rất đơn giản, xoay quanh cuộc trò chuyện giữa ông hoạ sĩ với người thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn. Tình huống truyện là Cuộc gặp gỡ tình cờ giữa mấy người khách trên chuyến xe với anh thanh niên. Nhân vật chính là anh thanh niên. Anh được hiện ra qua lời giới thiệu của người lái xe và được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật ông hoạ sĩ và cô gái. Điểm đáng chú ý trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn này là mặc dù không sử dụng cách kể ngôi thứ nhất, nhưng truyện đã được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn và ý nghĩ của nhân vật ông họa sĩ. Vì vậy, dù không phải là nhân vật chính nhưng nhân vật ông họa sĩ có vị trí quan trọng trong truyện.

Tuy Lặng lẽ Sa pa có nhiều nhân vật, nhưng nhân vật chính là anh thanh niên. Truyện tập trung khắc họa nhân vật này qua cái nhìn và cảm nghĩ của các nhân vật khác, qua sự xuất hiện của anh trong cuộc gặp gỡ tình cờ mà ngắn ngủi với ông họa sĩ và cô kĩ sư. Nhân vật được xây dựng như một tranh chân dung. Là chân dung, nhân vật được hiện lên ở một số nét đẹp, nhưng chưa được xây dựng thành một tính cách hoàn chỉnh và hâu như chưa có cá tính.

Là nhân vật chính của truyện nhưng nhân vật này không xuất hiện ngay từ đầu mà chỉ hiện ra qua lời giới thiệu của người lái xe và qua cuộc gặp gỡ giữa các nhân vật khi xe của họ dừng lại nghỉ ngơi. Nhân vật ấy chỉ hiện ra chốc lát, đủ để các nhân vật khác kịp ghi nhận một ấn tượng, một ký họa về anh rồi dường như anh lại khuất lấp vào mây mù bạt ngàn và cái lặng lẽ muôn thuở của núi rừng Sa Pa. Nhân vật anh thanh niên hiện ra để mọi người cảm nhận được rằng: Trong cái im lặng của Sa Pa…, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Nhân vật anh thanh niên được tái hiện Anh thanh niên qua nhìn nhận, đánh giá của mọi người trở nên rõ nét và đáng mến biết bao.

Nhân vật này có nhiều nét đẹp để ta khâm phục. Trước hết là hoàn cảnh sống và làm việc quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây, mây núi và chỉ có một mình. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao, phải thức dậy lúc nửa đêm, đúng giờ “ốp” thì dù trời mưa tuyết giá lạnh thế nào cũng phải trở dậy ra ngoài làm công việc đã quy định. Nhưng cái gian khổ nhất là phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người – hoàn cảnh thật đặc biệt.

Điều giúp anh vượt qua được hoàn cảnh đó là ý thức trách nhiệm về công việc, lòng yêu nghề và lòng yêu cuộc sống. Anh thấy được công việc thầm lặng ấy là có ích cho cuộc sống, cho mọi người khi được biết là một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta. Anh có những ý nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với công việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”. Cuộc sống của anh không đơn điệu vì anh còn có niềm vui ngoài công việc – đó là niềm vui đọc sách, anh biết sắp xếp, tổ chức cuộc sống của người ở trạm khí tượng một cách ngăn nắp, chủ động: trồng hoa, nuôi gà, tự học, đọc sách.

Ngoài ra ở người thanh niên ấy còn có những nét tính cách và phẩm chất rất đáng mến nữa: cởi mở, chân thành quý trọng tình cảm, khao khát được giao lưu, trò chuyện với mọi người. Anh còn là người khiêm tốn, thành thực khi nhận xét về công việc và những đóng góp của mình.

Bên cạnh nhân vật anh thanh niên. Tác giả cũng chú ý tập trung khắc họa nhân vật ông họa sĩ và cô kĩ sư trẻ.

Ông họa sĩ qua lời giới thiệu của bác lái xe và ngay từ giây phút gặp gỡ đầu tiên, ông đã xúc động và bối rối. Vì họa sĩ đã bắt gặp một điều mà ông vẫn ao ước, nó khơi gợi một ý sáng tác. Ông muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký họa. Giá trị của tác phẩm chính là ở chỗ nó phải truyền tải được hiện thực cuộc sống, phản ánh cuộc sống nên người nghệ sĩ như ông phải khó nhọc.

Có thể nói người họa sĩ có những quan niệm rất tiến bộ về nghệ thuật chân chính. Ông là người lao động nghệ thuật thực thụ, thích khám phá và sáng tạo.

Còn cô kĩ sư trẻ, có lẽ đây là lần đầu tiên cô lên miền núi xa xôi, biết được những điều chưa từng có trong sách vở nên khi gặp gỡ anh thanh niên , nghe anh nói về bản thân và những người khác khiến cô “bàng hoàng”. Bàng hoàng vì cô khám phá thêm được những nét đẹp của những con người xung quanh cô, là cô đã hài lòng với những quyết định đúng đắn mà cô đã lựa chọn. Đó la sự bừng dậy của những tình cảm lớn lao, cao đẹp khi người ta gặp được những ánh sáng đẹp đẽ tỏa ra từ cuộc sống, từ tâm hồn người khác.

Nhân vật bác lái xe chính là người mở đầu cho câu chuyện và là nguyên cớ để các nhân vật chính có thể được gặp nhau. Bác lái xe có lời giới thiệu đặc sắc, hấp dẫn, khơi dậy được trí tò mò trong lòng ông họa sĩ và cô kĩ sư.

Nét nghệ thuật tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm chính là chất trữ tình. Nó toát lên từ những trang tả phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng của núi rừng Sa Pa qua cái nhìn của họa sĩ, toát lên từ vẻ đẹp của cuộc sống một mình giữa thiên nhiên lặng lẽ của anh thanh niên trong cuộc gặp gỡ tình cờ của ba nhân vật, nhưng để lại dư vị trong lòng mỗi người.

Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí. Văn Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng, tình cảm, thường pha chất kí và giàu chất thơ, thấm đẫm chất trữ tình và thường ánh lên vẻ đẹp của con người nên có khả năng thanh lọc làm trong sáng tâm hồn, khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống. “Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác năm 1970, trong chuyến đi thực tế của tác giả ở Lào Cai. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu ở đề tài viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Từ cuộc sống và công việc thầm lặng của anh thanh niên và biết bao con người khác, tác phẩm để lại trong lòng người những âm vang nhẹ nhàng, kín đáo mà bền bỉ, dài lâu.

Trước hết, cần hiểu, âm vang của tác phẩm văn học là những tác động sâu sắc của tác phẩm đến tâm hồn và nhận thức của người đọc, thôi thúc họ suy nghĩ, ước mơ, khao khát và hành động. Để tạo ra những âm vang chân thực, tác phẩm văn học phải chứa đựng cuộc sống, bằng sức mạnh của nghệ thuật biểu hiện, tác phẩm lan tỏa vào lòng người đọc và ở lại trong đó. Sự tác động ấy có thể tạo được hiệu quả tức thời, khiến người đọc phấn khởi, hào hứng; cũng có thể là tác động lâu bền, âm ỉ nuôi dưỡng những khát khao, ước, mơ, hoài vọng. Âm vang của tác phẩm văn học góp phần làm đẹp tâm hồn người đọc, khiến họ thêm tin tưởng vào cuộc sống, đồng thời khẳng định sức sống của văn học nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người.

Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long thực sự đã tạo nên được âm vang kì diệu đó. Trước hết là âm vang từ bức tranh Sa Pa xinh đẹp. Cảnh sắc thiên nhiên Sa Pa động lại trong lòng người cảm xúc lâng lâng, đầy thi vị.

Sa Pa hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Thành Long với ngôn ngữ điêu luyện đã trở thành một bức tranh đẹp, sống động, và đầy chất thơ. Đọc truyện của ông, người đọc không còn thấy Sa Pa có vẻ đẹp hoang dã, bí ẩn mà ngược lại, thiên nhiên nơi đây đi vào truyện của Nguyễn Thành Long với một cái nhìn dịu dàng, trong trẻo như một bức tranh thủy mặc làm cho người đọc không khỏi bâng khuâng, xao xuyến.

Theo bước chân của nhà văn, ta không khỏi ngỡ ngàng trước bầu trời xanh bao la. Mây ở đây hiện ra mang một vẻ đẹp kì thú: mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe làm cho không gian ở đây trở nên mát lạnh, mờ ảo.

Có một Sa Pa của những rặng đào, những đàn bò lang cổ đeo chuông đang thung thăng gặm cỏ, khung cảnh chỉ có thể thấy ở rừng núi. Có một Sa Pa của nắng, nắng đem lại cho Sa Pa một vẻ đẹp mới: rực rỡ và bất ngờ. Ánh nắng dường như sáng dần lên trong khung cảnh thiên nhiên. Cái nắng chói chang được Nguyễn Thành Long miêu tả “đốt cháy rừng cây” và cái nắng vào cuối buổi trưa lại gay gắt hơn “ánh nắng như phủ khắp, mạ bạc cả con đèo”. Ngòi bút miêu tả đặc sắc của Nguyễn Thành Long đã tôn lên vẻ đẹp rực rỡ của nắng Sa Pa: nắng bây giờ bắt đầu lên tới đốt cháy rừng cây, hừng hực như một bó đuốc lớn.

Advertisement

Qua sự miêu tả của nhà văn, hình ảnh những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng, những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng đã làm nổi vật lên vẻ đẹp rực rỡ của Sa Pa. Hoa ở Sa Pa thì muôn màu rực rỡ. Khi đọc đến đây, với cảnh đẹp như vậy, người đọc mang theo cảm nhận khao khát được đến với Sa Pa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nơi này. Có thể nói, thiên nhiên Sa Pa hiện lên đẹp thơ mộng, hư ảo và phải là người có con mắt nhìn tinh tế và chính xác, ngôn ngữ nghệ thuật giàu chất thơ mới có thể vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp như vậy.

Khung cảnh rất nên thơ và câu văn cũng đầy chất thơ. Khung cảnh mang vẻ đẹp bình yên, êm ả như không hề biết đến bom đạn, khói thuốc của chiên tranh. Dường như những thay đổi của cuộc sống không chạm được đến nơi đây. Nhan đề của truyện, thiên nhiên trong truyện cũng rất êm đềm, nhưng lặng lẽ mà không phẳng lặng, bình yên mà rất sống động.

Chỉ với vài nét chấm phá điểm xuyết, nghệ thuật nhân hóa, so sánh, tác giả đã khắc họa bức tranh thiên nhiên Sa Pa với vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng, hữu tình. Miêu tả bức tranh thiên nhiên bằng ngôn ngữ trong sáng, mỗi chữ, mỗi câu như có đường nét,hình khối, sắc màu. Văn xuôi truyện ngắn mà giàu nhịp điệu mang âm hưởng một bài thơ về thiên nhiên đất nước.

Đọc “Lặng lẽ Sa Pa”, mấy ai không yêu, không nhớ cái cảnh sắc vừa gần vừa xa, vừa thực vừa mơ, vừa mang cái vẻ thâm trầm của ngàn xưa cổ tích vừa rực rỡ, trẻ trung bởi sắc màu của muôn hoa, nghìn lá. Nhắc đến Sa Pa, chẳng mấy ai mà không muốn được một lần dạo bước non cao, ngắm nhìn trăm phương nghìn hướng cho thỏa đôi mắt và và tâm hồn. Những câu văn miêu tả theo tầng bậc, chân thực và gợi cảm của Nguyễn Thành Long quả thực đã khiến người ta thêm say mê và không ngừng thôi thúc con người lên đường khám phá.

Trên nền bức tranh thiên nhiên kì ảo ấy, Sa Pa còn đẹp thêm biết bao với những con người ngày đêm âm thầm làm việc quên mình. Qua “bức chân dung” (cả cuộc sống và những suy nghĩ) của người thanh niên, qua sự cảm nhận của các nhân vật khác (chủ yếu là ông họa sĩ) về anh và những người như anh, tác giả đã khẳng định trong cái lặng lẽ, vắng vẻ trên núi cao Sa Pa, nơi mà nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sự nghỉ ngơi, vẫn có bao nhiêu người đang ngày đêm làm việc miệt mài, say mê cho đất nước.

Anh quan niệm công việc là người bạn đồng hành với mình, chính vì thế cuộc sống của anh không bao giờ tẻ nhạt và buồn chán. Anh tâm sự: “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với bao anh em đồng chí dưới kia”. Con người đó cũng có quan niệm về hạnh phúc thật giản dị nhưng hết sức cao đẹp – đó là được lao động, được cống hiến sức mình cho đất nước. Vì thế, khi biết tin nhờ mình phát hiện đám mây khô mà không quân ta hạ được nhiều máy bay Mĩ, anh thấy mình thật hạnh phúc. Rõ ràng, được cống hiến cho khoa học là lí tưởng sống của anh.

Suy nghĩ của anh về cuộc sống cũng thật đẹp, thật sâu sắc. Không chỉ là người có suy nghĩ đẹp, anh còn là người biết hành động đẹp. Trong hoàn cảnh hết sức gian khổ, một mình sống vắt vẻo trên đỉnh Yên Sơn, làm bạn với rừng xanh, mây trắng, bão tuyết, sương rơi để đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, tham gia vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Dù không ai đôn đốc, kiểm tra, nhưng anh vẫn tự nguyện tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Công việc đòi hỏi phải thực hiện vào những thời khắc khó khăn như nửa đêm giữa mùa đông giá rét, nhưng bất kì trong hoàn cảnh nào, đến đúng thời điểm ấy là anh thức giấc, xách đèn đi ốp, xách máy đi đo, không bỏ sót một ngày nào, không quên một buổi nào, âm thầm bền bỉ suốt nhiều năm trời.

Nhưng khó khăn hơn tất cả đối với anh chính là vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt, tháng không một bóng người. Và anh đã vượt qua được bằng sự miệt mài, say mê trong công việc. Anh đã dùng tất cả thời gian, nhiệt huyết, tâm trí, sức lực cho nhiệm vụ được giao, rảnh một chút là anh lại lấy sách ra để trò chuyện. Từ những công việc lặng lẽ âm thầm đó, anh đã góp phần trực tiếp vào chiến thắng chung của quân và dân miền Bắc.

Đặc biệt, Nguyễn Thành Long đã khéo léo đưa vào truyện chi tiết anh thanh niên tặng cô gái bó hoa nhiều màu sắc sặc sỡ. Bó hoa ấy không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời Sa Pa mà nó còn là vẻ đẹp của cuộc đời mà anh thanh niên đã hào phóng tặng cho mọi người. Chi tiết ấy đã toát lên một chân lí: hãy sống đẹp, hãy quan tâm đến nhau, hãy đến với nhau bằng tất cả tấm lòng và tình cảm nhân hậu.

Chỉ bằng một số chi tiết và anh thanh niên chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc của truyện, nhưng tác giả đã phác hoạ được chân dung nhân vật chính với những nét đẹp về tinh thần, tình cảm, cách sống và những suy nghĩ về cuộc sống, về ý nghĩa của công việc. Anh thanh niên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người ở Sa Pa, là chân dung con người lao động mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trên miền đất của sương mù và cô đơn, còn có biết bao con người khác cũng đang ngày đêm âm thầm làm việc, cống hiến sức mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thông qua lời kể của anh thanh niên, ta còn thấy một ông kĩ sư vườn rau cần cù, say mê, chăm chỉ làm việc, ngày ngày quan sát cách lấy mật của ong, cách ong thụ phấn để tìm cách tăng năng suất cây trồng, đó là một mục đích đẹp. Còn nhà nghiên cứu khoa học thì mười một năm không xa rời cơ quan, luôn trong tư thế sẵn sàng đợt sét để lập bản đồ sét Việt Nam, tìm cho ra của chìm nông, chìm sâu dưới lòng đất để làm giàu cho đất nước. Anh mặc cho tuổi xuân trôi đi, quên cả hạnh phúc riêng tư, bất chấp mọi nguy hiểm.

Dù chỉ được giới thiệu một cách gián tiếp nhưng họ đã tạo thành một thế giới những con người tương tự như anh thanh niên luôn miệt mài lao động, trong sự hi sinh âm thầm lặng lẽ. Nhan đề của truyện là Lặng lẽ Sa Pa nhưng Sa Pa có thật sự lặng lẽ không? Tác giả đã giải thích một cách hết sức đơn giản cho người đọc: Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ của Sa Pa, một Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi có những con người đang làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Qua cách đặt nhan đề của truyện, tác giả muốn ca ngợi những con người sống đẹp, họ lao động một cách say mê và quên mình cho đất nước, họ đã nâng cao và mở rộng tâm hồn người đọc: hãy yêu thương nhau và sống đẹp hơn.

Ông họa sĩ xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, là người chứng kiến, cảm nhận và khẳng định vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên. Qua nhân vật ông họa sĩ, tác giả muốn gửi gắm những suy nghĩ về con người, về cuộc sống, về nghệ thuật.

Ông hoạ sĩ là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm. Bằng sự từng trải nghề nghiệp và niềm khao khát của người nghệ sĩ sáng tạo đi tìm đối tượng của nghệ thuật, ông biết mình đang xúc động và bối rối vì đã “bắt gặp một điều thật ra ông vẫn ao ước được biết, một nét thôi dù khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới dù là giá trị một chuyến đi dài”. Anh thanh niên là một con người như thế và có thể là nhân vật tương lai trong một tác phẩm của ông.

Vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng trên chốn Sa Pa lặng lẽ khơi gợi đã thôi thúc người hoạ sĩ sáng tác. Ông muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút kí họa và “người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá”. Những xúc cảm và suy tư của nhân vật ông họa sĩ về người thanh niên và về những điều khác nữa được gợi lên từ câu chuyện của anh làm cho chân dung nhân vật chính thêm sáng đẹp và tạo nên chiều sâu âm vang tư tưởng.

Ông họa sĩ hứa mười ngày nữa trở lại, còn bây giờ ông muốn dành trọn vẹn 20 phút ngắn ngủi để hiểu thật kỹ về người thanh niên, về đối tượng mà ông đang định thể hiện trong bức tranh của mình. Ông muốn làm một bức phác hoạ chân dung về anh thanh niên nhưng làm thế nào “cho người xem hiểu được anh ta, mà không phải hiểu như một ngôi sao xa? Và làm thế nào đặt được chính tấm lòng của nhà hoạ sĩ vào giữa bức tranh đó? “Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài”.

Ông họa sĩ chấp nhận những thử thách của quá trình sáng tác, đã bắt cảm hứng của mình hiện lên trang giấy: “cũng may mà bằng mấy nét, hoạ sĩ đã ghi xong, lần đầu gương mặt của người thanh niên, người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ”.

Chính cái nhìn thật đẹp về cảnh vật và con người, những suy nghĩ đẹp, những khát vọng đẹp của ông họa sĩ đã làm nên chất thơ trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa. Cảnh sắc Sa Pa hiện lên với tất cả sắc màu và tình yêu mến thiết tha dành cho nó. Cuộc sống con người cũng được bọc trong cảm xúc nâng niu, quý trọng và nể phục của ông họa sĩ càng khiến chúng ta biết trân quý và muốn giữ gìn, tôn vinh.

Có thể xem nhân vật ông họa sĩ là nhân vật luận đề mà nhà văn đã khéo léo xây dựng. Toàn bộ vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên được nhìn nhận và ghi nhận qua ánh mắt và suy nghĩ của ông họa sĩ. Qua nhân vật ông họa sĩ, Nguyễn Thành Long bày tỏ điểm nhìn nghệ thuật về cuộc sống, lý tưởng sống của con người trong thời đại mới. Chính qua những cảm nhận sâu sắc và khát vọng sáng tạo nghệ thuật của ông họa sĩ đã tạo sức đẩy cho vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Sa Pa không ngừng lan rộng. Âm vang từ bức tranh thiên nhiên và con người nơi Sa Pa lặng lẽ vì càng thêm mạnh mẽ. Có thể nói, cái gì được chứa đựng trong nghệ thuật chân chính cũng đều rất đẹp, rất thơ, rất bền bỉ với thời gian và lan tỏa những âm vang ngọt ngào của cuộc sống.

Với “Lặng lẽ Sa Pa”, nhà văn Nguyễn Thành Long đã đem đến cho chúng ta niềm cảm hứng dạt dào về vẻ đẹp thiên nhiên và con người Sa Pa. Người đọc như nghe thấy được những âm vang từ sắc hoa, sương mờ, đỉnh núi vắng lặng của Sa Pa thâm trầm; âm vang trong lời khuyên nhủ nhỏ nhẹ, tâm tình của nhà văn qua thiên truyện đầy chất thơ với cái tên độc đáo Lặng lẽ Sa Pa. Đó là hãy nhìn vào mọi người để phát hiện những điều vô cùng nhỏ nhưng đáng ca ngợi biết bao.

Nguyễn Thành Long một trong những gương mặt nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường được bắt nguồn từ những con người bình dị, những sự kiện đời thường, mộc mạc của cuộc sống nên mỗi lời văn đều nhẹ nhàng, trong trẻo mà thấm đượm chất trữ tình. Lặng lẽ Sa Pa được coi là kết tinh tiêu biểu nhất cho tài năng và phong cách sáng tác của Nguyễn Thành Long. Truyện ngắn đã dựng lên bức tranh tuyệt đẹp về những con người lao động lặng lẽ và thiên nhiên Sa Pa đẹp đẽ mà đầy chất thơ.

Chất thơ là cảm xúc, hứng thú được khơi dậy trong những câu văn, đoạn văn viết về thiên nhiên, con người, mang đến cho người đọc những xúc cảm mãnh liệt, chân thực. Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, chất thơ được thấm đượm trong cảnh vật, từng con người. Đó là chất thơ trong thiên nhiên Sa Pa hùng vĩ, thơ mộng, là chất thơ ẩn chứa bên trong vẻ đẹp lặng lẽ nhưng đầy cao cả, ý nghĩa của nhân vật anh thanh niên, của bác họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ.

Nguyễn Thành Long không tập trung khắc họa bức tranh thiên nhiên Sa Pa, thế nhưng chỉ với một vài nét vẽ ngẫu nhiên, hình ảnh Sa Pa thơ mộng, đầy hấp dẫn được mở ra chân thực trước mắt người đọc, đó là một vùng đất được “bắt đầu với những rặng đào” và những “đàn bò lang cổ có đeo chuông ở các đồng cỏ trong thung lũng hai bên đường”. Sa Pa trở nên rực rỡ, tươi sáng dưới ánh nắng ngập tràn “nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn”, cây cối ở Sa Pa cũng mang một nét đẹp đặc biệt, vừa hoang dã vừa tươi mới “những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng”. Dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ, những hình ảnh quen thuộc, bình dị trở nên thật đẹp, thật nên thơ. Qua những dòng miêu tả ngắn gọn nhưng súc tích, gợi cảm ấy, người đọc cảm nhận được một Sa Pa rộng lớn, hùng vĩ nhưng không hoang vu, lạnh lẽo mà thơ mộng, đẹp đẽ, hữu tình.

Chất thơ không chỉ thấm đượm trong những câu văn viết về thiên nhiên Sa Pa mà còn tỏa ra từ chính những con người lặng lẽ trong câu chuyện. Đầu tiên là nhân vật anh thanh niên, từng suy nghĩ, hành động, quan niệm sống của anh đều toát lên một vẻ đẹp đáng trân trọng. Anh thanh niên làm “công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu” trên đỉnh núi Yên Sơn bốn bề chỉ cây cỏ, mây mù lạnh lẽo. Công việc vất vả, đòi hỏi độ chính xác cao, cuộc sống cô đơn, thiếu vắng bóng người, thế nhưng anh vẫn đam mê, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Với anh, được làm công việc mình yêu thích thì sẽ không thấy cô đơn, bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là một, sao lại gọi là một mình được”. Anh coi công việc là một phần không thể thiếu của cuộc sống “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”.

Anh thanh niên còn gây ấn tượng với người đọc về tinh thần lạc quan, yêu đời. Tuy sống một mình nhưng anh biết cách tìm niềm vui cho mình, anh trồng hoa, nuôi gà, đọc sách. Nhà cửa được anh sắp xếp một cách ngăn nắp, gọn gàng. Anh còn là một người cởi mở, chân thành, sống tình cảm, điều này được thể hiện qua thái độ tiếp đón ân cần, chu đáo với bác lái xe, ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ. Khi chia tay với mọi người anh còn tặng trứng gà, củ tam thất cho mọi người để làm quà.

Điều đáng quý nhất ở anh thanh niên là thái độ khiêm tốn và sự hi sinh thầm lặng. Khi ông họa sĩ bày tỏ mong muốn vẽ một bức tranh chân dung của anh thì anh đã hào hứng giới thiệu cho ông những người xứng đáng hơn mình. Sự khiêm tốn và những cống hiến thầm lặng của anh đã mang đến sự xúc động và khơi dậy những nhận thức mới mẻ, sâu sắc về lẽ sống, cuộc đời, nghệ thuật cho tất cả mọi người.

Ông họa sĩ già là một người từng trải, có kinh nghiệm sống phong phú. Cũng giống như anh thanh niên, ông họa sĩ cũng là một người yêu nghề. Ông thực hiện hành trình lên Sa Pa để tìm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Trái tim người nghệ sĩ ấy đã rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn người thanh niên trẻ. Trước khi chia tay ông đã bày tỏ mong muốn được vẽ bức tranh chân dung của anh thanh niên – đối tượng nghệ thuật đẹp đẽ nhất mà ông đã khá được trong chuyến đi của mình.

Cô kĩ sư trẻ mang trong mình lòng nhiệt huyết của của trẻ. Để thực hiện đam mê của bản thân, cô đã chấp nhận rời thành phố để về một vùng xa xôi để công tác. Sau cuộc trò chuyện với anh thanh niên, cô có thêm niềm tin và cảm nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa của công việc mà mình sẽ làm.

Anh thanh niên, ông họa sĩ hay cô kĩ sư trẻ đều là những con người bình thường trong cuộc sống đời thường. Thế nhưng chính tình yêu và trách nhiệm dành cho công việc khiến họ trở nên thật đặc biệt. Họ đẹp trong chính cái đời thường, bình dị.

Có thể thấy chất thơ chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên giá trị của truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa. Ý thơ như toát ra từ những câu văn, đoạn văn một cách tự nhiên, đầy rung động. Hình ảnh thiên nhiên Sa Pa và người lao động vô danh ngày đêm thầm lặng trong sự nghiệp dựng xây đất nước đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đẹp, nó khơi dậy những rung động thầm kín, nhen nhóm lên lí tưởng sống cao đẹp, ý nghĩa trong trái tim mỗi người.

Văn Mẫu Lớp 9: Đoạn Văn Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai (13 Mẫu) Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân

TOP 13 Đoạn văn cảm nhận nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân đặc sắc nhất, sẽ giúp các em học sinh lớp 9 hiểu sâu sắc hơn về tình yêu làng, tình yêu nước của những người nông dân nghèo trong kháng chiến.

Ông Hai chính là đại diện của những người nông dân nghèo với tình yêu làng quê, yêu nước, tinh thần kháng chiến mãnh liệt. Với 13 đoạn văn cảm nhận về nhân vật ông Hai sẽ giúp các em cảm nhận sâu sắc hơn, để ngày càng học tốt môn Văn 9.

Đề bài:Viết một đoạn văn ngắn (10-12 câu) nêu cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong văn bản Làng.

Ông Hai là người rất tự hào về cái làng chợ Dầu của mình. Khi phải di tản cư ông cứ nhắc đi nhắc lại với những người chung quanh cái không khí cách mạng của làng ông: “Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai…”. Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn mà nói liên miên về cái làng của ông. Ông nói cho sướng miệng và để cho đỡ nhớ làng chứ không chú ý người khác có nghe không ? Sau những giây phút làm việc mệt nhọc, nằm gác tay lên trán, ông lại nghĩ về làng. Ông cứ muốn về làng, muốn được “cùng mọi người đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”. Vì quá yêu, quá tự hào về cái làng của ông mà ông “nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, “chết lặng đi tưởng như không thở được” khi nghe tin cả làng mình theo Việt gian ! Lúc đầu ông không thể tin, ông hỏi đi, hỏi lại “giọng ông như lạc hẳn”: “Liệu có thật không hở bác. Khi có người quả quyết vì ra ở dưới ấy lên và nói chắc như đinh đóng cột ở làng ông “Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi”…, thì ông Hai không thể nghe thêm được nữa. Ông đánh trống lảng rồi đi thẳng. Thông qua nhân vật ông Hai, tác giả muốn ca ngợi tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, sự giác ngộ cách mạng của những người nông dân hiền lành, chất phác. Chính tình yêu quê hương đất nước, ý thức giác ngộ cách mạng ấy mà họ một lòng theo Đảng, theo Cách mạng, đứng lên giành quyền sống, giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc trước mọi gian nan, thử thách.

Ông Hai là người sống từ lâu ở làng Chợ Dầu nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc ông phải sống xa làng trong nỗi nhớ khôn nguôi. Ông rất yêu nơi mình sinh ra và lớn lên và đi đâu cũng khoe với mọi người. Tình cảm của ông thể hiện rất rõ khi nghe tin sét đánh cả làng theo Tây, lúc này tác giả tập trung miêu tả cảm giác của ông đó là “cổ nghẹn đắng”, “da mặt tê rân rân”, như cố trấn tĩnh nhưng đó là sự thật khiến ông rất thất vọng và buồn bã. Suy nghĩ khi nghe tin làng theo giặc, trong ông luôn có tâm trạng cùng sự đấu tranh nội tâm trở nên xung đột, đây là tình huống mà tác giả tập trung miêu tả hình ảnh ông Hai với tấm lòng yêu làng, yêu nước tha thiết và chân thành. Ông thấy xấu hổ vì niềm tin mà mình đã dành cho làng bấy lâu nay đã thực sự sụp đổ trong phút chốc. Nhưng rồi ông cực kỳ vui sướng khi nghe tin làng chợ Dầu vẫn theo Kháng chiến, vẫn đang chống Tây, ông không còn nỗi tủi nhục không còn buồn mà lại vui vẻ khỏe làng của mình người khác. Cuộc sống phải bỏ làng ra đi ai buồn nhưng ta lại thấy hình ảnh ông Hai đi khoe cái tin đó là “Tây nó đốt hết nhà tôi rồi, hết hẳn”, ông vui và tự hào bởi việc Tây đốt nhà giúp cho mọi người hiểu rằng làng chợ Dầu vẫn theo kháng chiến, vẫn yêu nước, đó là niềm vui thực sự. Làng trong ông Hai là một phần ruột thịt, nhà cửa hay tài sản mất đi có thể lấy lại, miễn sao cống hiến cho đất nước vững mạnh đó là niềm vui lớn lao nhất. Tình yêu làng yêu quê hương đất nước trong ông Hai thật giản dị, chân thành, tác giả tập trung miêu tả tâm lí cùng ngôn ngữ nhân vật để làm nổi bật tình cảm của ông Hai với làng, với quê hương.

Trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc có lẽ là nhân vật ông Hai, đặc biệt là tâm trạng khi ông nghe cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Cái tin ấy là một nỗi bất hạnh lớn đối với ông, ban đầu ông còn cố chưa tin cái sự thật ấy nhưng những người tản cư đã khẳng định chắc chắn rằng họ vừa ở dưới ấy lên làm ông không thể không tin được.Trong tâm trí ông lúc bấy giờ cái tin dữ ấy là một ám ảnh day dứt khôn nguôi. Khi nghe tiếng chửi bọn Việt gian những người tản cư khiến ông lão cúi gằm mặt mà đi. Về đến nhà, ông nằm vật xuống giường rồi tủi thân nhìn lũ con mà nước mắt ông lão cứ dàn ra. Ông tự hỏi bản thân rằng liệu chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? ”. Nỗi tủi nhục hổ thẹn đó khiến ông Hai không giám ló mặt ra khỏi nhà. Nỗi sợ bị người ta đuổi. Nội tâm ông đấu tranh có lên quay về cái làng ấy nữa không? Nhưng ông khẳng định bản thân rằng “Làng thì yêu thật đấy, nhưng về làm gì nữa khi chúng nó theo Tây cả rồi?.” Qua đây ta có thể thấy được tình yêu làng quê tình yêu đất nước của ông Hai lớn lao biết nhường nào.

Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của kim Lân là nhân vật điển hình cho người nông dân trong kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, yêu nước cảm động. Ông Hai yêu làng Chợ Dầu của mình nên thường khoe và tự hào làng của ông là làng cách mạng, làng kháng chiến. Vì hoàn cảnh ông phải đi tản cư, ông luôn nhớ về làng “ Chao ôi, lão thấy nhớ làng mình quá!”. Gặp đoàn tản cư ông lão hỏi thăm tin tức làng Chợ Dầu thì được người tản cư cho biết làng ông làm Việt gian theo Tây. Ông cảm thấy đau đớn, xấu hổ “ da mặt tê rân rân, cổ nghẹn đắng lại, không thở được”, “ông cúi gằm mặt, lảng đi về nhà”. Tin dữ ám ảnh ông, biến ông thành con người khác, chỉ ru rú ở nhà không dán ra ngoài, hay cáu bẳn, gắt gỏng. Khi mụ chủ nhà có ý định đuổi khéo gia đình ông, ông rơi vào trạng thái bế tắc, tuyệt vọng. Ở hoàn cảnh đó ông đấu tranh giằng xé: hay là về làng? Nhưng vừa nghĩ ông đã gạt phắt đi vì về làng tức là theo Tây, bỏ Cụ Hồ, bỏ kháng chiến. Trong sự bế tắc đó, ông tâm sự với con út như một cách ngỏ lòng mình rằng: ở ông, tình yêu làng, trung thành với cách mạng, với kháng chiến không bao giờ thay đổi. Khi được tin cải chính, ông Hai như người chết sống lại, ông lại sung sướng đi khoe làng bị đốt, nhà mình bị cháy. Đó là minh chứng hùng hồn chứng minh làng ông là làng Cách mạng, làng kháng chiến.

Mỗi người trong chúng ta đều có một nơi chôn rau cắt rốn và ai cũng có quyền được tự hào về hai tiếng quê hương. Ông Hai trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân cũng vậy. Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu. Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách, đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc. Tình huống gay gắt đó đã bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Trái tim ông như đau đớn, “cổ ông như nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân” khi phải đón nhận tin đó. Về đến nhà ông chán chường, nhìn đàn con mà nước mắt ông giàn giụa, ông nghĩ về tương lai của những đứa trẻ khi chúng có quê hương là làng Việt gian. Phải là một người yêu quê, gắn bó với ngôi làng ấy sâu sắc, ông mới cảm nhận được nỗi đau đang giằng xé trong tâm hồn mình. Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian. Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy,ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt. Rồi khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính, ông sung sướng như được sống lại, ông mặc quần áo chỉnh tề và đi báo tin khắp nơi. Tình yêu làng trong ông được sống dậy, niềm tự hào khiến ông vui như một đứa trẻ. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng, Kim Lân đã miêu tả tâm trạng của ông Hai với những cung bậc cảm xúc chân thực. Qua đó, giúp ta thêm yêu và trân quý vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tường như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ […] giọng lạc hẳn đi”, “ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông lão như vừa bị mất một cái gì quý giá, thiêng liêng lắm. Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…”. Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão đến khổ sở: ”Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…”. Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm: “Gian nhà lặng đi, hiu hắt, ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão.

Ông Hai là một người nông dân nghèo khổ chất phác. Cũng như bao người khác, cuộc đời ông đã trải qua những giai đoạn sóng gió, đau khổ tuyệt vọng, ông Hai đã bị bọn hương lí trong làng “truất ngôi trừ ngoại”, đó là một điều xót xa cho người yêu làng như ông Hai. Có làng, có nhà, có cửa mà ông phải “phiêu dạt lang thang hết nơi này đến nơi khác”. Cuộc sống đói nghèo cực khổ nơi đất khách quê người rồi cũng chấm dứt. Sau mười mấy năm trời lênh đênh ông cũng tìm cách về lại làng mình, về đến làng, cuộc sống đói nghèo vẫn không chấm dứt. Không những phải chịu đựng cuộc sống đói nghèo cùng cực, người nông dân như ông Hai phải phục dịch cho bọn hương lí. ông Hai bị gạch đổ bại một chân trong một lần phu phen tạp dịch. Cuộc sống thật tối tăm cùng cực, ông bị vùi dập đủ đường. Sống một cuộc sống như thế nhưng tấm lòng của những người nông dân như ông Hai vẫn hướng về làng mình, vẫn yêu làng mình, vẫn yêu làng sâu sắc. Với ông Hai, làng chợ Dầu đã trở thành máu mủ ruột rà. Ông hãnh diện với làng ông, ông khoe làng chợ Dầu với mọi người ở mọi nơi mà ông đến. Nhiều lúc ông nói về làng mình cho đỡ nhớ. Người đọc thấu hiểu tình cảm sâu sắc của ông Hai với nơi chôn nhau cắt trôn. Ông khoe làng ông có “cái sinh phần của viên tổng đốc” có bề dày truyền thống, có cảnh đẹp nổi tiếng cả vùng. Tất cả những gì thuộc về làng đối với ông Hai đều thiêng liêng gắn bó. Do đó, mặc dù cái sinh phần đã gieo rắc cho ông, cho bao người khác tai hoạ song ông vẫn cảm thấy tự hào. Dường như trong tâm trí ông Hai, cái sinh phần đó là sức lực của cả làng. Và có một chút rất riêng của bản thân ông, tình yêu làng của ông Hai thật giản dị, chất phác.

Làm nên thành công trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta là do tinh thần yêu nước nồng nàn của những người dân đất Việt. Tình yêu đó đã được tác giả Kim Lân thể hiện xuất sắc qua nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng”. Ông Hai là một người con của làng Chợ Dầu, ông yêu làng đến độ đi đến đâu ông cũng khoe về cái làng của mình. Khi cách mạng lan tới ngôi làng của ông, nghe theo lệnh của Uỷ ban kháng chiến, ông rời làng lên khu tản cư. Ở nơi ở mới nhưng lúc nào ông cũng mong nhớ về ngôi làng của mình. Cuốc đất, làm ruộng, ông đều nhớ về làng, nhớ về “những ngày cùng làm việc với anh em” ở làng, “cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man cả ngày”. Vậy mà trong một lần ông đi “nghe lỏm” trên phòng thông tin trở về lại nghe được một tin “động trời”, đó là làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Cái tin dữ đã khiến cho ông Hai “nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rần”, ông lão “tưởng như đến không thở nổi”. Trên đường trở về, ông Hai phải xấu hổ, nhục nhã tới mức “cúi gằm mặt mà đi”. Về nhà, ông “nằm vật ra giường”, “nước mắt ông lão cứ giàn ra”, ông thương lũ con nhỏ, thương chính bản thân mình, từ giờ họ chính là những người dân của ngôi làng Việt gian. Ông lão đau xót lắm, nghĩ lại, kiểm điểm lại từng con người trong làng, họ toàn là những người “có tinh thần cả mà”, “có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy”. Từ hôm nghe tin, ông Hai chẳng đi đâu khỏi nhà, chỉ thoáng nghe đến những tiếng “Tây, Việt gian, Cam- nhông, ..” là ông Hai “lủi ra một góc nhà, nín thít”. Ông Hai thủ thỉ với đứa con, nói ra “như ngỏ lòng mình, như để chính mình lại minh oan cho mình nữa”, để vơi bớt đi những nỗi khổ trong lòng mình. Những tưởng ông Hai cứ mãi phải sống trong trong nỗi xấu hổ, ê chề đó thì cái tin cải chính về làng ông tới. Cái tin cải chính ấy đã khiến ông Hai như được hồi sinh trở lại. Ông mua bánh, chia quà cho con, rồi chạy sang nhà bác Thứ mà khoe rằng: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn!”. Chắc hẳn chẳng có một lão nông nào lại có thể vui đến thế khi căn nhà mình gây dựng bao lâu bị giặc đốt mất. Nhưng với ông Hai thì lại khác, điều đó chứng minh một điều rằng làng Chợ Dầu của ông không theo giặc, đó là niềm vui, niềm tự hào to lớn nhất của ông. Kim Lân đã khéo léo dựng lên một tình huống thật éo le để người nông dân toả sáng với tình yêu quê hương, tình yêu đất nước sâu nặng của mình trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, chúng ta đã thấy được một tình yêu quê hương nồng nàn, thắm thiết. Nó được thể hiện rất sâu sắc qua nhân vật ông Hai khi ông bị đặt trong một tình huống éo le – làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Ông Hai vốn là một người dân vô cùng yêu làng, yêu quê hương, yêu cách mạng. Ở nơi tản cư, xa quê, xa làng, nhưng lúc nào ông Hai cũng nhớ về làng, nhớ về những người anh em của mình. Ông vẫn luôn tự hào về làng của mình cho đến khi ông nghe được tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Cái tin ấy đã khiến cho ông Hai bàng hoàng “cổ ông lão nghẹn ắng lại. Da mặt tê rân rần”, ông lão “tưởng như đến không thở được”. Về nhà, ông lão “nằm vật ra giường”, “nước mắt ông lão giàn ra”, ông xấu hổ quá, tủi nhục quá, ông thương bản thân ông và ông càng thương những đứa con của mình hơn “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Từ hôm nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, ông Hai chỉ quanh quẩn ở nhà, ông không dám đi đâu, cũng không dám trò chuyện cùng ai. Đã từng có lúc ông Hai nghĩ “hay là quay về làng?”, thế nhưng cái suy nghĩ đó lại bị chính ông gạt đi bởi “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đó là tình yêu quê hương sâu sắc, mãnh liệt của một lão nông nghèo, chất phác, ít học. Mọi chuyện ông chỉ dám thủ thỉ cùng đứa con trai nhỏ của mình. Và cái tìn cải chính về làng ông như một nguồn sống làm hồi sinh tâm hồn như đã “chết lặng” từ lâu của ông Hai. Cái tin cải chính đến, ông Hai mừng rỡ, mua quà bánh cho con, và chạy ngay sang nhà bác Thứ để khoe: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhăn!”. Ta có thể thấy được ông Hai là một người nông dân yêu quê hương, yêu làng của mình vô cùng.

Advertisement

Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình. Ông yêu quý và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu. Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc. Từ phòng thông tin ra, đang phấn chấn, náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư, nghe nhắc đến tên làng, ông Hai quay phắt lại,lắp bắp hỏi, hy vọng được nghe những tin tốt lành,nào ngờ biết tin dữ: “Cả làng Việt gian theo Tây”. Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đớn: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được,một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ. Ông cất tiếng hỏi,giọng lạc hẳn đi” nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật. Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư, ông tìm cách lảng về. Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái: “cha mẹ tiên sư nhà chúng nó ,đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương, cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.

Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân là một người nông dân yêu làng, yêu nước da diết. Ông vốn là dân ngụ cư, rời làng đi nơi khác sinh sống. Chính vì thế ông luôn yêu thương và tự hào về truyền thống đánh giặc của làng. Nhưng một hôm ông nghe tin làng chợ Dầu của ông theo Tây mất rồi. Lúc này đây niềm tin trong ông tan vỡ, ông đau đớn và xót xa vô cùng. Trước kia cứ ai nhắc đến làng mình là ông tự hào lắm ấy vậy mà nay vận đổi sao rời, không không dám rời khỏi nhà chỉ sợ lại nghe người ta phỉ nhổ làng ông. Lúc này đây trong ông có sự đấu tranh mạnh mẽ và ông đã quyết tâm theo Đảng, theo Bác Hồ: “làng thì yêu thật. Nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Ở đây ta thấy tình yêu đất nước của ông Hai đã vượt lên tình yêu làng quê. Ông yêu làng là thật nhưng trên tất cả ông vẫn đứng về lẽ phải, đứng về phía cách mạng. Và đến khi nghe tin làng được cải chính dù nhà mình bị đốt hết ông vẫn vui vẻ chạy lăng xăng đi khoe mọi người ra vẻ tự hào lắm. Hóa ra ông vẫn còn yêu làng ông đến vậy. Làng chợ Dầu của ông không theo Tây, làng Chợ Dầu của ông vẫn đi đầu trong cuộc kháng chiến chống giặc. Và tình yêu làng của ông Hai vẫn nồng nàn da diết như ngày nào.

Ông Hai là một người rất yêu và tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Ông luôn đi khoe về làng của ông giàu đẹp và tinh thần kháng chiến mạnh mẽ. Chính vì vậy mà khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông đã đau đớn, nhục nhã, thất vọng ê chề. Tác giả đã đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống gay cấn để bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông: một người yêu làng, luôn tự hào về làng quê của mình lại bị nhận tin làng mình đã theo giặc ngay tại nơi đi tản cư. Khi vừa nghe tin, ông Hai như người mất hồn. Tác giả đã khắc họa một cách tinh tế tâm lý nhân vật: “Cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được”. Ông lão không tin vào tai mình, mặc dù lời của người phụ nữ hết sức rành rọt, rõ ràng và còn khẳng định mới từ “dưới đó lên”. Ông lão phải gặng hỏi một lần nữa: “Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ tại…” Lời khẳng định quá chắc nịch khiến ông Hai như rơi vào vực thẳm. Niềm tự hào của ông, tình yêu của ông, nơi quê cha đất tổ mà ông ngày ngày mong ngóng, nhớ về giờ đây đã quay lại phản bội đất nước. Còn gì đau đớn hơn khi mảnh đất ông yêu như khúc ruột, yêu như vợ, như con lại phản bội niềm tin của ông? Tin dữ ấy đã khiến ông Hai ám ảnh, dằn vặt đau đớn đến khôn nguôi. Qua đoạn trích trên, ta lại càng hiểu được và thấm thía tình yêu làng quê tha thiết gắn bó với tình yêu nước thiêng liêng của người nông dân trong thời kì kháng chiến.

Văn Mẫu Lớp 9: Phân Tích Diễn Biến Cốt Truyện Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân 2 Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất

Đề bài:Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của tác giả Kim Lân

Dàn ý diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng Dàn ý 1

1. Mở bài

Tiêu biểu trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện phải kể đến nhà văn Kim Lân với tác phẩm tiêu biểu là truyện ngắn “Làng”.

2. Thân bài

– Trước khi nghe tin làng theo Tây:

Đi tản cư nhưng luôn nhớ và tự hào về những năm tháng được cùng anh em, dân làng mình đắp đập, xây ụ chống giặc.

Nôn nao, náo nức khi nghĩ về những hầm đường bí mật của làng, những chòi gác những chòi gác đầu làng.

– Khi nghe tin làng theo giặc:

Không tin vào tai mình, cố trấn an rồi lắp bắp, giọng lạc hẳn như để cố kiểm tra lại cái tin ấy một lần nữa.

Cố lảng tránh sang chuyện khác để ra về

Về đến nhà, ông nằm vật ra trên giường chẳng buồn nói năng gì

Suốt mấy ngày không ra khỏi nhà, chột dạ khi nghe người khác bàn tán

Đấu tranh tâm lý có nên quay về làng

Quyết tâm không trở về để giữ trọn lòng trung thành với cách mạng, với cụ Hồ

– Khi tin làng theo giặc được cải chính:

Hạnh phúc vỡ oà

Mặt buồn thiu mọi ngày bỗng vui hẳn lên

Đi khắp nơi khoe nhà bị đốt, kể những chiến công của làng

3. Kết bài

Bằng tài năng trong cách xây dựng tình huống truyện, cách bộc lộ những tâm tư sâu kín nhất của nhân vật thông qua độc thoại, độc thoại nội tâm ,hành động và nét mặt,…tất cả đã góp phần xây dựng nên một cốt truyện theo dòng tâm lý của nhân vật đầy độc đáo.

Dàn ý 2

a. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm Làng của Kim Lân.

Xây dựng cốt truyện là yếu tố nghệ thuật góp phần chính vào thành công của truyện.

b. Thân bài

Cốt truyện của truyện ngắn Làng của Kim Lân gắn với tâm trạng ông Hai.

– Diễn biến cốt truyện:

– Tình yêu làng của ông Hai trước Cách mạng.

– Tình yêu làng của ông Hai sau Cách mạng.

Trước khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Ông yêu làng, tự hào về làng, hay khoe làng. Ông tin tưởng vào thắng lợi cuộc kháng chiến do Chính phủ và Cụ Hồ lãnh đạo.

Khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc vào những ngày sau đó. Tình yêu làng của ông bị đặt vào tình huống gay cấn, đầy thử thách.

Khi ông Hai biết sự thật: tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, ông sung sướng báo tin làng ông không theo giặc, nhà mình bị giặc đốt nhẵn.

– Nghệ thuật dựng cốt truyện Làng

Sự phát triển của cốt truyện hợp lí: diễn tả được chính xác tâm lí người nông dân Việt Nam những ngày đầu chống Pháp.

Sự phát triển của cốt truyện cũng là sự phát triển tâm trạng nhân vật chính (ông Hai) trong tình huống đặc biệt.

Cốt truyện được diễn tả sinh động thành câu chuyện có giá trị nghệ thuật bằng biện pháp độc thoại nội tâm, bằng đối thoại. Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đặc sắc.

Nhờ đó, truyện đã xây dựng được một nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam những ngày đầu chống Pháp với tình yêu làng, yêu nước sâu sắc.

c. Kết bài

Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã thể hiện tài năng kể chuyện của Kim Lân.

Truyện cũng cho ta hiểu về tình yêu làng gắn với tình yêu nước cao cả của người nông dân Việt Nam.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 1

Không biết tự bao giờ mà tình yêu đất nước quê hương đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận dành cho các nhà văn nhà thơ. Nó như một kim chỉ nam xuyên suốt các tác phẩm xưa và nay. Và thật là thiếu sót nếu như lướt qua nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “làng” của nhà văn Kim Lân. Đây chính là một điển hình tiêu biểu cho tình yêu đất nước quê hương, thứ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất trên đời.

Nghệ thuật xây dựng cốt truyện hợp lí và đặc sắc nó khắc họa hết tâm lí người nông dân trong xã hội cũ mà cụ thể là ông Hai. Sự phát triển của tâm lí nhân vật trùng khớp với sự phát triển của cốt truyện. Đặc biệt nghệ thuật xây dựng tình huống độc thoại nội tâm và đối thoại nội tâm bằng những ngôn ngữ vô cùng đặc sắc đã phần nào để độc giả hình dung được một bức tranh người nông dân trong những ngày đầu chống thực dân Pháp.

Tất cả tâm tư tình cảm của ông Hai đều hướng về làng về nước. Điều đó thể hiện rất rõ thông qua những tình huống khác nhau. Trước khi nghe cái tin dữ làng chợ Dầu theo giặc ông Hai là một người luôn tự hào và khoe về cái làng của mình. Nào là đường làng ông lát đá xanh, nhà ngói san sát sầm uất như trên tỉnh, nào là có cái cột phát thanh cao bằng ngọn tre chiều chiều cả làng lại thi nhau nghe tin đánh giặc…. Ông cũng vô cùng yêu nơi mình chôn nhau cắt rốn nên mặc dù có lệnh tản cư ông vẫn khăng khăng muốn bám đất giữ làng cùng bộ đội nhưng vì hoàn cảnh riêng nên ông phải đi. Những năm tháng sống trên vùng tản cư niềm vui duy nhất của ông đó là nhớ lại quãng thời gian gắn bó với mảnh đất quê hương, nhớ lại những ngày chiến đấu cùng anh em và chạy lên phòng thông tin nghe tin tức về làng chợ Dầu.

Thế nhưng đúng lúc niềm vui đến thì cũng là lúc ông nghe tin đồn thất thiệt “Cả làng chợ Dầu Việt gian theo Tây”. Ông cố gắng xác minh lại trong cái tin ấy xem có phải là thất thiệt không. “liệu có thật không hở bác? Hay chỉ là….” nhưng đáp lại ông chỉ là cái gật đầu xác nhận và những lời nói gay gắt “ Cả làng nó theo Tây từ thằng chủ tịch trở xuống”. Mặt ông lão như tái đi, cổ họng nghẹn ắng lại ông như lặng đi đến không thể nổi.

Bình thường ông là người hay nói vui tính nhưng hôm nay ông trở về lầm lũi rồi nằm vật ra giường. Lũ con thấy vậy cũng chẳng dám hó hé chào hỏi cười đùa. Trong đầu ông bây giờ chỉ còn tồn tại hai chữ “việt gian”, “bán nước”, “theo Tây”…. Ông gắt gỏng ngay cả với người đầu ấp tay gối với mình khi được hỏi về cái tin theo tây ấy. Nỗi đau dường như càng xéo xắt khi bà chủ nhà cũng có ý muốn đuổi cả nhà ông đi. Ông như lặng người nhìn đàn con mà đau xót, “ừ thì ra nó là con làng Việt gian đấy”. Suốt mấy ngày ông chẳng dám vác mặt ra đường vì sợ sẽ gặp phải những cái nhìn soi mói, những cải chỉ chỏ chỉ vì là dân làng Việt gian. Nỗi đau đớn xé lòng đã đẩy ông đi đến một quyết định đầy đau xót “làng thì yêu thật nhưng nếu làng theo tây thì phải thù”. Ông nói chuyện với các con nhưng thực ra đó là cuộc đối thoại nội tâm đầy cắn rứt. Mỗi câu nói ra ông cảm thấy mình như nhẹ đi bội phần. Ông yêu làng hướng về làng dù có muôn trùng xa cách.

Niềm vui như trở về với con người ấy, gia đình ấy khi ông nghe tin làng chợ Dầu theo tây được cải chính bởi chính ông chủ tịch xã. Ôi cái cuộc đời này sao mà đẹp đến thế nó như khiến ông hồi sinh thêm một lần nữa. Cái mặt buồn thỉu mấy ngày nay đã rạng rỡ hẳn lên. Ông mua kẹo chia cho các con rồi lại chạy khắp nơi để thanh minh rằng làng mình không bán nước. Ông còn khoe cái tin làng mình bị giặc đốt. Dường như sự mất mát về của cải không làm ông đau đớn bằng việc đánh mất đi niềm tin chỗ dựa dẫm về tinh thần.

Sự lặp đi lặp lại của tâm lí nhân vật ông Hai cũng vô cùng hợp lí nó là đại diện cho suy nghĩ của tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội cũ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Bằng tài năng của mình, Kim Lân đã tạo nên một cốt truyện vô cùng đặc sắc và thú vị. Nó chính là cái tài mà không phải nhà văn nào cũng có thể làm được.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 2

Từ xa xưa, dân tộc ta đã có một truyền thống quý báu đó là lòng yêu nước nồng nàn. Truyền thống đó dường như đã thấm sâu vào máu của mỗi con người Việt Nam và trở thành nguồn cảm hứng bất tận đối với các nhà thơ nhà văn. Đặc biệt là đối với Kim Lân. Ông đã khắc họa được tình yêu nước của những người nông dân Việt Nam chân chất thông qua hình ảnh nhân vật ông Hai. Một nhân vật mà đối với ông tình yêu nước không thể hiện qua những đóng góp lớn lao về của cải, vật chất mà chỉ đơn giản là niềm tự hào về ngôi làng nhỏ bé nhưng đầy ý chí quyết không đầu hàng giặc của mình.

Là một văn bản tự sự, Làng có một cốt truyện gồm nhiều sự việc xoay quanh nhân vật chính với những tình huống bất ngờ, đầy kịch tính. Diễn biến tâm lí và sự phát triển tính cách của ông Hai đã làm nên toàn bộ cốt truyện. Ớ nhân vật ông Hai, nổi bật lên là tình yêu làng xóm quê hương tha thiết, lòng yêu nước sâu nặng. Tự hào, hãnh diện, đó là những cảm xúc của ông Hai về làng Chợ Dầu vốn nổi tiếng có tinh thần đoàn kết chống giặc mà vì chiến tranh, ông và vợ con phải rời bỏ để đi tản cư nơi khác.

Làng Chợ Dầu của ông Hai là nơi ông sinh ra và lớn lên. Ông đã từng tự nhủ lòng “mình sinh sống ở làng này từ tấm bé đến bây giờ. Ông cha cụ kị mình xưa kia cũng ở cái làng này bao nhiêu đời nay…”. Cho nên, ông không thể không yêu từng con đường đất nhỏ, từng nếp nhà tranh đơn sơ, từng thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay hay con đường làng lát toàn đá tảng… Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của mình một cách thiết tha nhất. Yêu đến độ đi tới đâu ông cũng kể về làng của mình với một sự say sưa và tình cảm mãnh liệt. Trước Cách mạng tháng Tám, vì yêu làng quê mình quá ông đâm biến thành người hay khoe. Đi đâu Ông cũng khoe làng ông có nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng lát toàn bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo, có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công, nó đã giúp ông hiểu được sự sai lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn khoe cả những hố , những ụ, những hào,… lắm công trình không để đâu hết. Mỗi lời của ông lúc này chứa đầy sự giác ngộ về cách mạng, về ý thức giai cấp mà ông là người trực tiếp tham gia trong đó.

Khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải xa làng. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niềm thương nhớ. Vì vậy, nên lúc tản cư, ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Mặc dù vậy, trong suy nghĩ của ông không bao giờ quên được ngôi làng của mình, không bao giờ quên những kỉ niệm tuy vất vả nhưng tràn đầy niềm vui và nghĩa tình của ông khi xưa, đi đến đâu, gặp ai, ông cũng khoe về làng của ông. Ông vui thích với niềm vui nho nhỏ ấy. Quả thật, cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Ngày bận rộn sản xuất thì thôi chứ chiều tối ông không sao chịu đựng nổi sự gặm nhấm của nỗi lòng, của tiếng rì rầm đếm tiền hàng của bà vợ. Ông lại sang hàng xóm khoe về cái làng nhỏ như để vơi đi phần nào sự mong nhớ. Chỉ có lúc ấy ông mới trở nên có khí sắc, mới thực sự được sống với bao kỉ niệm đẹp đẽ, với niềm tự hào của một tình yêu làng tha thiết, nồng nàn nhất.

Cho đến một ngày, ông gặp một đám người tản cư vừa ở Chợ Dầu mới lên nói rằng cả làng Chợ Dầu theo Tây hết rồi! Mới chỉ vừa nghe tin ấy thôi, cố ông Hai “nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ồn lão lặng đi tưởng như đến không thể thở được”. Ông tưởng chừng có thể ngất đi vì cái tin như sét đánh bên tai ấy. Ông Hai cố gượng và ngỗi nghe cho thật tỉ mỉ. Trời ơi, chẳng lẽ chuyện ấy là thật ư? Không thể, không thể thế được, ông lẳng lặng về nhà rồi nằm thu mình trên giường trấn tĩnh lại và suy ngẫm. Ông cảm thấy đau đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Niềm kiêu hãnh, tự hào, hạnh phúc, sung sướng, vui thích khi nghĩ về làng bấy lâu giờ bỗng chốc biến thành cảm giác tủi nhục, thất vọng, đau đớn, xấu hổ, bị mọi người rẻ khinh. Cảm giác ấy cũng những ý nghĩ tồi tệ đến không tưởng tượng được như từng nhát dao khứa vào tim ông, Cũng chình từ lúc ấy, ông không dám đi đâu hết, suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Nhà văn diễn tả tâm trạng của nhân vật chính này như một sự bất lực, tuyệt vọng. Và cũng chính lúc này, nhà văn đã nhận ra vẻ đẹp của lòng yêu nước ẩn chứa trong tâm hồn những người khác nữa. Từ mụ chủ nhà xấu người xấu nết mà hễ cứ thấy mặt là ông lại ghét cay ghét đắng, hay người đàn bà tản cư ngồi cho con bú với câu chửi đổng bâng quơ và còn bao người dân khác nữa,… Tất cả họ đều sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, chia nhà chia cửa cho đồng bào của mình khi có hoạn nạn, khó khăn, nhất là khi có hoạ ngoại xâm. Nhưng cũng chính họ đã phản ứng quyết liệt trước sự phản bội và không nhân nhượng với bất cứ ai hèn nhát đầu hàng hay chỉ cần là dân của một làng đã đi theo giặc. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa, ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì: “ làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù.” Sự đối lập trong lòng ông như được tác giả khắc họa một cách thật rõ nét. Một bên là tình yêu làng và một bên là tình yêu nước. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Nhưng trong đó, tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết.

Và như thấu được tình cảm của ông Hai, sau cùng ông cũng nhận được tin cải chính rằng làng của ông không theo giặc. Sau khi được ông Chủ tịch làng Chợ Dầu lên đính chính lại tin làng theo giặc là “sai sự mục đích” thì trong lòng ông như mở hội. Ông mừng rỡ chạy đi báo cho bác Thứ, cho ông chủ nhà, rồi tất tưởi báo cho mọi người trong làng biết, ông cứ múa tay lên mà khoe tin “Tây nó đốt làng tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn.” Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Mọi đau khổ, buồn tủi đã được rũ sạch. Dường như niềm hạnh phúc của người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp là được đánh đổi tất cả để đất nước được độc lập, người dân được sống yên bình, êm ả nơi quê cha đất tổ của mình.

Toàn bộ tác phẩm đã nêu lên một ý nghĩa sâu sắc, đó là sự thay đổi lớn lao về nhận thức của người nông dân trong thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai, một trong những người dân bấy giờ, đơn giản, chất phác, tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân đã làm cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang truyện, người nghe không thể không tập trung: đoc, nghe để cảm nhận được nỗi đau vô hạn, sự tủi nhục khôn tả của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc; nỗi đau đó, sự tủi nhục đó không có một tính từ cảm xúc nào có thể diễn đạt. Và cũng với ngòi bút bút điêu luyện của mình Kim Lân đã tạo ra một tình huống bất ngờ gỡ đi nút thắt trong lòng nhân vật ông Hai – một niềm vui sướng vô hạn khi biết rằng làng mình không theo giặc. Để cốt truyện phát triển song hành cùng diễn biến tâm lí nhân vật là một thành công trong phong cách sáng tác của nhà văn.

Qua tác phẩm Làng, Kim Lân đã thực sự thể hiện được tài năng của mình khi phác họa được thành công tinh thần yêu nước của nhân dân ta, phác họa được một thời y chống Pháp anh dũng và kiên cường của cả dân tộc. Làng khép lại trong một dư âm nhẹ nhàng của sự hoà quyện giữa tình yêu làng quê với tình yêu đất nước của người nông dân nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 3

Kim Lân là một trong những nhà văn luôn hướng các tác phẩm của mình vào cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Có người đã cho rằng chính từ những bức tranh nông thôn bình dị ấy, ông đã tìm ra phong cách cho riêng mình và đã thể hiện tài năng sáng tạo của một cây bút văn xuôi xuất sắc trong văn học hiện đại Việt Nam. Những trang viết mộc mạc của ông đã gợi cho chúng ta biết bao điều sâu sắc, để ta thêm yêu mến, trân trọng những người dân lao động trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng là một điển hình như vậy. Có theo dõi diễn biến sự phát triển của cốt truyện hấp dẫn, đặc sắc này mới hiểu được vì sao người đọc yêu mến và khâm phục Kim Lân!

Cũng viết về tình yêu quê hương đất nước trong chiến tranh nhưng tác phẩm của Kim Lân không có bom rơi đạn nổ, không có đổ máu mà đơn thuần chỉ có con người với một tấm lòng và những tình cảm thiêng liêng, sâu sắc. Là một văn bản tự sự, Làng cũng có cốt truyện gồm nhiều sự việc xoay quanh nhân vật chính với những tình huống bất ngờ, đầy kịch tính. Diễn biến tâm lí và sự phát triển tính cách của ông Hai đã làm nên toàn bộ cốt truyện. Ớ nhân vật này, tình cảm chủ đạo xuyên suốt tác phẩm là lòng yêu làng xóm quê hương tha thiết, lòng yêu nước sâu nặng!

Ngay từ đầu, tình cảm của ông Hai đã được khắc hoạ khá đậm nét đó là tình yêu làng quê mang đậm tính truyền thống. Làng Chợ Dầu của ông Hai là nơi ông sinh ra và lớn lên, nơi ông đã gắn bó bằng một thứ tình cảm máu thịt. Ông đã từng tự nhủ lòng “mình sinh sống ở làng này từ tấm bé đến bây giờ. Ông cha cụ kị mình xưa kia cũng ở cái làng này bao nhiêu đời nay…”. Cho nên, ông không thể không yêu từng con đường đất, từng nếp nhà tranh đơn sơ, từng thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay hay con đường làng lát toàn đá tảng. Ông tự hào và hãnh diện về làng mình ở vô cùng. Tình cảm đó trải qua nhiều biến cố lịch sử đã trở thành những thử thách của “lửa thử vàng”, tôi luyện phẩm chất con người.

Trước Cách mạng tháng Tám, vì yêu làng quê mình quá ông đâm biến thành người hay khoe. Nghe những lời giới thiệu đầy vẻ khoe khoang của ông khiến bà con bên ngoại “mắt tròn mắt dẹt” vì kinh ngạc, chúng ta thấy vừa buồn cười lại vừa đáng quý tấm lòng của ông. Ông cứ hồn nhiên coi làng mình là nhất ở trên đời này, dù rằng những thứ để khoe đâu có phải của riêng ông, đâu có đem lợi lại cho bà con dân làng ông…! Phải cho đến khi Cách mạng về, ý thức được người dân làng ông quá khổ vì bị áp bức nay được đổi đời, có cơm ăn áo mặc, không còn bị nô lệ thì những phẩm chất đáng quý trước kia nay được thể hiện khác lạ hẳn. Ông vẫn thích kể chuyện làng, vẫn thích khoe một cách say sưa về làng mình.

Nhưng mỗi lời của ông lúc này chứa đầy sự giác ngộ về cách mạng, về ý thức giai cấp mà ông là người trực tiếp tham gia trong đó. Lúc này đây, lòng yêu quý làng quê của người nông dân làng Chợ Dầu đã trở thành một phẩm chất đáng quý, một tính cách đáng trân trọng của nhân vật.

Từng bước một, câu chuyện dẫn dắt chúng ta tới mảnh đất miền trung du, nơi ông Hai cùng bà con dân làng đã đến tản cư. Xa làng, tình cảm đối với quê nhà của người dân tản cư, rõ nhất là qua ông Hai, càng làm nổi bật sự phát triển của cốt truyện. Vì kháng chiến mà họ rời làng đi xa, nhưng có phút giây nào lòng họ không ngóng về quê hương. Nỗi nhớ cồn cào, da diết của họ đã chứa đựng trong câu ca xưa:

Đến nơi mới này cái bệnh “khoe làng” của ông Hai vẫn không thay đổi. Nó càng sâu sắc hơn để biến thành nét tính cách riêng biệt. Ngày bận rộn sản xuất thì thôi chứ chiều tối ông không sao chịu đựng nổi sự gặm nhấm của nỗi lòng, của tiếng rì rầm đếm tiền hàng của bà vợ. Hình như được chia sẻ đã trở thành nhu cầu bức thiết, làm vơi đi những tâm tư đang chất chứa trong lòng của ông lão vốn quen cởi mở, giãi bày. Ông lại sang hàng xóm khoe về cái làng nhỏ như để vơi đi phần nào sự mong nhớ. Chỉ có lúc ấy ông mới trở nên có khí sắc, mới thực sự được sống với bao kỉ niệm đẹp đẽ, với niềm tự hào của một tình yêu làng tha thiết, nồng nàn nhất. Sự phát triển của câu chuyện khiến ta xúc động vô cùng trước tình cảm trong sáng, thuần khiết và hồn hậu của một người nông dân chân chất, ít học!

Như vậy, Cách mạng về, kháng chiến bùng nổ không chỉ đem lại sự đổi đời cho nhân vật mà nó còn tạo cơ hội để nhân vật bộc lộ tấm lòng và tình cảm của mình với quê hương, đất nước. Trước, cái sinh phần viên tổng đốc làng ông lúc nào cũng khiến ông hãnh diện. Tình yêu làng của ông lão nhà quê bây giờ đầy kiêu hãnh, vì làng Chợ Dầu không chỉ đẹp mà còn đánh giặc rất hăng. Có thế, ông với bà con dân làng mới phải đi tản cư để dân quân du kích làng ông còn chiến đấu với lũ đầu trâu mặt ngựa đó chứ! Phải chăng, khi phải rời quê đi tản cư, bao chuyện vui buồn của quá khứ và hiện tại cứ chất chứa tràn đầy và nồng ấm trong ông!

Cái tin thất thiệt làng Chợ Dầu theo giặc và tin đó được cải chính sau này là những tình huống bất ngờ đầy kịch tính của truyện. Ngòi bút của Kim Lân đã đẩy cốt truyện phát triển đến đỉnh điểm. Hai tình huống trên được đặt vào phần sau của truyện tựa như có một sức hút lạ kì, lôi cuốn người đọc theo dõi sự phát triển tính cách của một người đã yêu làng bằng cả trái tim mình. Hình ảnh “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân” như nói lên được tấm lòng đầy nghĩa tình của ông với kháng chiến, với Cụ Hồ. Nỗi buồn khổ vì tin làng phản bội như một nhát dao cứa vào tim ông, làm sụp đổ bao niềm kiêu hãnh về làng quê của mình. Ông thấy tủi hổ cho bản thân ông, cho gia đình ông, cho cái làng Chợ Dầu và cả dân làng nơi đó nữa. Nhà văn diễn tả tâm trạng của nhân vật chính này như một sự bất lực, tuyệt vọng. Và cũng chính lúc này, ông nhận ra vẻ đẹp của lòng yêu nước ẩn chứa trong tâm hồn những người khác nữa. Từ mụ chủ nhà xấu người xấu nết mà hễ cứ thấy mặt là ông lại ghét cay ghét đắng, hay người đàn bà tản cư ngồi cho con bú với câu chửi đổng bâng quơ và còn bao người dân khác nữa. Tất cả họ đều sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, chia nhà chia cửa cho đồng bào của mình khi có hoạn nạn, khó khăn, nhất là khi có hoạ ngoại xâm. Nhưng cũng chính họ đã phản ứng quyết liệt trước sự phản bội và không nhân nhượng với bất cứ ai hèn nhát đầu hàng hay chỉ cần là dân của một làng đã đi theo giặc. Mong nhớ và chờ đợi từng ngày từng giờ được trở về làng vậy mà lòng ông thắt lại, và đã dứt khoát với chính mình: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Phải chăng, đến đây diễn biến của chuyện đã để cho tình yêu Tổ quốc rộng lớn thực sự vượt lên trên tình yêu làng xóm, quê hương vốn nhỏ bé trong trái tim nhân hậu, giàu tình cảm của ông Hai. Lời tâm sự của ông với cậu con trai út, nhất là những giọt nước mắt cứ trào ra, chảy dài trên khuôn mặt một người vất vả, đã sống qua mấy chế độ, từng trải cũng nhiều. Ông khóc như thế “để ngỏ lòng mình, minh oan lại cho mình”. Bản chất tốt đẹp của chế độ, ý nghĩa cao cả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khiến cho tình cảm truyền thống của người nông dân có nhiều biến chuyển sâu sắc.

Câu chuyện còn đưa ta đến với một chi tiết rất thú vị, độc đáo. Đó là niềm vui sướng, hoan hỉ của ông khi rối rít đi khoe “Tây nó đốt làng tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn.”. Có lỗ ông Hai là người duy nhất trên thế giới này vui sướng khi bị đốt nhà cửa, làng xóm. Phải đặt vào hoàn cảnh lịch sử của câu chuyện mới hiểu việc mất mát đó chứng tỏ được tinh thần chống giặc của làng Chợ Dầu quyết liệt như thế nào. Niềm hạnh phúc của người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp là được đánh đổi tất cả để đất nước được độc lập, người dân được sống yên bình, êm ả nơi quê cha đất tổ của mình. Không khí thiêng liêng của thời khắc lịch sử đã xóa bỏ được những gì vốn nhỏ hẹp, tư hữu có từ lâu đời ở người nông dân. Phải chăng, Ê-ren-bua đã nói đúng trong trường hợp này, tình cảm của các nhân vật trong truyện khác nào “dòng suối đã đổ ra sông, dòng sông lại đã đổ ra biển” để tình yêu làng xóm quê hương mở rộng ra hòa vào tình yêu Tổ quốc, tình yêu cách mạng lớn lao.

Toàn bộ tác phẩm đã nêu lên một ý nghĩa sâu sắc, đó là sự thay đổi lớn lao về nhận thức của người nông dân trong thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Cốt truyện không phức tạp, dài dòng, ngược lại rất đơn giản, dễ hiểu nhưng đầy bất ngờ, lôi cuốn. Từ những việc tưởng như bình thường nhỏ bé nhờ sự phát triển hợp lí và tài tình của diễn biến cốt truyện mà chứa đựng bên trong những ý nghĩa hàm ẩn sâu sắc, lớn lao. Để cốt truyện phát triển song hành cùng diễn biến tâm lí nhân vật là một thành công trong phong cách sáng tác của nhà văn. Phải nói rằng, Kim Lân rất giỏi trong việc “đãi cát” để “lấy được vàng”.

Làng khép lại trong một dư âm nhẹ nhàng của sự hòa quyện giữa tình yêu làng quê với tình yêu đất nước của người nông dân nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 4

“Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”. Từ ngàn đời xưa đến nay, tình yêu đó vẫn luôn thấm sâu trong lòng mỗi người Việt, từ già đến trẻ, từ bác sĩ, kĩ sư, những con người có hiểu biết rộng đến những người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm lam lũ với công việc đồng áng. Đối với họ, tình yêu nước không thể hiện qua những đóng góp lớn lao về của cải, vật chất mà chỉ đơn giản là niềm tự hào về ngôi làng nhỏ bé nhưng đầy ý chí quyết không đầu hàng giặc của mình. Ông Hai trong tác phẩm “Làng” của nhà văn Kim Lân là một con người như vậy!

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Kim Lân lại chọn một người nông dân làm nhân vật chính trong tác phẩm của mình, làm cơ sở để thể hiện tình yêu nước nồng nàn mà không phải là một anh bộ đội cụ Hồ, một cô giao liên quả cảm. Là vì ở người nông dân, những con người ở hậu phương, có một cách thể hiện lòng yêu nước khiến bao người mến phục – tình yêu làng xóm.

Tự hào, hãnh diện, đó là những cảm xúc của ông Hai về làng Chợ Dầu vốn nổi tiếng có tinh thần đoàn kết chống giặc mà vì chiến tranh, ông và vợ con phải rời bỏ để đi tản cư nơi khác. Mặc dù vậy, trong suy nghĩ của ông không bao giờ quên được ngôi làng của mình, không bao giờ quên những kỉ niệm tuy vất vả nhưng tràn đầy niềm vui và nghĩa tình của ông khi xưa, đi đến đâu, gặp ai, ông cũng khoe về làng của ông. Ông thích với niềm vui nho nhỏ ấy. Cho đến một ngày, ông gặp một đám người tản cư vừa ở Chợ Dầu mới lên và cho hay rằng cả làng Chợ Dầu theo Tây hết rồi, thành Việt gian hết cả rồi! Mới chỉ vừa nghe tin ấy, cố ông Hai “nghẹn hẳn lại, da mặt tê rân rân, ồn lão lặng đi tưởng như đến không thể thở được”. Ông lão bị sốc nặng và tưởng chừng có thể ngất đi vì cái tin như sét đánh bên tai ấy. Ông Hai cố gượng và ngồi nghe cho thật tỉ mỉ, nào là thằng chánh Bệu hăm hở lên xe Cam–nhông theo giặc, nào là cả làng vã cờ thần ra hoan hô nữa chứ! Trời ơi, chẳng lẽ chuyện ấy là thật ư? Không thể, không thể thế được, ông lẳng lặng về nhà rồi nằm thu mình trên giường trấn tĩnh lại và suy ngẫm.Ông Hai – một con người sống từng ấy tuổi tại một ngôi làng, quen tất thảy mọi người không thiếu một ai, rõ tính tình ai tốt ai xấu, nghe tin làng theo giặc, ông không thể tin, nhưng ông không muốn tin cũng không được, ” ai người ta hơi đau bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì?” – ông nghĩ thầm một cách đau đớn.

Niềm kiêu hãnh, tự hào, hạnh phúc, sung sướng, vui thích khi nghĩ về làng bấy lâu giờ bỗng chốc biến thành cảm tủi nhục, thất vọng, đau đớn, xấu hổ, bị mọi người khinh thường. Cảm giác ấy cũng những ý nghĩ tồi tệ đến không tưởng tượng được như từng nhát dao khứa vào tim ông, và ông không dám ra đường, dù chỉ là nửa bước. Ông nằm vật nằm vã trên giường như không thể gượng dậy nổi. Chuyện làng Chợ Dầu theo giặc như khối đá đè nặng lòng lão. Ông như mất hết lí trí, trong đầu ông bây không tài nào thoát ly được những ý nghĩ “làng theo Tây, làng Việt gian, lũ bán nước”.Rồi những lời bàn tán xôn xao ngoài đường làm ông khổ tâm vô cũng đến nỗi ông phải tìm đến xó nhà mà ngồi, mà nấp cho đỡ nhục, đỡ xấu hổ, để tránh đi được phần nào cái thực tại oái ăm, ghê tởm đến cực độ kia. Thật, chỉ với một con người có tình yêu nồng nàn với làng, với xóm, với quê hương xứ sở thì mới đau, mới xót, mới tủi hổ đến như vậy.

Vẫn chưa hết, bà chủ nhà, như muốn xát muối vào vết thương ngày một lớn dần kia của hai vợ chồng ông Hai, bằng một giọng thân mật đến lạ thường, bà đuổi khéo vợ chồng ông, xỉa khéo vào nỗi buồn u uất đã mấy ngày không nguôi của ông Hai. Bị đẩy đến bước đường cùng, ông Hai thoáng nghĩ sẽ quay về làng, một suy nghĩ rất đỗi tự nhiên đối với một con người không còn nơi nào có thể dung thân, nhưng ông nhanh chóng dập tắt ý nghĩ đó, ông cho rằng về làng là đồng nghĩa với việc trở thành Việt gian, là kẻ bán nước, phản cách mạng, phản cụ Hồ. Thế là nơi cuối cùng có thể quay về cũng bị ông phủi bay không một chút do dự. Một con người vì cách mạng, quan tâm đến nền độc lập, tự do của nước nhà như vậy sao có thể là Việt gian, là bọn bán nước cầu vinh! Trong những lúc tưởng chừng như cuộc đời đến đây là chấm hết, ông dang tay ôm con vào lòng, hỏi những câu mà thực ra ông muốn nói thẳng với nó rằng:

Ông thấy tội thay, tủi nhục thay cho chúng khi tưởng tượng ra những cái nhìn hắt hủi, những tiếng mắng xé lòng ông:” Con làng Việt gian!”.

Và cuối cùng thì ông trời cũng không phụ lòng người tốt, nút thắt mấy ngày qua khiến ông Hai mất ăn mất ngủ cũng đã được thào. Sau khi được ông Chủ tịch làng Chợ Dầu lên đính chính lại tin làng theo giặc là “sai sự mục đích” thì trong lòng ông như mở hội. Ông mừng rỡ chạy đi báo cho bác Thứ, cho ông chủ nhà, rồi tất tưởi báo cho mọi người trong làng biết, ông cứ múa tay lên mà khoe tin này, nhìn ông , chắc không ai biết rằng chỉ mới ngày hôm qua đây, ông còn vật vã, trằn trọc trên giường chỉ vì một tin đồn nhảm – làng mình theo giặc.

Một cái kết có hậu cho một người nông dân yêu làng, yêu nước đáng trân trọng đã được Kim Lân viết nên. Thật chẳng quá khi nói rằng bằng ngòi bút sắc bén và chân thực, Kim Lân đã làm cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang truyện, người nghe không thể không tập trung: đọc, nghe để cảm nhận được nỗi đau vô hạn, sự tủi nhục khôn tả của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc; nỗi đau đó, sự tủi nhục đó không cần một tính từ cảm xúc nào diễn đạt, Kim Lân với khả năng miêu tả đặc sắc và chính xác tâm lí nhân vật đã làm cho cảm xúc của ông Hai truyền sang người đọc, người nghe, khiến học không những hiểu mà còn hiểu sâu sắc để rồi hòa chung niềm vui với ông Hai khi tin làng được cải chính. Chắc hẳn ai theo dõi câu chuyện cũng phải nở một nụ cười khi đọc đến đoạn cuối: Nhà ông hai bị giặc thiêu rụi mà ông lại mừng đến khôn tả. Đấy có lẽ là chi tiết nói lên tất cả con người của ông: Một người nông dân có lòng yêu nước thật đáng quý, đáng trân trọng!

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 5

Kim Lân là nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Những thú chơi dân dã mang cốt cách “phong lưu đồng ruộng” như thả diều, chọi gà, nuôi chó săn, thả chim bồ câu, chơi núi non bộ, gánh hát chèo, trẩy hội mùa xuân, v.v… được ông viết rất hay và cho ta nhiều thú vị. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc mang hương đồng gió nội qua 2 tác phẩm: Con chó xấu xí và Nên vợ nên chồng.

Viết về đề tài nông dân và kháng chiến, truyện Làng của Kim Lân thành công hơn cả. Nhân vật chính của truyện là ông Hai đã để lại trong lòng em nhiều ấn tượng sâu sắc, đẹp đẽ.

Ông Hai là một lão nông, cần cù chất phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Hồ Chí Minh.

Cũng như hàng triệu người nông dân khác, ông Hai là một con người cần cù chất phác rất đáng yêu. Ông hay lam hay làm “ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay”. Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát nước, đan rổ, đan rá,… ông đều làm khéo, làm giỏi.

Ông Hai đã sống qua hai chế độ, trước kia ông mù chữ, sau nhờ cách mạng mà ông được học “bình dân học vụ”, biết đánh vần. Kim Lân đã kể rất hay về tình yêu làng của ông Hai. “Làng ta phong cảnh hữu tình” không yêu làng sao được? Cái làng Chợ Dầu vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, “nhà ngói san sát, sầm uất như tính”, “đường trong làng toàn đất đá xanh, trời mưa trời gió bùn không dính đến gót chân”.

Trước kia, ông Hai rất lấy làm tự hào về cái sinh phần quan tổng đốc làng ông. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe “cái dinh cơ cụ thượng làng tôi có lăm lắm là của. Ông yêu làng Chợ Dầu với tất cả sự hồn nhiên, ngây thơ của người ít học. Ông đã mang thương tật trên mình khi bị bắt làm phu xây cái lăng ấy! Đáng lẽ ông không nên khoe, không nên “hả hê cả lòng”. Nỗi đau, nỗi nhục của một đời người nói làm gì nữa cho thêm phần nhục nhã? Nhắc lại chuyện xưa, cũ ấy của ông Hai, Kim Lân đã viết với một giọng văn châm biếm nhẹ nhàng. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng, yêu với tất cả tình cảm trong sáng, chân thành. Ông đã có nhiều thay đổi về mặt nhận thức. Ông không bao giờ còn “đả động” đến “cái sinh phần” ấy nữa, ông biết “thù nó” đến tận tim gan. Ông yêu cái làng Chợ Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả! Cái làng Chợ Dầu của ông “mà cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”. Ông khoe làng mình “những ngày khởi nghĩa rầm rập”, các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập quân sự, “nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì lắm công trình không để đâu hết!”. Có thể nói, từ ngày đi tản cư, phải xa làng thân yêu, bao nỗi buồn vui của quá khứ và hiện tại chứa chất trong lòng ông bao tâm sự. Dưới ngòi bút của Kim Lân, ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước, hiền lành, chất phác hiện lên một cách chân thực, ta thấy gần gũi, bình dị và đáng yêu lắm. Tình yêu làng, tình yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất của người dân cày Việt Nam.

Quyết tâm kháng chiến, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch cũng là một nét rất đẹp trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai. Kháng chiến thì khắp nơi “Ruộng rẫy là chiến trường. Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ”. Vợ con đi tản cư, nhưng ông Hai vẫn ở lại cùng với đội du kích “đi đào đường, đắp ụ” để bảo vệ cái làng Chợ Dầu thân yêu. Khi hoàn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc hách, cực chẳng đã phải xa quê hương, ông tự an ủi mình: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!”.

Xa làng rồi nhớ làng, tính nết ông Hai có phần thay đổi. Ông ít nói ít cười, lầm lầm lì lì, thậm chí cáu gắt, chửi bới vợ con. Ồng vô cùng đau khổ: “Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!”. Chúng ta cảm thông với “tâm sự” u uẩn của ông, thương ông lắm!

Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái án “dữ” cả làng Chợ Dầu “Việt gian theo Tây”, “vác cờ thần ra hoan hô” lũ giặc cướp! ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thề một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên. Vợ con vừa buồn vừa sợ. “Gian nhà lặng đi, hiu hắt”. Ông sợ mụ chủ nhà… có lúc ông nghĩ quẩn “hay ta quay về làng” nhưng rồi ông lại kiên quyết: “Lùng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ của người nông dân về cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đạt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho mỗi chúng ta!

Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông Hai là một tình tiết cảm động và thú vị:

– “Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”

Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má. Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định, vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi.

Vì thế, khi cái tin thất thiệt “cả cái làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây” được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất. Ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”, “mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ…”. Ông mua quà cho con. Ông chạy sang nhà bác Thứ để “khoe” cái tin làng Chợ Dầu đánh giặc, nhà ông bị Tây đốt. Tự hào lắm chứ! Người đọc như được san sẻ niềm vui sướng cùng ông.

Gấp trang sách lại, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân. Những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước… tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam. Chính họ đã đổ mồ hôi làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm nuôi sống mọi người. Chính họ đã đem xương máu, đánh giặc “giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”. (Thép Mới).

“Quê hương là chùm khế ngọt…” là niềm vui, nỗi buồn, là ước mơ đẹp của mỗi chúng ta. Quê hương đang đổi mới “ngói hóa”, no ấm, giàu có trong thanh bình.

Bài học sâu sắc nhất đối với em khi đọc truyện ngắn này của Kim Lân là tình yêu quê hương đất nước, từ lòng tự hào và biết ơn người dân cày Việt Nam.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 6

Tình yêu đất nước quê hương luôn là một trong những nguồn cảm hứng bất tận dành cho các nhà văn nhà thơ. Nó đã trở thành một kim chỉ nam xuyên suốt các tác phẩm thời bấy giờ. Và thật là thiếu sót nếu như lướt qua nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “làng” của nhà văn Kim Lân. Đây chính là một điển hình tiêu biểu cho tình yêu đất nước quê hương, thứ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất trên đời.

Nghệ thuật xây dựng cốt truyện hợp lí và đặc sắc nó khắc họa hết tâm lí người nông dân trong xã hội cũ mà cụ thể là ông Hai. Sự phát triển của tâm lí nhân vật trùng khớp với sự phát triển của cốt truyện. Đặc biệt nghệ thuật xây dựng tình huống độc thoại nội tâm và đối thoại nội tâm bằng những ngôn ngữ vô cùng đặc sắc đã phần nào để độc giả hình dung được một bức tranh người nông dân trong những ngày đầu chống thực dân Pháp.

Tất cả tâm tư tình cảm của ông Hai đều hướng về làng về nước. Điều đó thể hiện rất rõ thông qua những tình huống khác nhau. Trước khi nghe cái tin dữ làng chợ Dầu theo giặc ông Hai là một người luôn tự hào và khoe về cái làng của mình. Nào là đường làng ông lát đá xanh, nhà ngói san sát sầm uất như trên tỉnh, nào là có cái cột phát thanh cao bằng ngọn tre chiều chiều cả làng lại thi nhau nghe tin đánh giặc. Ông cũng vô cùng yêu nơi mình chôn nhau cắt rốn nên mặc dù có lệnh tản cư ông vẫn khăng khăng muốn bám đất giữ làng cùng bộ đội nhưng vì hoàn cảnh riêng nên ông phải đi. Những năm tháng sống trên vùng tản cư niềm vui duy nhất của ông đó là nhớ lại quãng thời gian gắn bó với mảnh đất quê hương, nhớ lại những ngày chiến đấu cùng anh em và chạy lên phòng thông tin nghe tin tức về làng chợ Dầu.

Thế nhưng đúng lúc niềm vui đến thì cũng là lúc ông nghe tin đồn thất thiệt “Cả làng chợ Dầu Việt gian theo Tây”. Ông cố gắng xác minh lại trong cái tin ấy xem có phải là thất thiệt không. “liệu có thật không hở bác? Hay chỉ là….” nhưng đáp lại ông chỉ là cái gật đầu xác nhận và những lời nói gay gắt “ Cả làng nó theo Tây từ thằng chủ tịch trở xuống”. Mặt ông lão như tái đi, cổ họng nghẹn ắng lại ông như lặng đi đến không thể nổi.

Bình thường ông là người hay nói vui tính nhưng hôm nay ông trở về lầm lũi rồi nằm vật ra giường. Lũ con thấy vậy cũng chẳng dám ho he chào hỏi cười đùa. Trong đầu ông bây giờ chỉ còn tồn tại hai chữ “việt gian”, “bán nước”, “theo Tây”. Ông gắt gỏng ngay cả với người đầu ấp tay gối với mình khi được hỏi về cái tin theo tây ấy. Nỗi đau dường như càng xéo xắt khi bà chủ nhà cũng có ý muốn đuổi cả nhà ông đi. Ông như lặng người nhìn đàn con mà đau xót, “ừ thì ra nó là con làng Việt gian đấy”. Suốt mấy ngày ông chẳng dám vác mặt ra đường vì sợ sẽ gặp phải những cái nhìn soi mói, những cải chỉ chỏ chỉ vì là dân làng Việt gian. Nỗi đau đớn xé lòng đã đẩy ông đi đến một quyết định đầy đau xót “làng thì yêu thật nhưng nếu làng theo tây thì phải thù”. Ông nói chuyện với các con nhưng thực ra đó là cuộc đối thoại nội tâm đầy cắn rứt. Mỗi câu nói ra ông cảm thấy mình như nhẹ đi bội phần. Ông yêu làng hướng về làng dù có muôn trùng xa cách.

Niềm vui như trở về với con người ấy, gia đình ấy khi ông nghe tin làng chợ Dầu theo tây được cải chính bởi chính ông chủ tịch xã. Ôi cái cuộc đời này sao mà đẹp đến thế nó như khiến ông hồi sinh thêm một lần nữa. Cái mặt buồn thỉu mấy ngày nay đã rạng rỡ hẳn lên. Ông mua kẹo chia cho các con rồi lại chạy khắp nơi để thanh minh rằng làng mình không bán nước. Ông còn khoe cái tin làng mình bị giặc đốt. Dường như sự mất mát về của cải không làm ông đau đớn bằng việc đánh mất đi niềm tin chỗ dựa dẫm về tinh thần.

Sự lặp đi lặp lại của tâm lí nhân vật ông Hai cũng vô cùng hợp lí nó là đại diện cho suy nghĩ của tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội cũ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Bằng tài năng của mình Kim Lân đã tạo nên một cốt truyện vô cùng đặc sắc và thú vị. Nó chính là cái tài mà không phải nhà văn nào cũng có thể làm được.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 7

Nói về những nhân vật có lòng yêu nước sâu sắc trong các tác phẩm văn học, không thể không kể đến nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.

Chính cách tạo ra tình huống truyện độc đáo để bộc lộ tính cách nhân vật là yếu tố nghệ thuật góp phần vào thành công của truyện.

Đối với mỗi tác phẩm văn xuôi thì việc xây dựng cốt truyện luôn là cần thiết và qua đó nhân vật có thể bộc lộ tâm trạng, hành động của mình. Trong tác phẩm Làng, Kim Lân đã xây dựng được cốt truyện khá là hợp lí và đặc sắc. Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai gắn liền với diễn biến cốt truyện. Trước khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông rất yêu làng, luôn tự hào, thích khoe làng. Nhưng khi ông nghe tin làng Dầu theo giặc, ông như biến thành một con người khác; thay vào tình yêu làng mạnh .mẽ, lòng tự hào về làng là sự chua xót đắng cay và tủi nhục. Cái tin thất thiệt làm đau xé lòng ông Hai. Cuối cùng, tâm trạng ông Hai trở lại vui vẻ bởi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Ông kể về nhà ông bị đốt với niềm vui lổn, điều này trái với quy luật tâm lí thông thường nhưng lại hợp với tâm lí nhân vật ông Hai, hợp với mạch truyện. Thật là một sự kết hợp đột ngột và hay.

Nghệ thuật xây dựng cốt truyện Làng đặc sắc bởi sự phát triển của cốt truyện hợp lí, nó đã diễn tả được chính xác tâm lí người nông dân Việt Nam trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp và cụ thể ở đây là nhân vật ông Hai. Sự phát triển của cốt truyện cũng là sự phát triển tâm trạng của nhân vật chính – ông Hai trong tình huống đặc biệt. Hơn nữa cốt truyện được diễn tả rất sinh động, thành câu chuyện có giá trị nghệ thuật bằng những biện pháp nghệ thuật như độc thoại nội tâm và đối thoại, với ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ của nhân vật rất đặc sắc. Có lẽ vì vậy mà truyện đã xây dựng được một nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong những ngày đầu chống thực dân Pháp với tình yêu làng, .yêu nước mạnh mẽ và sâu sắc.

Advertisement

Tất cả tâm tư, tình cảm của ông Hai đều hướng về làng, về đất nước. Đấy là điều mà ta nhận thấy rõ nhất qua diễn biến tâm trạng trong những tình huống khác nhau của câu chuyện. Trước khi nghe được cái tin “thất thiệt” làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai yêu làng biết bao; ông luôn tự hào về làng và hay khoe khoang là làng mình giàu có. Nào là có nhà ngói san sát, sầm uất như trên tỉnh; đường làng lát toàn bằng gạch đá xanh; khi kháng chiến bùng nổ, cả làng Chợ Dầu tham gia rất tích cực, có phòng thông tin rất lớn. Ông là người rất yêu làng, vốn là người rất sôi nổi, tháo vát cho nên việc đi tản cư khiến ông tù túng bó buộc trong cảnh sống đơn điệu, tẻ nhạt và bưng bít. Ông nhớ cái làng của mình hơn, cái làng đã gắn bó một đời với ông, với những kỉ niệm vui buồn riêng. Ông luôn nghĩ về cái làng của mình, nghĩ đến những ngày tháng vui vẻ làm việc với anh em. Ông rất muốn về làng để được tham gia vào kháng chiến để cùng anh em làm việc nhưng giờ đầy những công việc ấy chỉ trong tưởng tượng. Niềm vui duy nhất của ông là ra phòng thông tin nghe ngóng. Cái nắng gay gắt lại làm ông vui: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!”. Đúng vào lúc tâm trạng ông đang phấn khởi thì nhận được một tin sét đánh: cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Quá bất ngờ, ông Hai choáng váng, cái điều không bao giờ ngờ tới đã xảy ra. Ông vẫn chưa tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây, cố hỏi lại với hi vọng là tin đồn: “Liệu có thật không hở bác ? Hay chỉ lại…”. Cái tin thất thiệt làm đau xé lòng ông: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi như đến không thở được.”. Bình thường ông vốn là người vui tính, hay chuyện, hay nói, vậy mà giờ đây ông như biến thành người khác. Bao nhiêu căm giận, chua xót, tủi nhục cứ chực ào ra trong ông. Làng không còn là những làng thôn ngõ xóm đẹp đẽ nữa mà là cái gì đó lớn lao hơn, là danh dự. Hiện giờ trong tâm trí ông chỉ còn hai chữ “Việt gian; bán nước”. Nhìn lũ con ông càng tủi thân: “nước mắt ông lão cứ tuôn ra”, “các con ông cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư….”. Một không khí căng thẳng bao trùm đè nặng gia đình ông. Suốt mấy ngày ông không dám ló mặt ra đường, trong lòng nóng như lửa đốt. Rồi đây người ta sẽ xua đuổi, sẽ căm hờn, ông và gia đình sẽ muôn đời chịu tiếng xấu, ông càng căng thẳng hơn khi bà chủ nhà báo tin người làng Chợ Dầu sẽ bị đuổi. Mâu thuẫn nội tâm bị đẩy đến tột cùng với sự đấu tranh khá tàn nhẫn trong con người ông. Có lúc ông muốn trở về làng nhưng lập tức phản đối ngay: “Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Ông là người nông dân có tình yêu nước lớn lao. Quá đau buồn, ông nói chuyện với con nhưng thực ra là để giãi bày tâm sự của lòng mình. Tâm trạng ông Hai được thể hiện gián tiếp qua ngôn ngữ đối thoại với đứa con, nói với con nhưng chính là đang nói với mình. Mỗi lần nói ra đôi câu như thấy nỗi khổ trong lòng ông vơi đi bội phần. Ông Hai yêu làng, luôn hướng về làng dù xa cách và tấm lòng ông luôn thuỷ chung với Cụ Hồ, với kháng chiến.

Niềm hạnh phúc lớn nhất của ông là khi nghe tin làng được cải chính. Sự sung sướng của ông lên đến tột độ. Ông trở về với con người bình thường: “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy…”. Ông bô bô báo tin làng không theo giặc “Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.”. Ông còn khoe cả tin làng mình bị giặc đốt. Ngôi nhà đối với người nông dân là vô cùng quan trọng, nó là tất cả tài sản, là của cải cả một đời chân lấm tay bùn, mồ hôi nước mắt. Lẽ ra khi nghe tin nhà bị đốt ông phải vô cùng buồn và tiếc, thế nhưng ông Hai lại vui đến cực độ. Có lẽ niềm vui lớn về danh dự của làng đã át hẳn nỗi buồn riêng tư. Vì thế mà ông Hai cứ-múa tay lên mà khoe cái tin làng không phải Việt gian, nhà ông bị đốt nhẵn. Ông Hai là người yêu làng tha thiết, sâu sắc, tình yêu làng của ông gắn bó với tình yêu quê hương đất nước.

Qua truyện ngắn Làng ta thấy được hình ảnh một người nông dân thuần phác, nhiệt thành, trong trái tim nhân hậu của ông luôn có làng quê đất nước. Tình cảm trung hậu và sâu sắc ấỵ chính là phẩm chất của người nông dân ở nhân vật ông Hai.

Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng – Mẫu 8

Trong văn bản tự sự, cốt truyện đóng vai trò đặc biệt quan trọng, chính cốt truyện là hạt nhân giúp cho tư tưởng và ý đồ của nhà văn được truyền đạt tới người đọc một cách đầy đủ nhất. Cốt truyện giúp nhân vật bộc lộ tính cách qua các sự kiện, cao trào mang tính thử thách, qua đó hoàn thiện nội dung tư tưởng cho tác phẩm. Một văn bản hay phải có một cốt truyện độc đáo và hấp dẫn, lôi cuốn được sự tò mò của người đọc khi thưởng thức nó, bởi vậy mà nhà văn phải rất tài năng mới có thể xây dựng nên một cốt truyện có khả năng thu hút cao. Tiêu biểu trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện phải kể đến nhà văn Kim Lân với tác phẩm tiêu biểu là truyện ngắn “Làng”.

Truyện ngắn “Làng” xoay quanh nhân vật ông Hai với tình yêu quê hương sâu sắc. Việc xây dựng cốt truyện theo tâm lý nhân vật đặt trong hoàn cảnh điển hình tạo nên sự hấp dẫn, sinh động cho tác phẩm. Cốt truyện được thể hiện thông qua những diễn biến tâm trạng của nhân vật trước, trong và sau khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

Trước khi nghe tin làng mình theo giặc, ông đã đi tản cư lên một vùng mới. Những lúc lao động hay lúc nghỉ ngơi ông luôn nghĩ về làng của mình, ông luôn nhớ và tự hào về những năm tháng được cùng anh em, dân làng mình đắp đập, xây ụ chống giặc: “A, sao độ ấy mà vui thế, ông thấy mình như trẻ ra. Cũng cuốc, bong phèng, cũng đào, cũng cuốc mê mẩn suốt ngày”. Ông nôn nao, náo nức khi nghĩ về những hầm đường bí mật của làng, những chòi gác những chòi gác đầu làng. Dẫu xa quê nhưng bóng hình làng ông vẫn luôn nâng niu, trân trọng và dõi theo, tình cảm với làng quê với ông nó gắn bó như tình thân ruột thịt vậy. Ông tự hào về những chiến công của người dân đất nước, từ đứa trẻ thủ đô, nữ sinh xung phong đến anh thanh niên ra trận, họ đều giỏi giang giành những chiến công về cho cách mạng. Ruột gan ông Hai như múa cả lên, vui đáo để bởi những người làm cách mạng giỏi: “Khiếp thật, tinh những người tài giỏi cả”. Ông căm ghét bọn Tây đến nỗi không lúc nào là không nguôi căm tức, hận thù: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó! …. Ngồi trong vị trí giờ bằng ngồi tù”. ” Hừ, đánh nhau cứ đánh nhau, cày cấy cứ cày cấy, tản cư cứ tản cư… Hay đáo để”.

Có lẽ, mọi chuyện sẽ tự nhiên như thế, ông vẫn yêu ngôi làng của mình như thế nếu không có một sự éo le xảy ra. Đó cũng là đỉnh điểm tạo nên nút thắt cho câu chuyện yêu làng của ông Hai, đó là tin làng chợ Dầu theo giặc. Người đàn bà dưới xuôi lên mang theo tin dữ: “Nó rút ở Bắc Ninh về qua chợ Dầu nó khủng bố ông ạ”. Nghe tiếng Chợ Dầu khủng bố lão không tin vào tai mình, cố trấn an rồi lắp bắp, giọng như lạc hẳn như để cố kiểm tra lại cái tin nóng bỏng tay kia: “Nó… Nó vào chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng? …Có thật không hở Bác”. Nghe người đàn bà thông báo tin làng chợ Dầu theo giặc, ông Hai như nghe tiếng sét giữa trời quang, ông đau đớn không dám tin vào tai mình, rồi trong nỗi bẽ bàng ông cố lảng tránh sang chuyện khác để mượn cớ ra về, lòng ông Hai vô cùng trĩu nặng mối bận tâm. Ông đã yêu làng mình như thế, tin làng mình đến như vậy nên làm sao không đau, không buồn cho được khi nghe cái tin dữ dội ấy. Từ tình huống độc đáo này mà vẻ đẹp trong sâu thẳm trái tim nhân vật mới được bộc lộ rõ. Những độc thoại nội tâm, những màn đối thoại không lời lại càng đặc tả tâm trạng đau đớn của người nông dân chất phác mảng trong mình tình yêu làng vô bờ bến ấy. Khi về đến nhà, ông Hai nằm vật ra trên giường chẳng buồn nói năng gì, nhìn lũ con ông buồn lòng, nghĩ về làng ông lại càng xót xa. Điểm mặt từng người trong ngôi làng ấy, ai cũng đều yêu nước, tại sao lại đổ đốn ra như vậy? Nước mắt đớn đau của lão cứ giãn ra trong nỗi tủi hổ, nhục nhã, những lắng lo cho người làng mình, lắng lo cho gia đình cứ cồn cào trong lão. “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?…”. Ông đắng cay với những nỗi dằn vặt, nghĩ suy:” Hay là quay về làng ?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông giàn ra, về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây.”. Dù yêu làng, yêu quê hương mình da diết đấy thôi, nhưng làm sao ông có thể trở về cái nơi đã phản cách mạng, đã phản cụ Hồ được cơ chứ, với ông “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, tình cảm của người nông dân kia vẫn luôn như vậy, chưa bao giờ hết yêu ngôi làng thân thuộc với những con người xưa kia hồn hậu, giàu tình thần chiến đấu, nhưng nếu làng đã theo bọn giặc tàn ác kia thì không thể trở về được, trở về lúc này là sai, là nhục nhã, là chấp nhận làm kiếp trâu ngựa, nô lệ cho chúng nó. Trong lý tưởng yêu nước của người nông dân ấy, luôn một lòng trung thành và thủy chung với ánh sáng của cách mạng cụ Hồ. Mỗi nghĩ suy, mỗi lời nói của ông Hai đều hướng về cách mạng, về ngôi làng Chợ Dầu yêu quý, về đất nước của ông. Nút thắt trong tình huống bất ngờ ấy tạo nên một dòng tâm trạng đầy đớn đau, khổ sở của nhân vật, qua đó tình yêu làng được thể hiện sâu nặng hơn rất nhiều.

Tưởng chừng như nút thắt trong câu chuyện ấy không thể nào tháo gỡ được khi tâm trạng của nhân vật đầy căng thẳng, vô vàn những mối bận tâm, đầy ắp những mâu thuẫn thì tác giả đã tinh tế làm cho câu chuyện thêm phần ý nghĩa dần khi cởi bỏ nút thắt bằng một tình huống bất ngờ khác. Đó là cái tin làng chợ Dầu được cải chính mà ông được nghe từ người chủ tịch xã. Còn gì vui sướng hơn khi còn người ta đang trong đau khổ đến vật vã bởi những điều tiếng, những nhục nhã mà bấy lâu gánh chịu lại được nhận một tin bất ngờ, hạnh phúc đến vậy. Cái hay ở đây là Kim Lân đã không chọn một niềm vui khác cho nhân vật để khiến ông thoải mái mà tác giả đã biết chọn lọc đúng trọng tâm để giải thoát nỗi sợ hãi, đau đớn bấy lâu trong ông. Nút thắt ở đâu, tháo gỡ ở đấy là cách mà tác giả lựa chọn để tạo nên một cốt truyện hoàn chỉnh, tạo nên sự bất ngờ khiến người đọc càng tò mò muốn khám phá câu chuyện. Niềm vui trong lão đã trở lại, “Cái mặt buồn thiu mọi ngày…..hấp háy”. Ông đi khắp nơi khoe cái tin nhà mình bị đốt như niềm vui của một đứa trẻ khi nhận được quà, ngôi nhà thân thương vốn là thứ tài sản quý giá, là nơi mà người ta mong ngóng gìn giữ nhưng với ông giờ đây nó không còn quan trọng nữa, điều quan tâm lớn nhất bây giờ trong ông là giặc đốt làng nghĩa là làng mình chống lại chúng, là làng mình vẫn luôn theo cách mạng, theo cụ Hồ. Niềm vui lớn khi danh dự làng mình, quê hương mình được lấy lại càng bộc lộ rõ trái tim yêu nước của ông Hai.

Không cần phải có những tình huống quá li kì, kịch tính, đôi khi chỉ cần những chi tiết, tình huống nhẹ nhàng cũng tạo nên sự thành công trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tạo nên một dấu ấn riêng cho đứa con tinh thần của mình. Qua truyện ngắn Làng, Kim Lân đã chứng minh thực tế cho điều đó. Chính cốt truyện hấp dẫn và độc đáo ấy là một xương sống tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật, ý nghĩa mà truyện ngắn mang lại. Tình yêu làng quê, yêu đất nước không chỉ thể hiện qua những trận đánh quyết liệt, những hy sinh xương máu mà còn được thấy quá những nỗi đau, những dằn vặt tâm can và những giọt nước mắt hạnh phúc trong cuộc đời.

Bằng tài năng trong cách xây dựng tình huống truyện, cách bộc lộ những tâm tư sâu kín nhất của nhân vật thông qua độc thoại, độc thoại nội tâm, hành động và nét mặt, điệu bộ…tất cả đã góp phần xây dựng nên một cốt truyện theo dòng tâm lý của nhân vật đầy độc đáo, tạo nên một “Làng” riêng biệt mà khi nhắc đến người ta nghĩ ngay đến nhà văn của những người nông dân – Kim Lân.

Văn Mẫu Lớp 9: Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Của Thanh Hải (Sơ Đồ Tư Duy) Dàn Ý & 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất Lớp 9

Qua đó, cũng cho chúng ta thấy rõ tấm lòng yêu mến mùa xuân, cùng những khát khao cháy bỏng, mãnh liệt của nhà thơ Thanh Hải. Mời các em cùng tải 15 bài cảm nhận Mùa xuân nho nhỏ để có thêm nhiều vốn từ, ngày càng học tốt môn Văn 9.

Sơ đồ tư duy Cảm nhận bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Dàn ý cảm nhận bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Cảm nhận Mùa xuân nho nhỏ

Cảm nhận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất (11 mẫu)

Cảm nghĩ về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Cảm nhận khi đọc bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Cảm nhận và suy ngẫm của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

I. Mở bài

Giới thiệu tác giả Thanh Hải và bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.

Cảm nhận chung về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.

II. Thân bài

1. Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên

– Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp trong tưởng tượng của tác giả:

Các hình ảnh đặc trưng của mùa xuân: hoa tím, sông xanh, bầu trời cao rộng

Âm thanh tiếng chim chiền chiện.

Giọt long lanh: hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác độc đáo.

2. Cảm xúc trước mùa xuân của đất nước

Hình ảnh lộc xuân trên “nương mạ”: cuộc sống lao động xây dựng đất nước của lực lượng sản xuất.

Hình ảnh người cầm súng: niềm tin vào ngày mai hòa bình.

Từ láy “hối hả” và “xôn xao”: thể hiện nhịp sống lao động khẩn trương vội vã nhưng nhộn nhịp, vui vẻ kết hợp hài hòa với nhau.

Đất nước được so sánh với những hình ảnh đẹp đẽ, kì vĩ.

Nhắc nhở mọi người nhớ về những tháng ngày gian khổ trong chiến đấu, cách mạng

Phụ từ “cứ” kết hợp với động từ “đi lên” thể hiện quyết tâm cao độ, hiên ngang tiến lên phía trước dù khó khăn gian khổ.

3. Mong ước được cống hiến của nhân vật trữ tình

Điệp ngữ “ta” kết hợp với các hình ảnh “con chim hót, một nhành hoa, nhập vào hòa ca”: hòa nhập giữa cái riêng và cái chung.

Hình ảnh ẩn dụ “mùa xuân nho nhỏ”: thể hiện khát vọng được cống hiến và sống ý nghĩa được thể hiện một cách thiết tha.

Điệp ngữ “dù” kết hợp với “tuổi hai mươi” – còn trẻ, “khi tóc bạc” – già dặn: khát vọng được cống hiện trọn đời.

Khát vọng sống với tình yêu quê hương, đất nước: xin được hát câu Nam ai, Nam bình để đón mùa xuân, ca ngợi mảnh đất Huế mộng mơ.

III. Kết bài

Đánh giá về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.

Mùa xuân là để tài bất tận của thơ ca. Song, cái cảm nhận về mùa xuân của các nhà thơ theo thời gian có nhiều thay đổi. Đối với Mãn Giác Thiền sư, một cao tăng nổi tiếng thời Lý, mùa xuân mang một tính triết lý sâu sắc:

Còn đối với những nhà thơ trước cách mạng, mùa xuân gợi lên một nét sầu cảm:

Nhưng đối với nhà thơ Thanh Hải, mùa xuân mang một nét đẹp đáng yêu tươi thắm; gợi lên trong lòng người đọc nhiều hình ảnh rạo rực tươi trẻ. Vì thế, mùa xuân trong thơ của Thanh Hải là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc. Tất cả đã được thể hiện rõ nét trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một bài thơ đặc sắc được nhà thơ viết không lâu trước khi qua đời.

Người xưa có câu: “Thi trung hữu họa”. Thơ ca vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp của cuộc sống. Mở đầu bài thơ, Thanh Hải đã phác họa nên một bức tranh xuân giản dị mà tươi đẹp:

“Dòng sông xanh” gợi nhắc hình ảnh những khúc sông uốn lượn của dải đất miền Trung quanh co, đó có thể là dòng sông Hương thơ mộng, một vẻ đẹp lắng đọng của xứ Huế mộng mơ.Trên gam màu xanh lơ của dòng sông thơ mộng, nổi bật lên hình ảnh “một bông hoa tím biếc”.

Không có màu vàng rực rỡ của hoa mai, cũng không có màu đỏ thắm của hoa đào, mùa xuân của Thanh Hải mang một sắc thái bình dị với màu tím biếc của bông hoa lục bình. Đây là một hình ảnh mang đậm bản sắc của cố đô Huế. Không biết tự bao giờ màu tím đã trở thành màu sắc đặc trưng của con người và đất trời xứ Huế. Màu tím biếc gợi nhớ hình ảnh những nữ sinh xứ Huế trong những bộ áo dài màu tím dịu dàng thướt tha. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ, đưa động từ ” mọc” lên đầu câu như một cách để nhấn mạnh vẻ đẹp tươi trẻ, đầy sức sống của mùa xuân thiên nhiên. Trong bức tranh mùa xuân của Thanh Hải, không chỉ có hình ảnh, mà còn có âm thanh xao xuyến, ngân nha của con chim chiền chiện. Tiếng chim lảnh lót vang lên làm xao động cả đất trời, làm xao xuyến cả tâm hồn thi sĩ nhạy cảm của nhà thơ. Những từ ngữ cảm thán “ơi, hót chi” đã thể hiện rõ nét cảm xúc của nhà thơ. Mùa xuân của thiên nhiên đã đem đến cho nhà thơ một cảm giác ngây ngất. Mùa xuân ấy không có gì khác lạ, vẫn là một mùa xuân rất giản dị trên quê hương xứ Huế của nhà thơ. Nhưng nhà thơ bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ kì của mùa xuân, một vẻ đẹp mà bấy lâu nhà thơ không để ý. Phải chăng vì đây là lần cuối cùng được ngắm nhìn mùa xuân quê hương nên nhà thơ cảm thấy mùa xuân ấy đẹp hơn, tươi sáng hơn?

Say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp giản dị và nên thơ của mùa xuân, nhà thơ bồi hồi xúc động:

“Giọt long lanh” là giọt mưa xuân, giọt nắng vàng hay giọt sương sớm? Theo mạch cảm xúc của nhà thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang. Bằng một cảm nhận tinh tế, nhà thơ đã hình tượng hóa tiếng chim thành một sự vật có hình dáng, đây là một sự sáng tạo rất mới mẻ chỉ có thể có được nhờ tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ. Như vậy, chỉ bằng ba nét vẽ: dòng sông xanh, bông hoa tím và tiếng chim ngân vang khắp đất trời, nhà thơ đã phác họa nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp trên cố đô Huế.

Từ vẻ đẹp thanh khiết của mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ liên hệ đến mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:

Bốn câu thơ mang cấu trúc song hành thể hiện rõ hai nhiệm vụ của nhân dân: chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và sản xuất làm giàu nước nhà. Hai nhiệm vụ ấy đặt nặng lên vai của người chiến sĩ – “người cầm súng” và người nông dân – “người ra đồng”. Nét đặc sắc của đoạn thơ là việc sáng tạo hình ảnh “lộc”. “Lộc” là chồi non, cành biếc; “lộc” còn tượng trưng cho sự may mắn, niềm an lành trong năm mới. Đối với người chiến sĩ, “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù. Đối với người nông dân, “lộc” là những mầm mạ non trải dài trên đồng ruộng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu. Người chiến sĩ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc sẽ đem về “lộc” là sự an lành niềm vui, niềm tự hào chiến thắng cho dân tộc. Người nông dân gieo trồng lúa trên đồng ruộng sẽ đem về “lộc” là những hạt gạo trắng ngần, những bát cơm ngon ngọt cho đồng bào cả nước. Cả dân tộc bước vào xuân với khí thế khẩn trương và náo nhiệt:

Bằng cách sử dụng từ láy “hối hả-xôn xao” cùng với điệp từ, tác giả đã mang đến cho câu thơ một nét rộn ràng, nhộn nhịp. “Hối hả” nghĩa là vội vã, khẩn trương. “Xôn xao” là có nhiều âm thanh trộn lẫn vào nhau, làm cho náo động. Từ những âm thanh xôn xao và sự hối hả của con người, nhà thơ lại suy tư về sự phát triển của đất nước qua bốn ngàn năm lịch sử.

Cuộc đời là giọt nắng ban mai, là hạt mưa vội vã, là cơn gió dịu mát. Nhà Thơ phải đưa tay hứng lấy những hồn, những sắc của cuộc sống và rót vào đoá hoa thi ca, để bông hoa vươn mình dâng lên cho đời mật ngọt quý giá,hương nhụy trong lành. Hẳn rằng, đã là người nghệ sĩ, có ai cất đi những rung động của trái tim vào chiếc rương khóa chặt, có ai giã từ bốn chữ “tận tâm tận tụy” mà mặc nhiên để “tâm nhãn” ngủ đông khi đứng trước những biến thiên của thế gian. Hiểu được một điều tất lẽ dĩ ngẫu ấy, Thanh Hải đã chắp bút viết nên hồn thơ “Mùa xuân nho nhỏ” khi nhịp thở dần yếu ớt, khi miền đất chết đã cận kề. “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng của người thi nhân đang hấp hối nhưng chớ lầm tưởng rằng tiếng lòng ấy sẽ bi quan, u uất. Thi phẩm là viên ngọc được kết tinh từ niềm ái mộ tha thiết của nhà thơ trước thiên nhiên, đất nước và cũng là nơi Thanh Hải gửi gắm niềm ước nguyện của mình.

Thanh Hải, một trong những thi nhân được nuôi dưỡng trong tiết trời của xứ Huế, gắn bó cả đời người bên người mẹ thứ hai mang tên “Huế”. Ông là một nhà thơ luôn hướng ngòi bút của mình vào lý tưởng sống và tình yêu để từ ấy góp sức vào sự nghiệp dựng xây nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác lúc ông đang ở trên giường bệnh vào những ngày cuối đời. Với giọng thơ hồ hởi, thiết tha đan xen những hình ảnh hồn xuân, sắc xuân, Thanh Hải đã dẫn bạn đọc đến với một mùa xuân tràn đầy tin yêu của mảnh đất Huế kinh kì hoa mộng, của đất nước Việt Nam. Ông còn gửi vào thi phẩm âm hưởng của niềm hi vọng về những vị lai đất nước sẽ tươi sáng hơn, thể hiện một niềm tự hào cùng khát khao tận hiến cho quê hương xứ sở.

Mở Đầu tác phẩm, ông đã trở thành người hoạ sĩ vẽ nên một bức tranh về một mùa xuân rất Huế với những gam màu thật ấm áp:

“Mọc” là vươn lên để đón lấy những nắng gió cuộc đời, là sự trỗi dậy, sự thức tỉnh sau một giấc ngủ đông. Bằng việc vận dụng nghệ thuật đảo ngữ,từ “mọc” đặt ở đầu câu thơ càng tô đậm sức sống mãnh liệt đến bất ngờ của thiên nhiên, tạo vật khi khoác lên mình chiếc áo của sự khởi đầu và hứng lấy những tinh chất quý giá của ngày xuân. Cũng góp vào thi đàn hồn thơ nàng xuân, Chế Lan Viên đã viết “Xuân Về”, về trên màu xanh của tà áo chuối non, màu đỏ của những chùm pháo trước nhà và sắc hồng dịu dàng của hoa đào. Còn Thanh Hải, ông chọn cho mình những gam màu dịu dàng,nên thơ và rất đặc trưng của Huế. Đó là khúc sông uốn lượn tựa như tấm lụa đào thướt tha của dải đất miền Trung quanh co. Phải chăng đó chính là dòng Hương Giang êm đềm, hiền từ ? Dòng sông đó đã hoà nhập với bầu trời xanh thẳm bên trên để biến thân thành một “dòng sông xanh”. Chấm phá trên phông nền xanh xanh ấy là hình ảnh “một bông hoa tím biếc”.Xuân miền Nam là hoa mai nhuộm màu vàng rạo rực của nắng. Xuân miền Bắc là cành đào e thẹn nép sau chiếc váy màu hồng nhạt. Còn mùa xuân của Huế, mùa xuân của Thanh Hải là một màu tím biếc. Chẳng biết tự bao giờ, mỗi lần nhắc đến tên gọi của vùng đất Cố đô thương nhớ, người tại mường tượng ra một sắc tím thủy chung ôm trọn cả bầu trời. Đến với hồn thơ của Thanh Hải, ta lại thấy sắc tím bình dị thấp thoáng giữa dòng Hương như một biểu tượng ngàn năm của xứ Huế trầm tư, cổ kính.

Cổ nhân từng nói: “Thi trung hữu nhạc” tức trong thơ trữ tình có nhịp điệu hòa quyện với nhạc, chứa đựng những thanh âm của nhà hát cuộc đời. Có lẽ vì vậy, Thanh Hải đã thả trọn những vang vọng của thiên nhiên đang độ xuân về vào vần thơ của mình:

Có thứ âm hưởng thật ngọt ngào, dịu dàng trong “ngôn ngữ Huế”. Thanh Hải là một người gắn bó với xứ Huế bằng tình yêu tha thiết, chân thành nên trong giọng thơ trìu mến, thân thương của ông tồn tại hình bóng của từ “Ơi”mộc mạc, gần gũi và lời trách yêu “hót chi mà”. Trong bản trường ca mùa xuân, chàng nghệ sĩ chiền chiện đã cất cao tiếng hát trong veo, thánh thót và ngân nga. Hàng ngày ngồi bên cửa sổ phòng bệnh, màu tím biếc của hoa, sắc xanh của dòng nước và điệp khúc của tiếng chim cứ gợn trong mắt, âm vang bên tai nhà thơ. Đó đều là những hình ảnh, tín hiệu đặc trưng của mùa xuân cố đô. Ông đã nâng lên chén rượu kính đời và “say” trong niềm thổn thức trước thiên nhiên. Tâm trí của nhà thơ như con thuyền nhỏ đi từ bến cõi thực sang bến cõi mộng. Sóng xanh, hoa tím, tiếng chim… đều kết tinh thành giọt:

“Giọt long lanh” – hình ảnh giàu sức gợi và ẩn chứa muôn trùng sắc thái. Đó Phải chăng là dư âm của trận mưa đọng lại trên phiến lá? Hay mùa gió xuân đã thổi những hạt phấn của nắng sớm phủ lên giọt sương mai nơi kẽ lá, như những viên pha lê xinh đẹp ? Có lẽ là tất cả và còn nhiều hơn nữa.Đó cũng là giọt hạnh phúc của tình đời đượm thắm cả đất trời, hòa quyện vào tâm hồn thi sĩ. Trong mối liên kết với câu thơ trước, tiếng chim hồn nhiên, trong trẻo mà da diết dưới vòm trời cao rộng đã kết đọng lại thành từng “giọt âm thanh” rơi xuống hồn người, chạm vào cõi sâu lặng, khuấy lên bao nỗi niềm của nhà thơ. Bằng tâm hồn tinh tế và điểm nhìn nghệ thuật độc đáo, ông đã hình tượng hóa tiếng chim như suối nguồn âm thanh tuôn chảy trong ánh sáng rạng rỡ. Tiếng chim từ chỗ được lắng nghe bằng thính giác chuyển sang thị giác rồi xúc giác. Đó chính là nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được Thanh Hải sử dụng một cách tài tình. Thi nhân vội vàng đưa đôi bàn tay để “hứng” lấy thứ quà tặng của thiên nhiên xứ Huế với một sự đón nhận, nâng niu, trân quý như sợ rằng, nếu không làm như vậy thứ âm thanh ngọt lành kia sẽ chìm vào thinh vắng. Đại từ “tôi” được điệp hai lần đã gợi nên khát khao được ôm trọn vào lòng tất cả tinh hoa của cuộc sống, được tận hưởng, chiếm lĩnh và giao hòa với bản hoà tấu mùa xuân.Như vậy, chỉ với vài nét hoạ, đan xen một chút chất nhạc, Thanh Hải đã phác họa được một kiệt tác tuyệt sắc mang điệu hồn thơ mộng, trữ tình của mùa xuân đất Huế căng tràn sức sống. Từ đó, bộc lộ niềm say xưa, ngây ngất của tác giả trước thiên nhiên đất trời mùa xuân.

Vẻ đẹp của mùa xuân kinh thành Huế chính là một nét hoạ thần tình tô đậm cho vẻ đẹp của chốn thiên đường mang tên “mùa xuân con người, mùa xuân đất nước”:

Không phải ngẫu nhiên mà Thanh Hải sử dụng hình thức sóng đôi nhịp nhàng với hai hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. Bởi lẽ họ là những người đại diện cho sức mạnh dân tộc. Đồng thời, biểu trưng cho hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của đất nước ta là chiến đấu ở tiền tuyến và lao động xây dựng hậu phương vững chắc. Nét đặc sắc của đoạn thơ là việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ “lộc”. Lộc biếc rũ bỏ quá khứ điêu tàn, cũ kĩ để vươn lên sau những cơn mưa xuân rét mướt, những ngày đông giá lạnh trong kén lá đang ngỡ ngàng nhìn vạn vật. Lộc giắt đầy trên lưng “người cầm súng”, phơi phới bước chân ra trận gợi liên tưởng đến cành lá ngụy trang của người chiến sĩ. Lộc mà người chiến sĩ mang đến cho chúng ta là mồ hôi, là giọt lệ, là xương máu mà các anh đổ xuống vì toàn dân, là thành quả của những năm tháng dốc toàn sức toàn lực bảo vệ mùa xuân thanh bình của tổ quốc, là phong bì đỏ của niềm hạnh phúc, an lành gửi đến mọi nhà. Lộc trải dài vô tận trên nương mạ do những đôi tay chai sạn của”người ra đồng” gieo trồng. Những người nghệ nhân ấy đã tô điểm thêm cánh diều xanh của niềm tin, hi vọng đang tung bay trong mùa gió xuân. Lộc mà người nông dân dành tặng cho người, cho đời là dãy bắp, bãi dâu, là những hạt gạo trắng ngần, những bát cơm ngon ngọt. Người cầm súng mang theo sức xuân vào trận đánh, người ra đồng gieo mùa xuân trên từng thửa ruộng. Họ đã mang cả hương vị mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Tất cả “như hối hả”, “như xôn xao” mà hoà quyện trong sự phồn thực của mùa xuân. Điệp từ “tất cả” đi liền với những từ láy “hối hả, xôn xao” làm cho nhịp thơ trở nên sôi động, lời thơ chan chứa niềm hân hoan, rung động. Tác giả đã mang đến âm hưởng của nét sống rộn ràng, nhộn nhịp, khẩn trương trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước.

Cung bậc cảm xúc của thi nhân bất giác gói gọn trong nỗi chạnh lòng khi thước phim bốn ngàn năm lịch sử của quê hương, đất nước chợt sống dậy trong nhịp thơ trầm tư, sâu lắng:

Xuyên suốt chiều dài của triền đê mang tên “Lịch sử”, mốc thời gian “bốn ngàn năm” đã đi vào tâm thức của biết bao thế hệ. Một lời tổng kết về lịch sử đất nước “bốn ngàn năm” với bao “vất vả”, “gian lao”, với muôn vàn những thăng trầm, gian truân,biến động. Cái nghèo cái đói chẳng buông tha, bão giông, nắng lửa chẳng nương tay, những cơn thủy triều của sự đau thương, mất mát cứ xé nát tâm can. Song, Thanh Hải đã sử dụng hình ảnh so sánh “Đất nước như vì sao” để khẳng định sức mạnh lớn lao, ý chí bất khuất và bản lĩnh can trường của tổ quốc Việt Nam. Vì sao ấy luôn luôn tỏa ra vầng hào quang rạng ngời, sáng tỏa, vững vàng bay lên từng nấc thang của bầu trời rộng lớn để ngày càng văn minh, hạnh phúc. Điệp từ “đất nước” cộng với cấu trúc song hành “đất nước bốn ngàn năm, đất nước như vì sao” diễn tả nhịp vận động đi lên của lịch sử và khẳng định sự trường tồn vĩnh cửu của đất nước. Dằng dặc bốn ngàn năm, ta vẫn là ta, là một quốc gia nhỏ bé trên bản đồ thế giới nhưng lại khiến toàn nhân loại thán phục với những chiến công hiển hách. Đó là ba lần thắng lợi trước đoàn quân Mông -Nguyên hung hãn. Là Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử – mồ chôn của bao đế chế ngông cuồng. Là những năm tháng đấu tranh ngoan cường khiến Mĩ và Pháp phải thua cuộc. Hình ảnh một quốc gia dẫu trải qua bao nhiêu khó khăn, dẫu phải đứng trước những kẻ thù to lớn vẫn không bao giờ cam tâm quỳ xuống đã đi vào hồn thơ của Hạ Văn Thịnh:

Từ “cứ” vang lên như một nốt thăng với khí thế hào sảng. Tiếng thơ là một lời khẳng định hùng hồ và chan chứa niềm tin, niềm tự hào bất diệt của Thanh Hải vào sức sống của dân tộc, vào sự phát triển không ngừng trong tương lai của đất nước.

Tận sâu nơi cõi lòng của nhà thơ dâng trào một nỗi khao khát, một nguyện vọng hiến dâng cho đời tựa như một tia sáng vụt lên khỏi vực thẳm tăm tối nhuốm bệnh hiểm nghèo, như một dòng suối ấm nóng len lỏi đến mọi ngõ ngách của trái tim người thi nhân và người thưởng văn:

Thanh Hải đã đặt bàn tay xám ngắt của mình lên chiếc vĩ cầm “thơ ca” để tấu lên giai điệu ngọt ngào, du dương, êm ái rót vào tâm hồn, nhẹ nhàng xoa dịu trái tim. Giai điệu ấy hiện lên trong những thanh bằng liên tiếp,những luyến láy, điệp ngữ “ta làm…ta làm…ta nhập”. Tiếng thơ như một lời thủ thỉ tâm tình về niềm ước nguyện của nhà thơ. Thi nhân muốn hoá thân đến tột độ, hóa thân đến trọn vẹn hồn cốt – một sự hoá thân diệu kì. Đó hẳn là nguyên do mà ông sử dụng các động từ “làm” , “nhập”. Cái “ta” ở đây không phải là của riêng tác giả hay một cá thể đơn thân nào khác.”Ta” giờ đây là là một quần thể, một dân tộc. “Ta” đã đồng thanh, đồng điệu với mọi người, chân trời riêng đã hoà quyện với chân trời chung. Những hình ảnh”con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm” dẫu nhỏ bé, đơn sơ nhưng lạ phúng dụ lẽ sống cao đẹp của Thanh Hải. Ông muốn làm một “con chim”trong muôn vàn loài chim, góp vào đời tiếng hót tươi vui, tha thiết làm đắm say lòng người. Ông chỉ xin được làm “một cành hoa” trong xứ sở hoa với đủ đầy những gam màu từ rạng rỡ đến âm trầm. Và người thi sĩ ấy chỉ ước mong được làm “một nốt trầm” lặng lẽ, âm thầm cứ mãi du dương để lại dư âm bồi hồi, xao xuyến trong lòng người. Bản giao hưởng cuộc đời không thể thiếu những nốt trầm ấy. Thanh Hải – “nốt trầm” trong bản hoà ca muôn điệu của đất nước đã để lại trong lòng người đọc hình ảnh một thi sĩ sống với điều tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Khát vọng được cống hiến của tác giả cũng gặp được nét đồng điệu với nhạc sĩ Trương Quốc Khánh:

Khát vọng cống hiến sức nhỏ, cống hiến những gì tinh túy nhất của đời người cho đất nước đã làm sáng lên hồn thơ, làm ngân lên âm hưởng của một lẽ sống khiêm tốn, cao cả:

Mùa xuân là thước đo của thời gian, hạn định của không gian. Song, Thanh Hải đã sử dụng từ láy “nho nhỏ” đã định hình cho khái niệm trừu tượng, thể hiện ước vọng khiêm tốn, dung dị. Tính từ “lặng lẽ” cho thấy vẻ đẹp của một tâm hồn, lối sống và nhân cách không ồn ào, khoa trương. Ông tự nguyện cả cuộc đời cho đi một cách lặng lẽ mà không hề đòi hỏi người ta sẽ nhớ đến danh xưng, ghi tạc vào sử sách. Ví như người lao công lặng lẽ giữ sạch đường phố, người bác sĩ lặng lẽ cứu lấy những sinh mệnh đang hấp hối.Lặng lẽ thôi mà sao ý nghĩa, đẹp đẽ biết bao. Lặng lẽ thôi mà sao như dòng suối mát lành, như ngọn lửa ấm áp. Ngâm khẽ những vần thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, bức thư tự tình của tác giả khiến ta nhớ đến một Sapa lặng lẽ nhưng không tầm thường, những con người cứ lặng lẽ mà miệt mài cống hiến thanh xuân và sức trẻ cho đất nước. Hay trong Áo xanh của Quách Tỉnh Xuân Trường có đoạn:

“Điệp ngữ “dù là” cùng hình ảnh đánh dấu hai mốc son quan trọng của đời người “tuổi hai mươi” và “ khi tóc bạc” khiến cho lời thơ khẳng khái như một lời hứa, lời tự nhủ rằng sẽ trọn đời cống hiến của nhà thơ. Trên lưng đồi từ tuổi trẻ đến những ngày vãn niên, khát vọng hiến dâng, lí tưởng sống thầm lặng và cao đẹp đã trở thành một lời tuyên thề vững bền, một tâm nguyện thủy chung in sâu vào trái tim người thi sĩ ấy. Tuổi hai mươi với nguồn năng lượng dạt dào, căng tràn sức sống, ông đầy kiên nghị và sôi nổi, hết mình sống vì sự nghiệp xây dựng đất nước. Khi thời gian lưu lại dấu vết trên mái tóc bạc màu, ngọn lửa nhiệt huyết vẫn không bao giờ tắt lịm.Ngọn lửa ấy cứ bập bùng cháy mãi, mùa xuân ấy cứ nho nhỏ mà lại tận tâm tận tụy hoà nhịp cùng “Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng”. (Nguyễn Phan Quế Mai)

Sau những buồn vui, thành bại, quê hương vẫn là nơi đón nhận, là “phòng triển lãm” lưu giữ những gì còn lại của đời người. Khúc ca cuối cùng của Thanh Hải vẫn hướng về vẻ đẹp quê hương, vẫn là khúc ca dành cho Huế:

Khúc Nam ai là khúc nhạc buồn thương, da diết gợi nên thước phim quá khứ đầy hy sinh, khổ đau mà đất nước đã trải qua. Và trong tiết xuân hiền hoà, ấm áp của hiện tại ta thấy ngân vang khúc Nam Bình – khúc nhạc êm ái, trìu mến. Những âm điệu đặc trưng của Huế đã hoà vào dòng máu của nhà thơ, đã trở thành một phần của linh hồn và luôn thường trực trong “ốc đảo” trái tim. Bằng điệp ngữ “nước non ngàn dặm” kết hợp gieo vần bằng “bình, mình, tình” làm cho âm hưởng bài thơ ngọt ngào, dịu nhẹ như làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế. Bài thơ khép lại với “nhịp phách tiền” rộn ràng,xao động. Đó là điệu nhạc của cuộc sống mới, sức sống mới của dân tộc.Con đò xứ Huế trên dòng sông Hương chở theo những câu hò xao xuyến,bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết rót vào hồn người. Để mỗi khi nghe hò là người ta nhớ đến Huế:

Xuân Diệu quan niệm: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác , hay cả bài”. Thơ hay là hay từ vẻ đẹp bên ngoài đến cốt cách bên trong. “…”chính là một thi phẩm không chỉ thành công về mặt nội dung mà còn mang những nghệ thuật đặc sắc.Ta dễ dàng nhận thấy bài thơ có cấu tứ “lộ thiên”theo chiều không gian mở. Mạch thơ đi theo trình tự: Xuân thiên nhiên – Xuân con người – Xuân đất nước – Xuân thi sĩ và cuối cùng là Xuân đất Huế quê hương. Nhờ có những biện pháp ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ… đã góp phần làm nổi bật cấu tứ, hình ảnh, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm. Mỗi câu thơ đều giàu sức gợi tình, gợi cảm. Đây quả là một bài thơ kết hợp hài hòa bốn yếu tố : ý – tình – hình – nhạc. “Bài thơ không chỉ hay về ý tứ mà còn hay về nhạc điệu. Câu thơ 5 tiếng ngắt nhịp 3/2 xen với 2/3 linh hoạt…Không chỉ ngắt nhịp linh hoạt, nhà thơ còn chú ý dùng vần trắc cuối năm khổ thơ, tạo một âm vang giòn giã như thể nhịp phách tiền…” (Trần Đình Sử, Đọc văn học văn). Thả hồn vào “Mùa xuân nho nhỏ”, ta có thể cảm nhận được chất thi vị trong hồn thơ Thanh Hải.

“Mùa xuân nho nhỏ” là ngọn lửa diệu kì ủ ấm đôi tay xám ngắt của thi nhân.Ngọn lửa ấy như có phép màu truyền hơi thở, truyền tình yêu vào mạch huyết, vào trái tim của nhà thơ. Thi phẩm là tiếng hát của thiên nhiên đất trời, là tiếng nói ngân vang của cõi lòng người con xứ Huế với tình yêu dạt dào dành cho quê hương, đất nước, với khát vọng dâng hiến trọn đời vì tổ quốc. Hồn thơ cứ nhẹ nhàng mà thấm thía, lặng lẽ mà chạm đến ngưỡng rung động vĩnh hằng của trái tim người đọc. Tác phẩm là một minh chứng cho “nghệ thuật vị nhân sinh” bởi lẽ nó đã tác động và khơi gợi được”những ngọn lửa” tư tưởng tích cực, tiến bộ neo đậu trong trái tim độc giả trẻ rằng ta phải sống ý nghĩa, cống hiến hết mình vì dân tộc. Bài thơ được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc trở thành ca khúc vượt thời gian để người đời hiểu thêm nhân cách một thi sĩ, một chiến sĩ.

Mùa xuân luôn là đề tài phong phú cho các thi nhân thử bút. Đã có không ít bài thơ hay viết về mùa xuân. Nhà thơ Thanh Hải cũng khá thành công khi viết bài thơ Mùa xuân nho nhỏ để nói lên ước nguyện khiêm tốn của mình, ước nguyện được dâng hiến mùa xuân bé nhỏ của mình vào mùa xuân chung của dân tộc, vào xuân bất tận của đất trời.

Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh ngày 4-11-1930, ở Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động cách mạng từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thanh Hải là một trong những cây bút có công lớn trong việc xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ cuối cùng của Thanh Hải, được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đời (1980). Bài thơ thể hiện cái nhìn tươi tắn, lạc quan của tác giả đối với đất nước, với con người Việt Nam trong thời kì cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mở đầu bài thơ, Thanh Hải dựng lên khung cảnh của một mùa xuân:

Không gian mùa xuân hiện lên trước hết từ một dòng sông xanh với một bông hoa tím biếc. Đây là những hình ảnh vốn rất riêng của quê hương xứ Huế – quê hương yêu dấu của tác giả. Sự hoà hợp giữa màu xanh của dòng sông và sắc tím của bông hoa đã tạo nên một cảm giác mát dịu. Khung cảnh mùa xuân còn gợi lên những âm thanh quen thuộc, vui tươi của con chim chiền chiện, loài chim thường xuất hiện vào mùa xuân, như một dấu hiệu của mùa xuân. Tiếng hót của con chim chiền chiện vang trời đã làm cho không khí mùa xuân trở nên náo nức lạ thường. Tiếng chim chiền chiện đã được cụ thể hoá, hình tượng hoá. “Từng giọt long lanh rơi / Tôi đưa tay tôi hứng” là một hình thức chuyển đổi cảm giác. Âm thanh vốn chỉ nghe thấy, nhưng được chuyển đổi nên có thể cảm nhận, nhìn thấy và có thể tiếp xúc được. Ngay trong đoạn mở đầu, chúng ta đã hình dung được tâm trạng say mê, đầy hào hứng của nhà thơ trước mùa xuân mới của đất trời.

Bài thơ được viết khi cả nước đang trong không khí xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong không khí chung đó, không thể thiếu hình ảnh của những người đã cầm súng bảo vệ Tổ quốc và những người làm ra hạt gạo nuôi sống bao thế hệ:

Những người đang ngày đêm cầm súng bảo vệ tổ quốc và những người góp phần xây dựng quê hương đã được tác giả nhắc đến đầu tiên trong bài thơ. Đó là những người đã chịu nhiều hi sinh trong kháng chiến cũng như trong thời bình. Mùa xuân hiện hữu trong tất cả các hoạt động, mùa xuân theo người chiến sĩ ra mặt trận, mùa xuân theo người nông dân ra đồng. Mùa xuân không còn là khái niệm thời gian mà đã trở thành người bạn của những người ngày đêm làm giàu và mang lại bình yên cho dân tộc. Xuân trong thơ Thanh Hải gần như đã có hồn và dường như thật hối hả trong nhịp sống chung của dân tộc. Nhắc đến hình ảnh người lính, tác giả không quên lịch sử hào hùng của dân tộc:

Bằng những câu thơ giản dị, tác giả đã khái quát một cách cô đọng lịch sử của dân tộc, Chặng đường dân tộc đã đi qua thật dài và nhiều chông gai. Nhưng không vì thế mà làm cho bước đi của dân tộc bị chậm lại. Đất nước vẫn như những vì sao tiến lên phía trước. Câu thơ chính là lòng tin và niềm tự hào của tác giả vào đất nước, vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng. Cảm động biết bao khi đó là lời của một người đang nằm trên giường bệnh và sắp từ biệt cõi đời. Phải là người có sức sống, niềm lạc quan và tin tưởng nồng nhiệt mới có được những vần thơ như thế.

Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ mang nhiều ý nghĩa. Mùa xuân với khái niệm thời gian đã được tác giả chuyển thành khái niệm của một sự vật nhất định. Chủ đề của bài thơ bộc lộ rõ qua đoạn thơ:

Đến đây cái tôi đã được thay bằng cái ta và cảnh vật của thiên nhiên trong mắt quan sát của nhà thơ đều được thu nhỏ lại trong cái ta ấy. Mỗi một bông hoa, mỗi một tiếng chim, mỗi cảnh vật thiên nhiên đều góp phần tạo nên mùa xuân chung của đất nước. Và ta là tác giả cũng là một con người cụ thể, ta hãy như con chim chiền chiện, như bông hoa tím biếc trên dòng sông xanh, như một nốt trầm trong bản hoà ca xao xuyến của dân tộc. Cái ta chỉ khiêm tốn giữ vị trí của nốt trầm trong bản nhạc. Mỗi con người đều là một mùa xuân nho nhỏ, cống hiến sức lực và cuộc đời của mình để làm nên mùa xuân lớn của đất nước, của dân tộc.

Khổ thơ cuối cùng là lời tâm tình của tác giả, lời của một đứa con nói với quê hương:

Khổ thơ mang đậm làn điệu dân ca xứ Huế và là khổ thơ duy nhất trong bài có hình ảnh Huế – quê hương của tác giả. Không vì thế mà bài thơ không chứa trong đó tình cảm của tác giả đối với quê hương. Cái hay của câu thơ ở chỗ đã đúc kết được tất cả vẻ đẹp của mùa xuân, của xứ Huế thơ mộng và chất chứa trong đó là nỗi niềm của một người con đang sống những ngày cuối cùng của cuộc đời.

Bài thơ được viết khi tác giả phải nằm trên giường bệnh nhưng vẫn tràn đầy lòng yêu đời, yêu cuộc sống và hơn cả là tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm của nhà thơ đối với đất nước. Đó chính là thông điệp Thanh Hải gửi đến tất cả mọi người: “Hãy góp một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân chung của đất nước, của dân tộc”.

….

Mùa xuân là mùa của những sự khởi đầu mới, mùa mà vạn vật như hồi sinh, mùa mà nhựa sống của thiên nhiên và con người dâng trào mãnh liệt nhất. Mùa xuân cũng là nguồn cảm hứng bất tận cho những thi sĩ yêu thiên nhiên. Và Thanh Hải cũng là một trong những người thi sĩ như thế! Bằng tình yêu thiên nhiên tha thiết, tình yêu đất nước nồng nàn và khát vọng cao đẹp của mình, Thanh Hải đã sáng tác Mùa xuân nho nhỏ – bài thơ đẹp đẽ ghi dấu ấn cuộc đời của ông.

Nhắc đến những bài thơ về mùa xuân, người ta có thể ngay lập tức nhớ tới Vội vàng của Xuân Diệu – một bài thơ xuân ngọt ngào, thắm đượm:

Thế nhưng, người ta cũng không thể nào quên được hình ảnh của một mùa xuân thấm đẫm tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước và khát vọng được dâng hiến cháy bỏng của Thanh Hải trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được.

Nếu như Xuân Diệu bắt đầu bài thơ xuân của mình bằng một ước muốn rằng:

Thì Thanh Hải lại mở đầu bài thơ xuân của mình bằng cả một không gian rộng lớn bao la với chim chóc, hoa lá, với dòng sông, … trong trí tưởng tượng của mình:

Tại sao nói tất cả không gian rộng lớn kia, tất cả tạo vật đang hoan hỉ trong bức tranh kia là trong tưởng tượng của tác giả? Đó là bởi vì khi ông viết lên những dòng thơ đầu tiên của bài thơ này, ông đang nằm dưỡng bệnh tại quê nhà ở Huế của mình vào tháng mười một năm 1980. Ấy thế mà cả mùa xuân hiện lên thật rực rỡ, thật đậm sắc qua từng hình ảnh thơ của Thanh Hải. Ông đã khắc họa cái không gian rộng lớn, thoáng đãng khi mùa xuân ào đến, cùng với sắc hoa, cùng với chim chóc và dòng sông, tạo nên một bức tranh mùa xuân đẹp tuyệt vời.

Xuất hiện ngay ở dòng thơ đầu tiên là hình ảnh của một bông hoa nhỏ, mọc lên từ giữa dòng sông xanh biêng biếc. Chỉ có “một bông hoa tím biếc” như là một dấu hiệu báo cho con người và vạn vật rằng nàng xuân đã đến rồi. Bông hoa ấy chẳng phải màu đỏ rực, chẳng phải màu vàng phai, hồng thắm mà lại là màu “tím biếc”. Đây là màu sắc đặc trưng của quê hương ông – xứ Huế mộng mơ. Người ta biết đến Huế với những nhịp cầu Tràng Tiền nhịp nhàng với những tà áo dài Huế tím biêng biếc say mê, thế nên chẳng phải tự nhiên mà ông mang cái màu sắc đặc trưng ấy vào trong dòng thơ đầu tiên của Mùa xuân nho nhỏ. Đó phải chăng là một tình yêu thương thắm thiết với quê hương mà Thanh Hải muốn gửi gắm qua từng dòng thơ của mình?

Xứ Huế còn được đặc trưng bởi dòng sông “trăm thứ hương đổ về” – sông Hương. Và Thanh Hải đã đặt dòng sông ấy vào ngay trong câu thơ đầu tiên như để tri ân với quê hương. Một dòng sông Hương “xanh” biêng biếc đang lững lờ uốn lượn, trải dài trước mắt của chúng ta. Nó đang chở trên lưng mình một trong những dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân, đó là một bông hoa “tím biếc”. Bông hoa ấy “mọc” lên ở giữa dòng sông, đột ngột, bất ngờ như báo hiệu mùa xuân đến thật bất chợt. Động từ “mọc” được ông đảo lên ngay đầu câu thơ càng làm cho chúng ta thấy rõ sự xuất hiện quá đỗi bất ngờ của bông hoa ấy. Bông hoa ấy không phải màu hồng phai, màu đỏ rực, … mà lại mang một màu tím – sắc màu thân thương của xứ Huế. Bông hoa ấy nở giữa dòng sông, ánh lên trong ánh nắng mới lóng lánh.

Không gian mùa xuân trong trí tưởng tượng của Thanh Hải không chỉ có hoa xuân mà còn những chú chim nhỏ bé nữa. Những chú chim ấy cũng như bông hoa kia, cũng là một người đưa tin cho mùa xuân. Giữa không gian bao la của bầu trời cao rộng, chú chim rướn mình, cất lên tiếng hót lanh lảnh, gọi mùa xuân về. Loài chim mà Thanh Hải miêu tả ở đây là “chim chiền chiện” – một loài chim quen thuộc, gắn bó thân thiết với nhà nông. Chú chim ấy cất tiếng hót vang, và nhà thơ đã không ngần ngại mà cất tiếng gọi:

Đây có phải chăng là một tiếng trách cứ, hờn dỗi đáng yêu của nhà thơ với chú chim đáng yêu kia chăng? Ông cất tiếng gọi “ơi” với chú chim, tiếng gọi tha thiết, thân thương như đối với một người thân thuộc. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nhân hóa chú chim ấy như một con người thực thụ, và con người ấy đang cất tiếng gọi mùa xuân về. Câu thơ tiếp theo, nhà thơ trách cứ chú chim “hót chi mà vang trời”, nghe thật đáng yêu làm sao! Chữ “chi” là giọng điệu mang âm hưởng của xứ Huế thân yêu. Tiếng chim lanh lảnh xuyên qua tầng không, vang vọng trong tâm trí, tâm hồn nhà thơ khiến ông rạo rực quá! Nằm ở giường bệnh, nhưng ông muốn cất bước thật nhanh ra ngoài kia mà tận hưởng cho hết cái không khí của mùa xuân đang tràn về.

Thế nhưng, đặc sắc nhất trong đoạn thơ này phải kể tới hai câu thơ cuối của khổ thơ. Chỉ với hai câu thơ này, Thanh Hải đã dường như nắm bắt được cái hồn của mùa xuân:

Tiếng chim trên cao vọng xuống từng hồi lảnh lót, gọi nàng xuân về trong yêu thương. Tiếng chim ấy dường như đang cô đặc lại dần thành từng giọt mà nhỏ xuống thế gian, để thế gian bắt đầu một nguồn sống mới. Từng giọt mật mùa xuân trên cao rơi xuống, nhà thơ bất chợt đưa tay ra “hứng” lấy nó như để bắt trọn mùa xuân trong tay. Đọc thơ mà người ta như thấy được hình ảnh của Thanh Hải đang nâng niu hứng từng giọt mật xuân rơi xuống trong niềm vui, đắm đuối vô tận. Ở đây, Thanh Hải đã vô cùng tinh tế khi sử dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác để miêu tả về mùa xuân. Mùa xuân không còn là một thứ vô hình nữa mà đối với nhà thơ,, mùa xuân trở thành một thực thể hữu hình mà ông có thể sờ, “hứng”, chạm và nếm thử. Hành động “hứng” giọt mùa xuân của nhà thơ là một hành động của một con người mang trong mình tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với mùa xuân. Với ông, tận hưởng mùa xuân trọn vẹn phải là sự tận hưởng ngay trong giây phút đầu tiên. Phải nhớ rằng, lúc này, nhà thơ đang nằm trên giường bệnh, vậy mà chỉ bằng trí tưởng tượng của mình, ông đã dựng lên bức tranh mùa xuân đẹp đến như thế!

Bức tranh mùa xuân của Thanh Hải được dựng lên trong niềm yêu thương tha thiết với thiên nhiên. Bức tranh ấy được ông mường tượng ra trên giường bệnh nhưng lại mang đậm nét linh hồn xứ sở quê hương Huế thân yêu, vừa giản dị lại vừa gần gũi vô cùng. Có lẽ, trong giây phút ấy, Thanh Hải đã khao khát cháy bỏng được rời khỏi giường bệnh, được bước ra ngoài với thiên nhiên, được ôm trọn thiên nhiên vào lòng để mà tận hưởng cái không khí mùa xuân đang dâng tràn trong tâm trí mình.

Viết bài thơ về mùa xuân, Thanh Hải còn dựng lên bức tranh mùa xuân của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đây như là một cách thức để ông biểu đạt tình yêu quê hương của mình:

Nếu như mùa xuân của thiên nhiên với dấu hiệu là những bông hoa tím, là tiếng hót của những chú chim “chiền chiện” thì mùa xuân của đất nước lại được đánh dấu bằng hình ảnh của “người cấm súng” và “người ra đồng”.

Như chúng ta đã biết, năm 1980, đất nước ta đang bước vào công cuộc xây dựng mạnh mẽ với hai nhiệm vụ chính là chiến đấu và sản xuất. Vậy nên, Thanh Hải đã dùng hải nhiệm vụ này để miêu tả về mùa xuân của đất nước. Mùa xuân hiện lên trên vai “người cầm súng” là những cành lộc non “giắt” trên lưng áo ngụy trang. Những chồi non xanh biếc ấy như những niềm hy vọng, sự tin tưởng và sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam qua bao thời kỳ. Còn mùa xuân của “người ra đồng” là những “lộc” non của lúa, của mạ non để cấy cày, sản xuất, trở thành hậu phương vững chắc cho những người anh hùng “cầm súng”.

Có thể thấy, sản xuất và chiến đấu luôn luôn song hành cùng nhau, bởi chỉ có vậy chúng ta mới có thể cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước chúng ta phát triển ngày một tươi đẹp hơn. Đọc khổ thơ, người ta nhận thấy rằng mùa xuân của hai nhiệm vụ của đất nước đã hòa làm một thành mùa xuân của Tổ quốc, mùa xuân của hòa bình và phát triển.

Giữa sự chuyển mình của đất nước, tất cả vạn vật của Tổ quốc ta dường như cũng đang vội vã, “hối hả” chuyển mình. “Tất cả” đều “xôn xao”, “hối hả” trong công cuộc đổi mới ấy. Hai từ láy liên tiếp “hối hả”, “xôn xao” như diễn tả sự mau lẹ, sự nhanh chóng, gấp gáp của con người cũng như mọi vật. Tất cả như muốn góp một phần sức lực của mình để chung tay xây dựng mùa xuân của đất nước.

Điệp từ “như” được Thanh Hải sử dụng trong hai câu thơ như để diễn tả nhịp điệu khẩn trương, mau lẹ. Cả đất trời, con người đang giao hòa thật hối hả, thật gấp gáp, thúc giục mọi người qua từng câu chữ. Ngay chính tác giả, dường như ông cũng đang rạo rực, muốn được hòa mình vào cùng mọi người để xây dựng Tổ quốc.

Đây là hình ảnh của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, không còn chiến tranh, chỉ còn công cuộc xây dựng đất nước đi lên trong hòa bình, tạo nên một mùa xuân rực rỡ cho dân tộc Việt Nam.

Không chỉ nhìn ngắm thực tại, Thanh Hải còn hồi tưởng qua từng dòng thời gian của lịch sử dân tộc, nơi khởi nguồn cho mạch sống trường tồn của đất nước. Nhịp thơ ở đây không còn gấp gáp, hối hả như khổ thơ trên mà nhẹ nhàng, chậm rãi như một cuốn phim quay chậm. Những thước phim ấy đang sống dậy những trang sử hào hùng của dân tộc ta.

Trải qua “bốn ngàn năm” dựng xây và giữ nước, những “vất vả và gian lao” mà dân tộc ta đã trải qua là những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, trải dài từ khi vua Hùng Vương dựng nước và tới tận gần đây nhất là hai cuộc chiến tranh chống Pháp và đế quốc Mỹ. Ẩn sau từng câu chữ, người ta như thấy được niềm xúc động, tự hào của Thanh Hải trước công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của cha ông ta trong suốt chiều dài lịch sử xa xôi ấy.

Đất nước đẹp như một bức tranh và sáng như một vì sao tỏ. Thanh Hải đã không ngần ngại mà so sánh hình ảnh của một Việt Nam kiên cường như một vì sao sáng trên bầu trời. Đây là niềm tự hào của Thanh Hải về non sông, đất nước Việt Nam, một đất nước mà luôn chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, lúc nào cũng tỏa sáng rực rỡ “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

Bức tranh về mùa xuân của đất trời, mùa xuân của đất nước được Thanh hải truyền tải bằng tất cả sự trân trọng, tự hào và yêu thương nhất. Nếu mùa xuân của thiên nhiên vạn vật là những màu sắc tươi thắm nhất, những dấu hiệu đẹp đẽ nhất thì mùa xuân của đất nước lại đến cùng với công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc, cùng với những con người “hối hả”. Dân tộc ta như Thanh Hải đã nói, đã trải qua bốn ngàn năm thăng trầm nhưng vẫn vững vàng “đi lên phía trước” – đây là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của dân tộc ta.

Mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước tươi đẹp là thế vậy mà tác giả lại phải nằm trong giường bệnh. Vậy nên, những khổ thơ cuối cùng của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ấy, ông đã viết lên ước nguyện, khát vọng của mình, giản dị mà chân thành vô cùng:

Liên tiếp ở các câu thơ, nhà thơ đã sử dụng động từ “ta làm” để biểu đạt cái khát khao tột độ đang cháy bỏng ở trong tim mình. Ông ước được làm một “con chim hót”, “một cành hoa” nhỏ bé mà dâng hiến cho đời. Những vật ông ao ước trở thành đều là những vật nhỏ bé, tầm thường trong cuộc sống, thế nhưng ông lại khao khát được trở thành để được cống hiến cho cuộc đời. Ông ước mình trở thành “một nốt trầm xao xuyến” – một nốt lặng bé nhỏ giữa bản nhạc tươi vui của cuộc đời. Mong ước ấy thật nhỏ nhoi, thế nhưng lại chân thành, tha thiết biết bao nhiêu.

Thanh Hải ước được trở thành “một mùa xuân nho nhỏ” để “lặng lẽ” hòa mình vào thiên nhiên, đất nước để mà dâng hiến cho cuộc đời, cho Tổ quốc, chẳng cần hào nhoáng, chẳng cần được tôn vinh. Bất cứ ở độ tuổi nào, ông cũng muốn được cống hiến, được hi sinh hết mình cho Tổ quốc thân yêu, dù là lúc còn là một chàng thanh niên hai mươi tuổi tràn trề nhiệt huyết hay là giờ đây, khi đã là một ông già tóc bạc. Điệp từ “dù là” như một lời khẳng định mạnh mẽ ước vọng của nhà thơ.

Lời thơ như những lời khẳng định tình yêu tha thiết của Thanh Hải dành cho Tổ quốc, dành cho cuộc sống tươi đẹp. Bởi có yêu tha thiết quê hương, cuộc sống, ông mới khao khát cháy bỏng được cống hiến, được dâng hiến cho cuộc đời đến như thế, đặc biệt là lúc này, khi ông đang năm trên giường bệnh. Cái khát khao ấy cháy bỏng trong tim ông, chưa lúc nào, ông thôi khao khát được cống hiến hết mình cho cuộc đời cả.

Qua những khổ thơ trên, người ta có thể thấy Thanh Hải yêu quê hương, non sông đến thế nào, đặc biệt là xứ Huế thân thương. Chắc có lẽ bởi vì thế mà khép lại bài thơ, Thanh Hải đã cất lên một khúc hát với giai điệu quen thuộc của xứ Huế:

Những điệu hò “Nam ai, Nam bình” đều là những khúc ca quen thuộc của xứ Huế. Nếu khúc Nam ai là giai điệu buồn thương, da diết thì Nam bình lại dìu dặt, trìu mến. Cả hai điệu hát đều được cất lên trên nhịp phách tiền đặc trưng của dân ca Huế. Thế mới biết, Thanh Hải gắn bó khăng khít và yêu thương xứ Huế đến nhường nào. Ông đã đặt nó vào trong tim mình, mang cả vào đó điệu hò quen thuộc của quê hương.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải được viết bằng thể thơ năm chữ quen thuộc với nhịp điệu uyển chuyển. Bài thơ là tiếng lòng tha thiết yêu quê hương, đất nước, yêu cuộc đời của tác giả, đồng thời nó cũng thể hiện một khát vọng cháy bỏng mà chân thành của nhà thơ đó là được góp phần làm nên mùa xuân của đất nước.

Thanh Hải đã khéo léo sử dụng những biện pháp tu từ linh hoạt như nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, … để bộc lộ tình yêu của mình.

Viết bài thơ vào những ngày tháng cuối của cuộc đời, thế nhưng lời thơ của Thanh Hải lại không có một chút bi lụy mà thay vào đó, người ta cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, Tổ quốc, niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của đất nước cũng như khát vọng cháy bỏng của ông.

Thanh Hải là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn chương cách mạng miền Nam thời chống Mĩ cứu nước. Ông sinh ra, sống, chiến đấu gắn bó với miền Thừa Thiên – Huế. Thơ của ông là tiếng lòng của đồng bào Trị Thiên – Huế lúc cất lên tiếng thét căm hờn tố cáo tội ác giết người của giặc, lúc thủ thỉ khúc tâm tình của đồng bào, chiến sĩ, lúc tha thiết một niềm kính yêu Bác Hồ… Những bài Mồ anh hoa nở, Núi vẫn nhớ người vẫn thương, Cháu nhớ Bác Hồ, A Vầu không chết… của ông được nhiều người tìm đọc với bao xúc động, mến thương. Thời gian này thơ Thanh Hải đã được tặng giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu.

Sau khi thống nhất đất nước, ông tham gia lãnh đạo Hội văn nghệ Bình – Trị – Thiên song không ngừng sáng tác. Bài Mùa xuân nho nhỏ và một số bài thơ khác của ông đã được dư luận đánh giá là tác phẩm hay, phản ánh tâm hồn lạc quan, cái nhìn tươi trẻ của người Việt Nam trong giai đoạn xây dựng đất nước.

Bài Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải viết vào tháng 11-1980. Lúc đó đất nước đang có những khó khăn: chiến tranh biên giới, nền kinh tế chưa ra khỏi chính sách bao cấp… song công cuộc kiến thiết vẫn rộn ràng khắp nơi. Bài thơ đã phản ánh được tâm trạng của nhân dân ta: vui phóng khoáng, bay bổng nhưng không phải không còn những trăn trở. Vì lẽ đó bài thơ đã mau chóng được bạn đọc yêu mến, được phổ nhạc và bài hát lập tức được nhiều người ưa thích.

Bài Mùa xuân nho nhỏ giàu nhạc điệu. Có lẽ chính thể thơ năm chữ cùng với cách gieo vần đầy biến hóa tạo cho bài thơ một ưu thế diễn tả niềm vui có phần nhí nhảnh yêu đời của “mùa xuân nho nhỏ” kia. Các nhạc điệu của ngôn từ lại được nâng lên bởi chất nhạc, chất thơ của những hình tượng đẹp trong bài. Hãy đọc lại khổ thơ đầu để có thể thấy hết sự hòa quyện giữa nhạc và thơ trong từng chữ, từng dòng:

Trong khổ thơ này có chim và hoa, chim hót vang trời, hoa tím biếc; có trời và sông, trời rộng và sông xanh. Cảnh gợi một không gian phóng khoáng, bay bổng nhưng lại đằm thắm, dịu dàng, tươi mát, một không gian rất Huế. Không gian ấy càng đậm chất Huế hơn nhờ cách dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc biệt Huế. Một từ “ơi!” đặt đầu câu thơ, một từ “chi” đi liền sau động từ “hót” đã đưa thẳng cách nói dịu ngọt, êm ái, thân thương của người Huế vào nhạc điệu của khổ thơ để gợi thương, gợi nhớ, cả khổ thơ dần tới một hình ảnh đẹp:

Tiếng chim hót giữa trời xanh tưởng như vô hình này lại được hình ảnh hóa thành “từng giọt long lanh rơi” là một sáng tạo rất gợi cảm của nhà thơ. Một động tác “hứng” đủ diễn tả sự trân trọng của thi nhân đối với vẻ đẹp, chất nhạc của trời với sông, của chim với hoa, đồng thời thể hiện sự đồng cảm của tâm hồn thi nhân trước thiên nhiên và cuộc đời.

Chất nhạc, chất thơ của bài Mùa xuân nho nhỏ được cất lên từ chính cuộc sống vốn “vất vả và gian lao” đang hối hả “đi lên phía trước” của cả một đất nước mang đầy thương tích của hai cuộc chiến tranh và cũng đang phải đối phó với giặc ngoài nhưng vẫn hăm hở dựng xây cơ đồ của mình.

Một đặc sắc khác của bài thơ là sự diễn tả nhân vật trữ tình một cách thoải mái, dung dị và luôn biến đổi. Nhân vật ấy, lúc đầu xuất hiện trong tư thế một thi nhân đang hòa mình vào thiên nhiên. Tiếng “tôi” thốt ra từ thi nhân thật thân thiết, dịu nhẹ, khiêm nhường biết bao:

Cùng với sự vận động của tứ thơ, cách biểu hiện của nhân vật trữ tình cũng thay đổi. Chuyển từ cảnh mùa xuân của đất trời, của thiên nhiên sang cảnh mùa xuân của cuộc sống cách mạng, của nhân dân, của đất nước:

Ở đây, “ta” là nhà thơ và cũng là tất cả mọi người. Sự chuyển đổi của nhân vật trữ tình không có sự gượng gạo, giả dối. Đọc khổ thơ, chúng ta vẫn thấy một cách diễn đạt hào hứng, sảng khoái và tự nhiên. Ta làm con chim, làm một cành hoa, làm một nốt trầm, ta trở thành người mang lại niềm vui cho cuộc đời một cách khiêm tốn, đáng yêu.

Ở hai khổ thơ cuối, mùa xuân được chuyển thành mùa xuân của lí tưởng, của tiếng lòng cao cả. Đây là tiếng hát của con người muốn cống hiến sức mình cho cuộc sống cách mạng, cho đất nước không biết đến tuổi tác, coi đó là niềm ủi và lẽ sống. Nhân vật trữ tình lúc này không còn là “tôi” hay “ta” nữa, bỗng biến thành:

Cái công việc “lặng lẽ dâng cho đời” dù ở lứa tuổi nào đâu có còn là của riêng ai. Nó là khát vọng sống của cả một thời đại, của tôi, của bạn, của cả thế hệ chúng ta. Chính sự chuyển đổi như vậy của nhân vật trữ tình đã làm cho hai khổ thơ cuối tuy vẫn được diễn tả bằng giọng thơ nhỏ nhẹ nhưng lại mang sức khái quát lớn, có ý nghĩa triết lí.

Mùa xuân nho nhỏ là một bài thơ hay vì đã nói được những tình cảm lớn, những xúc động lớn của chính tác giả và của cả một thời đại.

Cứ mỗi dịp tết đến xuân về chúng ta không thể nào quên Thanh Hải với “Mùa xuân nho nhỏ” đã góp vào thơ ca truyền thống dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa. Bài thơ được viết năm 1980 khi tác giả đang trên giường bệnh, được xem là lời tâm niệm đáng trân trọng trước lúc ra đi. “Mùa xuân nho nhỏ” của ông đã nói lên lẽ sống, ý nghĩa của đời sống con người bằng cảm xúc thật, là điều tâm niệm chân thành, thiết tha với giọng thơ nhỏ nhẹ tâm tình.

Bài thơ bắt đầu bằng cảm xúc trực tiếp, hồn nhiên trong trẻo trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân thiên nhiên. Từ đó mở ra thành hình ảnh mùa xuân của đất nước. Từ mạch cảm xúc ấy nhà thơ bộc lộ suy nghĩ và ước nguyện làm một mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn và kết thúc bài thơ là niềm tự hào về quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.

Bằng những hình ảnh chọn lọc đặc sắc nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân với dòng sông xanh, một bông hoa tím biếc và tiếng chim chiền chiện:

Bức tranh xuân còn tràn trề sức sống được thể hiện qua nghệ thuật đảo ngữ. Động từ “mọc” làm vị ngữ đặt trước bộ phận chủ ngữ, đặt ở đầu khổ thơ và bài thơ là một dụng ý nghệ thuật. Nó không những tạo cho người đọc ấn tượng đột ngột bất ngờ, mới lạ mà còn làm cho hình ảnh sự vật trở nên sống động như đang diễn ra trước mắt. Tưởng như bông hoa tím kia đang từ từ mọc lên trên dòng sông xanh. Qua vài nét phác họa nhưng tác giả đã vẽ ra được cả không gian mênh mông với những gam màu xanh – tím mang đậm đặc trưng xứ Huế.

Trong không gian ấy tiếng chim chiền chiện hót trên bầu trời xuân làm cho cảnh trở nên tươi vui rộn ràng, ấm áp và náo nức, nhà thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc một cách cao độ:

Với nghệ thuật chuyển đổi cảm giác: từ thính giác (nghe tiếng chim hót), thành thị giác (thấy tiếng chim đọng thành giọt long lanh như có ánh sáng) và xúc giác (đưa tay hứng tiếng chim). Hình ảnh có cái phi lí nhưng có thể chấp nhận trong thơ, một sự sáng tạo hợp lí để biểu hiện cái cảm xúc ngây ngất say sưa của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời lúc vào xuân.

Từ mùa xuân thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước với hình ảnh “người cầm súng”, “người ra đồng”:

Bằng cấu trúc song hành chỉ hai nhiệm vụ chiến lược sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta. “Lộc” là chồi non lộc biếc mơn mởn. Khi xuân về cây cối đâm chồi nảy lộc. “Lộc” trong văn cảnh này tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vòng lá ngụy trang xanh biếc, mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ Quốc. Người nông dân đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh ruộng đồng” trải dài nương mạ” bát ngát quê hương. Ý thơ vô cùng sâu sắc: máu và mồ hôi của nhân dân đã góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mãi mãi.

Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế khẩn trương náo nhiệt:

“Hối hả” nghĩa là vội vã. gấp gáp, khẩn trương. “Xôn xao” là có nhiều âm thanh xen lẫn vào nhau làm náo động; Trong câu thơ”xôn xao” chỉ niềm vui đang dâng lên, cặp từ láy “hối hả”, “xôn xao” với điệp ngữ ” Mùa xuân”, “Lộc”, “Tất cả như…” làm cho câu thơ vang lên với nhịp điệu vui tươi mạnh mẽ khác thường. Đó là hành khúc vào xuân của thời đại mới.

Tiếp theo là những câu thơ nói lên những suy tư về đất nước và nhân dân:

Chặng đường lịch sử của đất nước bốn nghìn năm trường tồn với bao thử thách “vất vả và gian lao”. Nhân dân, với bao thế hệ này sang thế hệ khác đã đem xương máu và mồ hôi bảo vệ và xây dựng đất nước “Đất nước như vì sao” là hình ảnh so sánh đẹp đầy ý nghĩa. So sánh đất nước với vì sao là biểu lộ niềm tự hào đối với đất nước, khẳng định lòng tin vào sự phát triển không gì ngăn cản nổi “cứ đi lên phía trước”. Ba tiếng “cứ đi lên” thể hiện chí khí, quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng một Việt nam giàu mạnh.

Sau những suy tư về đất nước là tâm niệm của nhà thơ. Tác giả nguyện cầu được hóa thân:

Nếu khổ thơ đầu nhà thơ xưng “tôi” (Tôi đưa tay tôi hứng) thì ở đây nhà thơ chuyển sang xưng “ta” không phải là sự ngẫu nhiên. Với “Ta” vừa là số ít vừa là số nhiều, tác giả có thể nói được cái riêng biệt cụ thể, đồng thời lại nói được cái khái quát, cái chung. Đây là quan niệm, phương châm sống và cống hiến của tác giả mà cũng là của chúng ta.

Khát vọng của nhà thơ được làm một “con chim hót” làm “một cành hoa” và thêm hình ảnh “một nốt trầm”. Từ hình ảnh đẹp của mùa xuân thiên nhiên được miêu tả phần đầu bài thơ, nhà thơ đã chọn nhiều hình ảnh để thể hiện lẽ sống tâm niệm đời mình là phục vụ đất nước, cống hiến cho đất nước. Cách chọn hình ảnh như thế hay ở chỗ tự nhiên, hợp lí theo sự chuyển nghĩa của hình ảnh mùa xuân từ thiên nhiên đến xuân tư tưởng làm cho các tầng lớp trước sau của bài thơ gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Lấy cái đẹp của thiên nhiên để thể hiện cái đẹp của lòng người. Con chim, cành hoa vốn nhỏ bé trong đời nhưng chim vô tư cống hiến tiếng hót vui, hoa vô tư cống hiến hương thơm sắc đẹp, làm nên mùa xuân đất trời. Mượn hình ảnh chim trời, bông hoa, nhà thơ muốn nói lên tha thiết, khiêm tốn ước vọng sống có ích, góp phần nhỏ bé phục vụ đất nước, làm nên mùa xuân đất nước. Một nốt nhạc nhỏ chưa đủ làm nên bản nhạc nhưng góp phần làm nên bản nhạc. Nhà thơ ước vọng làm một “nốt nhạc trầm” không véo von, ồn ào, ầm ĩ, nghĩa là mong sống có ích, khiêm tốn và âm thầm góp phần mình vào sự phát triển chung của đất nước.

Điệp ngữ “ta làm” thật thiết tha, lời thơ như đang ngân lên thành lời ca. Sống phải làm cái gì đó cho đời dù rất nhỏ.

Khổ thơ tiếp theo càng rõ hơn ý nghĩa nhan đề bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”

Nhà thơ còn tâm niệm làm “Một mùa xuân nho nhỏ” lặng lẽ dâng cho mùa xuân rộng lớn của đất nước. làm một mùa xuân nghĩa là gì? Nghĩa là sống một cuộc đời đẹp như mùa xuân. Nhưng tại sao lại là mùa xuân nho nhỏ? Một ý thơ hay, một khát vọng khiêm tốn, một ý thức đúng về mối quan hệ cá nhân và xã hội. Hình ảnh mùa xuân thường gợi cảnh đất trời rộng lớn, trăm hoa đua nở. Nhà thơ chỉ nguyện làm một mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân rộng lớn thuộc về đất trời, đất nước, xã hội, không một cá nhân nào làm nổi. Nhưng mỗi cá nhân có thể đóng góp mùa xuân của cuộc đời riêng vào mùa xuân của cuộc đời chung làm cho nó phong phú, rực rỡ thêm. Và lặng lẽ dâng cho đời với tất cả sự khiêm tốn đáng yêu của một con người tha thiết được cống hiến suốt đời cho đất nước dù tuổi hai mươi hay khi tóc bạc.

Ai cũng phải sống có ích cho đời “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng ” Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Bởi lẽ “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu). Sống hết mình thủy chung cho đất nước, đem cả cuộc đời mình phục vụ đất nước cả từ lúc “tuổi hai mươi” đến khi”tóc bạc”. Thơ hay là ở cảm xúc chân thành. Thanh Hải đã nói lên những lời “gan ruột” của mình, ông đã sống như lời ông tâm tình. Khi đất nước bị Mĩ – Diệm và tay sai âm mưu chia cắt làm hai miền, ông hoạt động bí mật trong vùng giặc, gây dựng phong trào cách mạng, coi thường cảnh máu chảy đầu rơi. Cảm động hơn nữa là bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được ông viết ra trên giường bệnh, một tháng trước lúc ông qua đời.

Thanh Hải sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ tài tình: “Ta làm…ta làm…ta nhập…” “Dù là…dù là…”đã làm cho âm điệu thơ, giọng thơ tha thiết sâu lắng, ý thơ được khắc sâu và nhấn mạnh. Người đọc xúc động biết bao trước một giọng thơ trữ tình, ấm áp như vậy. Có thể xem đoạn thơ này là những lời trăng trối của ông.

Khổ thơ cuối là tiếng hát yêu thương: Phải chăng nhà thơ vừa làm thơ vừa hát những câu thơ của mình, hát theo làn điệu dân ca trầm trầm, buồn buồn nhưng lạc quan của quê hương xứ Huế. Nhịp thơ năm chữ gieo vần hai câu một nhưng ở khổ thơ này dôi ra một câu vần bằng. Bài thơ như ngừng chậm lại, ngẫm nghĩ, lắng nghe:

“Nước non ngàn dặm” mấy câu mở đầu bài ca Nam ai xứ Huế đi vào bài thơ một cách tự nhiên. Nhưng “nước non ngàn dặm mình” rồi lại “nước non ngàn dặm tình”, thật là yêu đất nước mình, yêu quê hương mình lắm. Nước non ngàn dặm của mình, cũng là nước non ngàn dặm trong tình yêu tha thiết của mình.

Văn Mẫu Lớp 7: Cảm Nghĩ Về Người Bà Kính Yêu Của Em 2 Dàn Ý & 22 Bài Văn Mẫu Lớp 7

Cảm nghĩ về người bà kính yêu

Tài liệu gồm 2 dàn ý chi tiết và 22 bài văn mẫu hay nhất dành cho học sinh lớp 7. Chúng tôi sẽ đăng tải ngay sau đây.

1. Mở bài

Dẫn dắt, nêu cảm nghĩ chung về người bà.

Gợi ý: Tuổi thơ của mỗi đứa trẻ đều sẽ gắn bó với bà. Chúng ta lớn lên nhờ những câu chuyện kể hay lời răn dạy của bà. Và đối với tôi, bà chính là một điểm tựa tinh thần vững chắc.

2. Thân bài

a. Miêu tả đôi nét về người bà

– Tuổi tác, sức khỏe: Ngoài bảy mươi tuổi, nhưng còn khỏe mạnh và minh mẫn.

– Công việc: Trước khi về hưu, bà là một giáo viên.

– Ngoại hình:

Dáng người khá đầy đặn.

Khuôn mặt trông rất phúc hậu.

Làn da đã có nhiều nếp nhăn.

Mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc.

Bàn tay có nhiều vết chai sần.

Đôi mắt không còn tinh tường như trước.

b. Những kỉ niệm về người bà

– Bà là người đã chăm sóc chúng ta khi còn thơ mẹ, lúc cha mẹ vắng nhà.

– Lời ru ngọt ngào của bà đã đưa chúng ta vào giấc ngủ say.

– Những truyện cổ tích về chàng Thạch Sanh, chị em Tấm Cám hay cậu bé thông minh được bà kể lại thật hấp dẫn.

– Bà dạy dỗ cho chúng ta nhiều điều tốt đẹp: Biết yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh; Ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập; Kính trọng người lớn tuổi, nhường nhịn trẻ em…

c. Tình cảm dành cho bà

Trân trọng, yêu mến bà nhiều hơn.

Tự hào về người bà của mình.

Bà là tấm gương sáng ngời.

Mong sao bà luôn sống khỏe mạnh, vui vẻ bên con cháu…

3. Kết bài

Khẳng định lại tình cảm dành cho người bà.

Gợi ý: Người bà cũng giống như người mẹ, đem đến cho chúng ta tình cảm yêu thương ngọt ngào, ấm áp. Vì vậy, mỗi người hãy biết trân trọng và yêu thương người bà của mình nhiều hơn.

Bà ngoại chính là người em vô cùng yêu mến và kính trọng. Bà luôn có dành cho em một tình cảm ấm áp, khiến em luôn cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc mỗi khi ở bên bà.

Bà ngoại của em năm nay bảy mươi sáu tuổi, mái tóc của bà đã chấm bạc, đôi mắt của bà đã có những nếp nhăn của tuổi già. Nhưng nó càng làm cho sự hiền hậu, nhân từ trong đôi mắt bà thêm ấm áp, chan chứa yêu thương. Em rất yêu đôi mắt của bà, bởi lúc nào bà cũng nhìn em bằng ánh mắt nhân hậu, yêu thương nhất, mang lại cho em cảm giác yên bình, chở che như khi còn nhỏ vậy. Bà ngoại em tuy đã lớn tuổi nhưng bà vẫn rất nhanh nhẹn, khỏe mạnh, những công việc nhà bà vẫn làm rất thành thạo và khéo léo, mỗi lần về thăm bà thì bà ngoại lại làm cho em những món ăn thật ngon như: thịt kho tàu hay sườn xào chua ngọt…, không những vậy, bà còn dạy em làm những món ăn đơn giản nên mỗi lần được về thăm bà thì em đều cảm thấy rất vui vẻ.

Khi còn nhỏ, vì bố mẹ em bận công tác nên mẹ em đã gửi em cho bà ngoại chăm sóc, bà đã chăm sóc cho em vô cùng chu đáo, yêu thương quan tâm em từ những thứ nhỏ nhặt nhất, dạy em những điều hay lẽ phải và kể cho em thật nhiều câu chuyện cổ tích thú vị. Bà hay kể cho em về câu chuyện chàng Thạch Sanh dũng cảm giết đại bàng cứu công chúa Quỳnh Nga, hay cô Tấm dịu hiền bước ra từ quả thị, nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn… Những câu chuyện của bà gắn liền với những kí ức tuổi thơ của em. Bà ngoại là một người vô cùng đảm đang, tháo vát. Khi còn trẻ bà đã vừa lo việc đồng áng, vừa chăm sóc cho năm người con thơ dại, tuổi ăn tuổi lớn, bà em có thể làm được rất nhiều thứ, như bện chổi, đan rổ, làm quạt nan… Bà em rất khéo tay nên những vật dụng mà bà làm ra đều vô cùng đẹp mắt và xinh xắn. Và hiện nay, tuy bà đã lớn tuổi nhưng bà vẫn làm những công việc chăm sóc vườn tược, trồng rau, trồng quả…Bà luôn nói với chúng em nếu không làm gì mà chỉ ngồi một chỗ thì bà rất buồn tay, buồn chân, vì vậy mà bà trồng trọt, chăn nuôi như một thú vui của cuộc sống.

Tuy em không thể thường xuyên về thăm bà ngoại nhưng tình cảm yêu mến của em dành cho bà thì không bao giờ phai nhạt, những kí ức bên bà luôn sống động trong tâm hồn, gợi nhắc về tấm lòng nhân hậu, yêu thương của bà dành cho em.

Em mong bà sống thật lâu cùng với chúng em để chúng em có thể yêu thương, phụng dưỡng bà, báo đáp phần nào công ơn dưỡng dục của bà dành cho chúng em.

Em được sống trong một gia đình đầy ắp tình thương và sự hòa thuận. Người được yêu mến và tôn trọng nhất là bà của em. Với em, bà là cơn mưa mùa hạ tưới mát cho tuổi thơ của em.

Bà đã ngoài bảy mươi tuổi, như người xưa thường nói đây là tuổi “xưa nay hiếm”. Bà đã già nhưng vẫn nhanh nhẹn và dai sức lắm. Khuôn mặt thanh tú của bà in đầy các vết nhăn của thời gian và sự lo âu, vất vả. Bà trông như cây mai gầy guộc, mảnh mai nhưng rắn rỏi, vững vàng. Mái tóc bà đã sớm bạc trắng. Đôi mắt nhìn em thật nhân từ. Đôi tay của bà gầy guộc, các đường gân và mạch máu nổi rõ lên, nhưng vẫn nhanh nhẹn lo toan được đủ việc trong gia đình.

Mẹ vẫn thường nói với em, cả đời bà vất vả quá, khi trẻ lo toan việc nhà để chồng yên tâm đi chiến đấu, nay lại chăm sóc gia đình để các con phấn đấu vươn lên, rồi bà lại chăm chút các cháu để chúng trưởng thành. Vậy là bao nhiêu gánh nặng gia đình một mình bà gánh vác hết. Ở trong nhà, bà luôn là trung tâm hòa giải mọi chuyện, bà thường nói: “Chuyện trong nhà, cứ lớn thì coi là nhỏ, mà nhỏ thì coi như là không có thì mọi chuyện sẽ êm đẹp cả thôi”.

Tuy bà đã nhiều tuổi nhưng rất chăm tập thể dục buổi sáng. Bà cứ chê lũ trẻ chúng tôi học nhiều mà lại ham ngủ, ít tập tành. Việc nhà nhiều vậy mà bà tôi vẫn tham gia tích cực các hoạt động xã hội. Bà tham gia Hội phụ nữ phường, Hội hòa giải, Hội từ thiện… Ai ai cũng quý mến bà, có việc gì mọi người thường tới hỏi và nghe bà phân tích. Bà tôi không khéo nói, nhưng bà nói lại hợp tình hợp lý nên dễ thuyết phục mọi người. Vừa rồi, nhà bác hàng xóm sơ ý bị cháy, bà kêu gọi mọi người giúp đỡ để vượt qua khó khăn buổi đầu. Tôi thật sự tự hào về bà mình. Bà sống giản dị và khiêm nhường. Những bữa cơm của gia đình em dưới tay bà thật ấm cúng. Bà khéo chiều lòng được cả nhà với những món ăn bình dân nhưng ngon lành, sạch sẽ. Nhà có máy giặt nhưng bà vẫn động viên mọi người giặt tay rồi hãy cho vào máy. Bà bảo như thế sạch hơn.

Kỉ niệm sâu sắc nhất là lần em bị sốt dịch. Trong trạng thái nóng sốt li bì, em phải đi viện một tuần. Bà luôn ở bên em, mỗi lần bừng tỉnh em thấy đôi mắt lo âu của bà, những cử chỉ âu yếm, nhẹ nhàng, những lời động viên, an ủi của bà hình như có sức mạnh hơn thuốc. Em bình phục dần, và lúc đó mới thấy có vài ngày mà đôi má bà hõm sâu, mái tóc bà bạc thêm nhiều. Lòng xúc động sâu sắc, em nắm chặt tay bà nghẹn ngào không nói nên lời.

Em vô cùng yêu quý và biết ơn bà. Bà sẽ là người em kính yêu nhất. Em mong bà mạnh khỏe, sống lâu cùng con cháu.

Ai cũng đều yêu quý gia đình mình, yêu cái hương khế ngọt tuổi thơ rải dọc theo triền sông nhỏ, yêu cái vẫy đuôi xoắn tít của chú cún, yêu tất cả những gì được thấy là hay ho qua con mắt thời trẻ nhỏ, một thời thơ dại và ngây ngô. Tuổi thơ tôi gắn bó nhất với bà ngoại vậy nên tôi yêu nhất bà ngoại của tôi.

Khi còn nhỏ, tôi cứ nghĩ bà cụ nào cũng hiền từ như bà tôi. Bà lo cho tôi mọi thứ, lúc nào bà cũng ở bên tôi, đưa tôi vào thế giới diệu kỳ chuyện cổ. Bà tôi vẫn đẹp, một cái đẹp hiền hòa, dịu dàng. Dáng người bà cao cao, đôi bàn tay nhăn nheo mà ấm áp. Đôi bàn tay truyền cho tôi làn hơi ấm, như chắt lọc những giọt nước tinh khiết nhất chảy vào tâm trí, từ cái thế giới ngoài khoảng sân, góc vườn nhà mình. Trước cái thế giới bao la mà tôi sẽ xòe cánh bay vào đó, bà như một tấm khiên mỏng manh đánh bật những điều xấu xa và đưa tôi đi đúng hướng, là một người hoa tiêu vững vàng rắn rỏi lại đầu óc tôi hướng về cái thiện. Bà còn là nhiều điều quý giá nữa mà tạo hóa ban tặng cho tôi.

Tôi vẫn còn nhớ mãi từng cử chỉ của bà, cái cười nheo mắt, cái vỗ về an ủi… Nếu trong cuộc đời này tôi quên đi những điều đó cũng có nghĩa là quên đi tuổi thơ, quên đi quá khứ, quên đi niềm vui và hạnh phúc. Chỉ ở bên bà tôi mới nghe được tiếng sóng vỗ của biển, tiếng nhạn kêu trong cây lá xào xạc lay động trong khoảng trời vàng vàng. Những kho tàng kiến thức bà mở ra cho tôi sẽ mở thêm cho tôi tình yêu quê hương đất nước, con người.

Như một chân lý của cuộc đời, bà, vị thần ánh sáng của tôi, sẽ mãi mãi giữ một vị trí quan trọng trong tim đứa cháu hiếu thảo này.

Mỗi lần hè đến, điều ước mong duy nhất của em là được về quê ngoại. Quê ngoại em ở Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, ngay dưới chân núi Bạch Mã. Khi được về quê ngoại là có bao nhiêu thú vui: tắm suối, thả diều, leo núi, câu cá. Nhưng có lẽ thích nhất là được sống trong tình thương ấm áp của gia đình, đặc biệt là bà ngoại của em.

Bao giờ cũng vậy, khi đến ngày mẹ con em về thăm, ngoại đều ra tận ngoài Cầu Hai cách nhà đến mấy cây số để đón. Vừa bước xuống xe là chúng em đã được cậu, dì, anh chị và nhất là bà ngoại mừng rỡ chào đón đưa vào nhà. Cả nhà cứ tíu tít như ngày hội. Bình thường nhà ngoại ăn rất đơn giản, có mẹ con em về, ngoại mua bao nhiêu là thứ ngon. Đông vui và thức ăn ngon, chúng em ăn nhiều lắm. Còn ngoại ăn rất ít, ngồi bên mâm hết gắp thức ăn cho cháu này đến gắp thức ăn cho cháu khác. Thương ngoại, em nói:

– Ngoại ơi! Ngoại cũng phải ăn đi chứ ạ!

Ngoại cười:

– Ngoại ăn nhiều lắm rồi!

Nhưng em biết, ngoại nhường phần cho tụi em không ăn đấy thôi. Những trưa hè nóng nực không có điện, ngoại ngồi quạt cho tụi em ngủ, đôi bàn tay răn reo của ngoại vuốt lên đầu từng đứa thì thầm:

– Cháu của bà! Nhớ quá.

Khi chúng em thức dậy đã thấy ngoại đang lui cui ngoài vườn cầm sào hái ổi. Dáng ngoại còng còng, cây sào vừa nặng vừa dài hai tay ngoại run run, chân nhón lên cao sắp đụng tới trái ổi thì cơn gió thổi dạt đi mất, cứ thế đến mấy lần. Những quả ổi được hái xuống còn trán ngoại ướt đẫm mồ hôi, em nhìn ngoại lòng đầy thương mến. Mỗi sáng, khi đi chợ về, ngoài thức ăn trong giỏ của ngoại bao giờ cũng có quà cho chúng em ăn vặt, khi thì mấy trái bắp còn nóng hổi, khi thì chiếc bánh ú thơm phức, khi thì gói bánh lọc nhân tôm đỏ au.

Hè năm nay em trở về nhưng ngoại đã không còn nữa. Căn nhà rộng và vắng đến lạ. Dưới gốc cây ổi ngoại hái cho em năm nào cỏ mọc um tùm, và cũng chỉ có vài ba trái xanh lè. Những trái bắp lúc trước em ăn thấy ngọt và ngon đến thế sao giờ đây nó trở nên nhạt nhẽo và vô duyên.

Em thơ thẩn dọc theo khu vườn gió thổi ở hàng dương vi vút vi vút. Em như nghe thấy có tiếng nói thì thầm của ngoại: “Cháu yêu của bà đã về chơi đấy à?”.

Thời gian trôi qua sẽ xóa đi trong kí ức của em nhiều thứ nhưng với ngoại thì không, vĩnh viễn không bao giờ.

Trong cuộc sống của mỗi người luôn có một nơi để ta trở về sau bao vất vả và mệt mỏi. Có người gọi đó là nhà, có người gọi đó là mái ấm là gia đình nhưng quan trọng nhất vẫn là ở nơi đó có người mà mình yêu thương, tin tưởng và là nơi để tựa vào. Đối với tôi người đó chính là bà, một người bà đáng kính.

Những ngày tháng bên cạnh bà là những ngày làm nũng đòi bà mua cho bằng được cây kẹo mà mình thích, là những lúc bị bắt nạt luôn có bà che chở và bảo vệ, là hôm bà nhờ nhổ tóc sâu sẽ được cho bánh, kẹo để làm thù lao. Vào những ngày lễ tết, rằm trung thu tôi lại chạy đến nhà ngoại vì tôi biết ngoại sẽ lại cho tôi ăn những món thật ngon và lạ mà mẹ chưa bao giờ nấu. Đối với tôi món ngoại nấu sẽ là món ăn ngon nhất trên đời vì ngoại chẳng nấu bằng những hương liệu, gia vị bình thường mà ngoại nấu bằng tình yêu thương, nấu bằng niềm vui và hạnh phúc khi những đứa cháu cứ quấn lấy xin ngoại nấu cho một bữa ăn.

Ngoại tôi sống một mình, không phải vì gia đình tôi không sống chung mà vì ngoại bảo thích sống một mình như vậy ngoại thích làm gì thì làm sẽ chẳng phiền đến ai cũng chẳng ai phiền đến ngoại. Tôi biết ngoại chỉ nói vậy thôi chứ thật sự ngoại cũng buồn lắm, tôi biết ngoại sợ làm phiền con cháu sợ con cháu lo cho mình nên mới vậy. Tính ngoại giống một đứa trẻ, tôi nghe mọi người nói khi về già thì tính tình sẽ rất trẻ con ví như tôi đi học xa ngoại sẽ suốt ngày gọi điện thoại bảo ngoại nhớ mong tôi về chuyện cũng sẽ bình thường nếu như ngoại không gọi một ngày gần 50 cuộc điện thoại chỉ để nói một nội dung duy nhất, ngoại cũng hay giận hờn vu vơ và vô cớ nếu như tôi có nấu ăn cho ba mẹ mà chẳng nấu cho ngoại hay khi về nhà ít chịu chơi với ngoại. Khi ở bên ngoại, ngoại như chẳng muốn xa tôi như muốn tôi chỉ được ở bên ngoại thôi vậy và tất cả những điều đó tôi điều nhận ra, nhận ra bà đang cô đơn, nhận ra bà sợ ở một mình, sợ cái vắng vẻ và yên ắng khi về nhà.

Ngoại đã lớn tuổi, tóc cũng bạc trắng cả, miệng thì móm mém nhưng ngoại vẫn rất khỏe cho dù ngoại bệnh rất nhiều. Đừng thấy nó mâu thuẫn vì thật ra ngoại rất khỏe vẫn có thể tự buôn bán, tự lo cho bản thân, bưng những đồ nặng ngoại vẫn làm bình thường có vẻ như vì ngoại là nông dân đã quen rồi lại buôn gánh bán bưng cả một đời nên bây giờ ngoại vẫn khỏe như thế, đôi lúc trở trời là ngoại lại bị đau nhứt, cái bệnh xương khớp của những người già. Có khi các khớp của ngoại còn bị sưng phù nhưng ngoại vẫn chịu đựng tự mình mua thuốc tự mình lo âm thầm và lặng lẽ chẳng cho con cháu biết. Tôi thường nghĩ có phải ai khi về già cũng như vậy, sợ mình trở thành gánh nặng cho người khác, sợ mình sẽ vô dụng và chẳng làm được gì không? Nhưng sao họ lại chẳng biết rằng một đời họ đã sống vì con cháu, một đời lo toan và vất vả vậy cho đến cuối cùng, đến lúc về già cũng là lúc họ nên nghỉ ngơi và an dưỡng tuổi già, cuộc sống xô bồ và vất vả đó hãy để lại cho con cháu, những người chịu ơn một cách lớn lao đó sẽ chăm sóc họ như một quy luật của tự nhiên của tình yêu thương và kính trọng.

Mãi đến giờ này tôi vẫn còn rất nhiều điều muốn nói với ngoại nhưng sao mỗi lần gặp tôi lại chẳng nói được gì, phải chăng con người ta nói với nhau những lời tổn thương thì dễ mà những lời nói yêu thương lại khó nói đến thế. Cho đến cuối cùng tất cả những yêu thương những quan tâm đều được chuyển thành những hành động, thay vì nói ra tôi mong ngoại sẽ tự cảm nhận được điều tôi muốn nói. ” Con yêu ngoại, con đã lớn rồi , mọi thứ hãy để con lo”.

Mỗi khi đọc những lời thơ tha thiết ấy, em lại nhớ về bà ngoại – người em kính trọng và yêu thương nhất trên đời.

Bà ngoại của em đã đi xa nhưng hình ảnh bà hiện hữu trong kí ức của em. Bà em xưa hiền từ lắm. Bà là một người phụ nữ chất phác và đôn hậu. Đôi mắt của bà đã đen mờ đã hằn từng vết chân chim. Em thường sờ lên từng vết nhăn ấy và hỏi bà, bà nói rằng đó là dấu ấn của thời gian, của cuộc đời. Khi ấy đôi mắt bà nhìn xa xăm. Lưng của bà đã còng xuống vì những gánh nặng cuộc đời, nhưng bà đi lại nhanh nhẹn lắm, nhất là lúc sáng sớm bà ra sân vườn tưới từng gốc cây, dải những nắm thóc cho đàn gà nuôi sau vườn. Bà lúc nào cũng vậy, tuy mái tóc đã bạc, lưng đã còng, đôi mắt đã mờ dần nhưng bà vẫn tần tảo như xưa. Bà kể rằng ngày trước, bà thường ra đồng gặt lúa, ra sau núi bẻ từng bắp ngô nuôi bộ đội đi đánh giặc Mỹ, thời ấy quả là những ngày tháng khó khăn và gian khổ của bà, của những “mế” và của đất nước ta.

Nhớ về bà ngoại, em nhớ về tuổi thơ được sống trong tình yêu thương của bà. Bà thường kể rằng khi em còn bé, ba mẹ rất vất vả, hoàn cảnh rất khó khăn, ba phải đi làm ở một nông trường cà phê xa, mẹ đi làm công nhân trong nhà máy, công việc không cho ba mẹ thời gian có thể chăm sóc em chu đáo, nên em ở bên bà ngoại.

Có lẽ lúc ấy bà vất vả lắm, chăm cho em từng bữa ăn giấc ngủ, lúc em bị sốt cao hay những lúc em cảm nặng. Còn em, đó là những ngày tháng hạnh phúc vô cùng, được sống trong tình yêu thương của bà, được bà dạy về những đạo lý làm người, được bà kể những câu chuyện xưa từ truyện cổ tích cho đến những câu chuyện thời chiến, kể về thời ông bà yêu nhau khi ấy không có ti vi hay những phương tiện liên lạc hiện đại, chỉ gửi trao tình cảm bằng những phong thư giản dị, và ông đưa đón bà trên chiếc xe cũ kĩ đi thăm chiến khu, thăm bộ đội ta. Nhớ những trưa hè tiếng ve kêu trên những cành phượng vĩ đỏ rực một khoảng trời xanh thẳm, vẫn từng câu hát ru, em cùng cánh cò và làn gió mát bay bổng trong những giấc mơ đẹp biết bao. Ôi cánh cò, phải chăng cánh cò trắng trong giấc mơ em cũng đã từng sải đôi cánh bay vào giấc ngủ của mẹ khi xưa, dù qua hai thế hệ, cánh cò ấy vẫn đượm tình thương của người bà dấu yêu.

Rồi năm tháng qua đi, thời gian không hề dừng lại ở thời điểm mà con người ta hạnh phúc và lưu luyến nhất. Em ngày một trưởng thành, bà ngày càng già đi, đôi chân bà đã mỏi, đôi mắt đã mờ, đôi vai gầy gò ấy đã thấm bao gió sương của cuộc đời. Lúc ấy, em càng thương bà hơn, chỉ mong bà khỏe mạnh, chỉ ước rằng mắt bà không bị nhòe đi vì những cát bụi của một đời khó nhọc. Để bà nhìn em trưởng thành và lớn khôn giống như lời bà từng dạy. Giờ đây nhớ về ngày ấy, khoảng lặng trong tâm hồn chợt sống dậy bao cảm xúc, bao nhớ thương vơi đầy.

Tuy giờ bà đã ở một nơi xa, không còn kề cận em nhưng em luôn tin rằng, bà vẫn luôn dõi theo em từng ngày, mỉm cười nhìn em trưởng thành. Em nhớ lắm, người bà kính yêu!

Trong gia đình, người gắn bó nhất với em chính là bà ngoại. Bà cũng là người mà em luôn kính trọng và yêu thương suốt cuộc đời.

Bà ngoại của em năm nay sáu mươi tuổi. Trước đây, bà em là một giáo viên tiểu học nhưng hiện tại bà đã về hưu. Bà của em có dáng người thanh mảnh. Khuôn mặt trái xoan đã in hằn dấu vết của thời gian. Mái tóc dài của bà giờ đã điểm những sợi tóc trắng. Nhưng với em, bà vẫn còn xinh đẹp lắm. Em thích nhất là nụ cười rạng rỡ của bà.

Khi em vẫn còn bé, bố mẹ thường xuyên phải đi công tác xa nhà. Một tay bà đã chăm sóc em từ miếng ăn đến giấc ngủ. Bà thường kể có lúc em ốm, quấy khóc khiến mà mẹ em không sao giỗ được. Chỉ đến khi bà ngoại bế thì em mới chịu nín. Bà cũng là người luôn ở bên chứng kiến từng bước trưởng thành của em: lúc em tập đi, tập nói… Em vẫn nhớ những khi được ngủ cùng bà, nghe bà kể chuyện. Giọng kể của bà thật hấp dẫn. Những câu chuyện cổ tích mà bà kể đến bây giờ em vẫn còn thuộc lòng.

Không chỉ vậy, bà ngoại cũng dạy cho em rất nhiều bài học làm người. Bà dạy em phải biết tôn trọng mọi người xung quanh. Bà còn dạy phải biết chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Nhờ có bà mà em cũng tự giác hơn trong học tập. Có những khi gặp phải một bài tập khó, em cũng nhờ đến sự giúp đỡ của bà.

Bà ngoại – người mà em yêu thương nhất trên đời. Chẳng thể nào có thể đong đếm hết tình cảm của bà dành cho em. Em luôn mong bà có thể thật khỏe mạnh để ở bên em thật lâu.

Người thân trong gia đình là một điểm tựa vô cùng vững chắc của mỗi người. Với em, bà ngoại là người mà em yêu thương và kính trọng nhất.

Bà ngoại của em đã ngoài sáu mươi tuổi. Bà em là một giáo viên tiểu học đã về hưu. Dáng người của bà thanh mảnh. Khuôn mặt trái xoan đã in hằn dấu vết của thời gian. Mái tóc dài của bà giờ đã điểm những sợi tóc trắng. Nhưng với em, bà vẫn còn xinh đẹp lắm. Em thích nhất là nụ cười rạng rỡ của bà.

Khi còn nhỏ, bố mẹ em thường xuyên bận công việc. Bà là người chăm sóc em. Từ cái ăn đến giấc ngủ. Bà cũng là người luôn ở bên chứng kiến từng bước trưởng thành của em: lúc em tập đi, tập nói… Những kỉ niệm với bà thật đẹp. Em vẫn nhớ những khi được ngủ cùng bà, nghe bà kể chuyện. Giọng kể của bà thật hấp dẫn. Những câu chuyện cổ tích mà bà kể đến bây giờ em vẫn còn thuộc lòng.

Không chỉ dừng lại ở đó, bà cũng dạy cho em rất nhiều bài học bổ ích. Nhờ có bà mà em đã biết yêu thương và kính trọng mọi người xung quanh. Em cũng đã tự giác hơn trong công việc và học tập.

Em rất yêu thương người bà của mình. Em luôn tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để bà luôn tự hào về cháu gái của mình. Bà ngoại của em thật tuyệt vời biết bao.

Tuổi thơ của em là những tháng năm gắn bó với bà nội. Bởi vậy, em luôn dành cho bà một tình cảm kính trọng và yêu mến.

Bà nội của em đã ngoài bảy mươi tuổi. Nhưng bà vẫn còn khỏe mạnh. Trước đây, bà là một đầu bếp. Bà có dáng người khá đầy đặn. Khuôn mặt trông thật phúc hậu. Làn da đã có nhiều nếp nhăn. Mái tóc của bà đã bạc trắng. Đôi bàn tay nhỏ với nhiều vết chai sần. Bà là một người hiền từ, nhân hậu. Với con cháu, bà lúc nào cũng ân cần, quan tâm. Với mọi người xung quanh, bà luôn nhiệt tình giúp đỡ.

Với riêng em, bà là khoảng trời của tuổi thơ. Lúc em còn nhỏ, bà là người đã chăm sóc em mỗi khi bố mẹ vắng nhà. Bà chăm lo cho em từ cái ăn đến giấc ngủ. Mỗi buổi trưa, bà thường hát ru cho em ngủ. Đến lúc em đi học, bà cũng là người đưa em tới trường.

Buổi tối, em sẽ nằm ngủ cùng bà. Bà sẽ kể cho em nghe những câu chuyện về cô Tấm hiền lành, chàng Thạch Sanh dũng cảm hay cậu bé thông minh. Giọng kể của bà khiến cho những câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn biết bao. Không chỉ vậy, bà còn dạy cho em rất nhiều bài học ý nghĩa về cuộc sống. Nhờ có bà mà mà em đã trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, hiểu chuyện hơn.

Bà còn là một tấm gương sáng cho con cháu học tập. Bà khuyên nhủ em luôn cố gắng học tập tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Khi gặp khó khăn, em vẫn thường tâm sự với bà. Lời động viên của bà giúp em cảm thấy tự tin và mạnh mẽ hơn. Các thành viên trong gia đình đều rất kính trọng, yêu thương bà.

Bà nội chính là một điểm tựa tinh thần vững chắc của em. Em mong rằng bà sẽ luôn khỏe mạnh, minh mẫn để sống bên cạnh em. Em tự hứa với bản thân sẽ cố gắng học tập thật tốt để bà luôn cảm thấy tự hào.

Trong gia đình, bà nội là người mà tôi yêu thương rất nhiều. Từ nhỏ tôi đã được bà chăm sóc, dạy dỗ.

Bà nội của tôi năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Mái tóc bà đã bạc trắng đầu, lưng bà còn hơi còng. Làn da nhăn nheo và có nhiều chấm đồi mồi. Nhưng trông bà vẫn rất đẹp lão. Nụ cười của bà rất hiền từ và nhân hậu.

Ông nội đi kháng chiến và hy sinh một cách oanh liệt. Một mình gồng gánh mưu sinh, bà thức khuya dậy sớm tần tảo sớm khuya, sáng sớm bà dậy sớm làm đậu rồi mang ra chợ bán, trưa về lại tranh thủ ra đồng cày cấy, rồi buổi chiều lại lo cho lũ tằm, rảnh chút nào là lại ra đồng mò cua bắt ốc, chân tay không lúc nào thảnh thơi, bà vất vả như vậy cũng phải thôi, vì một người phụ nữ nhỏ bé như bà phải cố gắng bươn chải với cuộc đời để nuôi bốn người con đang tuổi ăn tuổi lớn.

Tuy vất vả là thế nhưng bà nhất quyết không để các con của mình thất học, tư tưởng của bà so với những người cùng thời là rất tiến bộ, bởi vậy bố và các bác, các cô tôi đều được ăn học đàng hoàng và có công ăn việc làm tử tế, tất cả là nhờ sự hy sinh vì con vì cháu của bà. Bà cũng đặc biệt thích nấu ăn, bà hay nấu rất nhiều món mà em thích cho em ăn, các món ăn bà nấu đều đảm bảo dinh dưỡng

Ngày còn thơ bé, do bố mẹ bận công tác, hầu hết thời gian tôi đều ở bên bà. Bà đã thay ba mẹ, chăm sóc chăm bẵm tôi từng li từng tí. Tối nào trước khi đi ngủ tôi cũng được bà kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, sáng sớm bà vỗ về tôi, gọi tôi đi học, nấu những bữa sáng thơm ngon và giàu dinh dưỡng cho tôi ăn. Suốt những năm tôi học tiểu học, bà đều đón đưa tôi đi học, bất kể nắng mưa, mỗi bước chân tôi đến trường đều có bà bên cạnh. Bà luôn dạy dỗ khuyên bảo tôi những điều hay lẽ phải, bà nói tôi phải sống thật tốt, phải luôn ghi nhớ: “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”, luôn biết lắng nghe và chia sẻ cùng những người xung quanh. Tôi yêu thương bà rất nhiều.

Tôi đã tự hứa với bản thân sẽ sống thật ngoan, học thật giỏi, đạt nhiều điểm tốt để bà vui lòng.

Nếu có ai hỏi tôi rằng một trong những người mà tôi yêu thương nhất là ai thì tôi sẽ trả lời rằng đó là bà nội .

Bà tôi là người nhân hậu và hiền từ nhưng gần như suốt cuộc đời của bà chỉ là những khó khăn và bệnh tật. Tôi thương bà lắm! Tôi thương cái mái tóc xoăn xoăn điểm bạc của bà, thương cái dáng đi chầm chậm mà khập khiễng của bà. Bảy mươi tuổi mà tôi trông bà có vẻ già hơn so với người cùng tuổi .

Tôi có được nghe bố kể rất nhiều về bà – một con người chăm chỉ và chất phác. Bà đã tần tảo nuôi hai người con trai khôn lớn trong khi ông tôi đi bộ đội. Đến khi bố tôi có con thì bà lại vất vả trông cháu nhưng bố tôi nói bà lại thấy đó chính là niềm vui của bà.

Khi chưa ngã bệnh, bà tôi còn đi làm lao công cho một cơ quan nhỏ để mong sao kiếm được chút tiền giúp đỡ phần nào cho gia đình tôi khi khó khăn. Bà còn hay mua quà cho anh em tôi, những món quà dù là nhỏ nhưng đầy ý nghĩa như cái đồng hồ báo thức để cho tôi đi học hay những gói kẹo, gói bánh. Từ việc ấy cũng đã đủ để tôi hiểu bà yêu thương anh em chúng tôi đến chừng nào!

Tôi còn biết có lúc đi ra chợ bà nhìn thấy một người ăn xin nghèo khổ thì không bao giờ bà quay lưng lơ đi mà bà sẵn sàng rút ra một tờ tiền trong ví của mình, gấp gọn làm đôi rồi bỏ vào nón của người ăn xin đó. Tôi thật cảm phục trước tấm lòng yêu thương vô hạn và trái tim rộng mở của bà luôn rộng mở đối với bất kỳ ai!

Bà tôi còn là một người rất yêu thiên nhiên nữa. Trong khoảng hiên nhỏ trước nhà bà lúc nào cũng chật đầy những chậu hoa nhài toả hương thơm ngát, những cây ớt nhỏ chi chít những quả xanh, vàng. Bởi vì bà tôi từng bảo: “Thiên nhiên giúp tâm hồn ta trong sáng hơn, giúp tinh thần ta thoải mái hơn.”

Lần nào về thăm bà tôi cũng ngả đầu vào vai bà và tâm sự mọi chuyện của mình. Có lúc tôi ôm bà khóc thút thít rồi bà cũng xoa đầu tôi an ủi. Những khi ấy tôi bỗng cảm thấy bà như đang truyền một hơi ấm tinh thần cho tôi, giúp tôi có thêm nghị lực để vượt qua chuyện buồn.

Đối với tôi, bà nội giống như một điểm tựa tinh thần. Tôi tự hứa sẽ cố gắng học tập tốt, sống có ích để bà luôn tự hào về đứa cháu của mình.

Một mái nhà hạnh phúc luôn là mong muốn của nhiều người, và thật sung sướng biết bao khi tôi đang lớn lên trong tình yêu thương của người thân. Tôi yêu tất cả mọi thành viên trong gia đình, nhưng yêu nhất là người bà đã khuất của tôi – đó là người đã luôn yêu thương và quan tâm tôi từ ngày còn bé.

Bà hiện lên trong kí ức tôi với gương mặt hiền từ và đôi mắt sâu lõm bên dưới vầng trán cao đã có nếp nhăn hằn lên trên mặt, lộ rõ sự khắc khổ qua năm tháng. Mái tóc bạc trắng được bà búi lên trông thật gọn gàng. Bà tôi rất hay cười. Nụ cười của bà làm sáng lên vẻ phúc hậu và nét đẹp lão cho khuôn mặt dù tuổi đã ngoài tám mươi. Làn da nhăn nheo với những đốm đồi mồi vì tuổi tác. Tay chân bà không còn khỏe như trước nữa. Ôi! Sao mà thấy thương bà thế!

Tôi vẫn nhớ như in cái ngày còn nhỏ, cùng bà đi trên con đường làng vắng vẻ. Ánh nắng ban mai ôm ấp lấy hai bà cháu, bóng tre xanh bên đường như đang mở lối, còn những chú chim thì ngân nga đâu đó khúc hát chào ông mặt trời. Tôi vui vẻ trong vòng tay yêu thương của bà, cùng bà cất những bước chân đến ngôi trường mẫu giáo ở cuối xóm. Thích lắm những khi được bà trao cho cái kẹo, cái bánh. Bà là vậy đấy! Luôn dành những thứ ngọt ngào nhất cho tôi! Và hạnh phúc nhất là vào những đêm trăng sáng! Bà hay dẫn tôi ra trước thềm nhà, đặt tôi tựa đầu trong vòng tay bà rồi kể tôi nghe những câu chuyện cổ tích dưới ánh trăng sáng mờ và bóng hàng dừa trước nhà. Lời bà ấm áp, nhẹ nhàng đưa tôi vào giấc ngủ ngon nhất giữa cảnh trăng và tiếng gió thổi vi vu trên những tàu dừa cao chót vót giữa sự tĩnh lặng của mọi vật. Bàn tay bà nhẹ nhàng vuốt lên tóc tôi thật trìu mến. Tôi thấy sao mà ấm áp quá! Bà yêu tôi, luôn quan tâm tôi từ ngày còn bé như thế đấy. Bà chẳng khi nào giận dữ với tôi cả. Khi tôi vui hay làm điều gì tốt thì bà luôn cười và động viên tôi tiếp tục cố gắng. Còn khi tôi làm sai việc gì thì bà nhẹ nhàng nhắc nhở, rồi cũng cười với tôi- nụ cười của bà đầy khích lệ và niềm tin vào tôi.

Tôi nghĩ đến bà trong cuộc sống. Cứ mỗi lần vấp ngã hay thất vọng, tôi lại nhìn về nụ cười của bà trong ảnh là lại có thêm nghị lực để vươn lên và vượt qua tất cả. Ánh mắt bà nhìn tôi như ẩn chứa điều gì đấy làm cho tôi lại chợt nhớ đến những lời động viên, khích lệ của bà ngày trước để tiếp tục cố gắng và hình ảnh của bà luôn bên tôi như ngày còn bé. Tôi đã gặp bà trong mơ, bà nhìn tôi và vẫn nở nụ cười như ngày trước.

Mai này lớn lên, tôi vẫn sẽ không quên những kỉ niệm bên bà. Dù thời gian có trôi xa đến đâu, dù mọi vật có đổi thay như thế nào thì tôi vẫn yêu bà, tình cảm đó là vĩnh cửu và sẽ không mờ nhạt. Hình ảnh của bà và nụ cười mà bà dành cho tôi sẽ mãi trở thành động lực để tôi vươn lên trong những khó khăn vô vàng của cuộc sống, vẫn là hình ảnh mà tôi yêu nhất. Mong sao ở thế giới bên kia bà sẽ luôn vui vẻ dù không có tôi ở cạnh.

Advertisement

Bà bây giờ đã ở thế giới rất xa, đã không còn bên tôi như ngày trước nữa. Với tôi, bà như bà tiên trong truyện cổ tích. Bà đã đem đến cho tôi những điều kì diệu và những phút giây tuyệt vời trong suốt một thời tuổi thơ. Trong cuộc sống, có lẽ khi người mà ta yêu quý nhất ra đi thì người ta rất dễ gục ngã! Nhưng tôi thì không! Tôi tin rằng bà ở trên thiên đàng đang nhìn theo tôi, dõi theo bước tôi trên cuộc đời. Tôi sẽ luôn học thật giỏi để bà được vui lòng nơi phương xa.

Trong cuộc sống, gia đình có vai trò vô cùng quan trọng. Những người thân trong gia đình giống như một điểm tựa tinh thần. Và bà nội chính là người mà em yêu thương nhất.

Năm nay, bà nội của em bảy mươi ba tuổi. Bà không cao lắm, dáng người nhỏ nhắn. Chiếc lưng của bà đã còng xuống vì những năm tháng nhọc nhằn của cuộc đời. Khuôn mặt của bà phúc hậu. Mái tóc đã bạc trắng. Làn da đã in hằn dấu vết của thời gian. Đôi mắt của bà đã mờ đục đi nhiều. Nhưng ánh mắt trìu mền của bà vẫn luôn còn đó. Đôi bàn tay nhăn nheo với nhiều vết chai sần. Đôi bàn tay làm lụng để nuôi con, chăm cháu. Có đôi khi em thường nắm lấy đôi bàn tay của bà để cảm nhận hơi ấm. Nó giống như một nguồn sức mạnh sưởi ấm tâm hồn em. Những vất vả trong cuộc sống vẫn không làm mất đi sức khỏe và sự minh mẫn của bà.

Ông nội mất sớm, bà sống cùng gia đình em từ rất lâu rồi. Khi đó, em vẫn còn bé xíu. Bố mẹ bận đi làm xa, bà là người đã chăm sóc em. Đến khi lớn lên, bà hay kể cho em nghe nhiều câu chuyện bổ ích. Nhờ có bà mà em đã thấu hiểu hơn nỗi khổ cực của nhân dân ta trong những năm chiến tranh ác liệt. Bà cũng đã dạy em phải biết yêu thương, biết chia sẻ với mọi người. Nhờ có sự động viên của bà mà em đã cố gắng học tập thật tốt để tương lai sẽ trở thành một người có ích cho xã hội.

Kỉ niệm về bà có rất nhiều. Nhưng em vẫn còn nhớ mãi về ngày đầu tiên đi học. Không phải bố mẹ, bà là người đã đưa em đến trường. Chính bà cũng đã động viên em theo cô giáo vào lớp học. Nhờ có sự động viên của bà, em đã quên đi sự bỡ ngỡ, lo lắng của mình.

Ngày hôm nay, bà nội đã không còn nữa. Nhưng những kỉ niệm về bà đối với em rất đáng trân trọng. Em sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để trở thành một con người có ích như bà mong muốn.

Mọi người trong gia đình của em đều quan tâm và yêu thương nhau. Nhưng người em cảm thấy yêu quý nhất chính là bà nội.

Năm nay, bà nội của em bảy mươi tuổi. Mặc dù vậy, bà vẫn còn rất khỏe mạnh, minh mẫn. Bà có dáng người nhỏ nhắn. Lưng đã còng xuống vì những năm tháng vất vả nhọc nhằn. Bà có một khuôn mặt phúc hậu. Mái tóc dài đã bạc trắng luôn được bà buộc lại gọn gàng. Làn da in hằn dấu vết của thời gian nhưng vẫn toát lên vẻ hồng hào tươi sáng. Đôi mắt của bà đã mờ đục đi nhiều. Nhưng ánh nhìn thì vẫn chan chứa yêu thương. Bà nội của em giống như những bà tiên trong truyện cổ tích vậy – hiền từ, nhân hậu.

Những kỉ niệm về bà đến bây giờ em vẫn còn trân trọng. Hồi còn bé nằm cạnh bên, nghe bà kể chuyện. Giọng nói ấm áp của bà đã ru em vào giấc ngủ an lành. Bà chăm chút cho em từng bữa ăn khi bố mẹ bận công việc vắng nhà. Cho đến khi em lớn lên, bà vẫn còn lo lắng cho em. Có quà bánh gì, bà đều để dành phần cho em. Dù tuổi đã cao nhưng bà vẫn chăm tập thể dục. Trí nhớ của bà rất tốt. Thỉnh thoảng, em lại ngồi nghe bà kể chuyện cuộc sống thời xưa.

Chính bà nội cũng là người dạy dỗ em những bài học bổ ích. Em lớn lên nhờ có sự chăm sóc ân cần và ấm áp, nhờ những cái ôm động viên, những cái xoa đầu khích lệ. Bà còn dạy em phải biết yêu thương, biết chia sẻ với mọi người. Trong hành trình trưởng thành, ngoài bố mẹ thì bà nội cũng là người dạy cho em cách sống tự lập. Những lời dạy của bà còn giúp em cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành một người có ích cho xã hội. Em mong sao bà mãi luôn khỏe mạnh để có thể gắn bó với em thật lâu.

Bà nội giống như một điểm tựa tinh thần của tất cả các thành viên trọng gia đình. Bởi vậy, em rất yêu quý và kính trọng bà.

Năm nay, bà của em bảy mươi hai tuổi. Nhưng bà vẫn còn rất minh mẫn và khỏe mạnh. Bà có dáng người nhỏ nhắn. Chiếc lưng đã còng xuống vì những năm tháng vất vả kiếm sống. Khuôn mặt của bà trông thật hiền từ. Mái tóc bà đã bạc trắng. Làn da in hằn dấu vết của thời gian nhưng vẫn toát lên vẻ hồng hào tươi sáng. Đôi mắt đã mờ đục đi nhiều. Nhưng cái nhìn trìu mến không vì thế mà bị phai nhòa. Đối với em, bà thật đẹp – giống như những bà tiên trong các câu chuyện cổ tích.

Em thích nhất là đôi bàn tay ấm áp của bà. Đôi bàn tay với làn da đã nhăn nheo. Đôi bàn tay nhỏ bé vất vả lao động cả một đời. Hơi ấm từ đôi bàn tay của bà giống như một nguồn sức sống ấm nóng sưởi ấm tâm hồn em. Mỗi khi về thăm quê, em lại quấn quýt bên bà. Em thích nhất là được nằm trên võng, nghe bà kể chuyện. Những truyện cổ tích đã thuộc lòng nhưng được nghe bà kể lại cảm thấy hạnh phúc biết bao.

Bà nội cũng là người đã chăm sóc em từ khi còn rất nhỏ. Lời hát ru của bà dường như đã in đậm vào trong tâm trí của em. Cho đến bây giờ, bà cũng là người dạy dỗ em những bài học bổ ích. Nhờ có sự dạy dỗ và động viên của bà, em ngày càng trưởng thành hơn. Em mong sao bà sẽ luôn khỏe mạnh, để có thể sống mãi bên cạnh con cháu.

Bà nội là một trong những người phụ nữ tuyệt vời nhất. Em luôn dành cho bà sự kính trọng, tình yêu thương vô cùng, không có gì thay đổi được.

(Chuyện cổ tích về loài người, Xuân Quỳnh)

Tuổi thơ của mỗi đứa trẻ đều sẽ gắn bó với bà. Chúng ta lớn lên nhờ những câu chuyện kể hay lời răn dạy của bà. Và đối với tôi, bà nội chính là một điểm tựa tinh thần vững chắc.

Bà của tôi đã gần bảy mươi tuổi. Nhưng sức khỏe của bà vẫn còn rất tốt. Trước đây, bà là một giáo viên tiểu học.Bà có dáng người khá đầy đặn. Khuôn mặt trông rất phúc hậu. Làn da đã có nhiều nếp nhăn. Mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc. Đôi bàn tay có nhiều vết chai sần. Đôi mắt không còn tinh tường như trước, nhưng luôn sáng ngời tình yêu thương. Bà rất nhân hậu và hiền từ. Đối với con cháu, bà luôn quan tâm, lo lắng. Mọi người trong gia đình đều yêu mến và kính trọng bà.

Còn với riêng tôi, bà chính là cả khoảng trời kí ức. Tuổi thơ tôi sống cùng bà, gắn bó với bà hơn ai hết. Từ khi còn nhỏ, bố mẹ vẫn luôn bận rộn công việc. Bà là người đã chăm sóc tôi từ cái ăn đến giấc ngủ. Lời ru ngọt ngào của bà đã đưa tôi vào giấc ngủ say. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ âm thanh ấm áp đó. Khi lớn hơn, tôi thích được nằm nghe bà kể chuyện. Những truyện cổ tích về chàng Thạch Sanh, chị em Tấm Cám hay cậu bé thông minh được bà kể lại thật hấp dẫn. Không chỉ vậy, bà còn dạy cho tôi những điều hay lẽ. Bà cũng dạy tôi phải biết yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh. Nhờ có bà, tôi đã trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, sống đẹp hơn mỗi ngày.

Bà luôn là tấm gương sáng cho các thành viên trong gia đình noi theo. Khi con cháu mắc sai lầm, bà sẽ răn dạy, đưa ra những lời khuyên đúng đắn. Mỗi lúc buồn phiền chuyện gì đó bà cũng là nơi để chúng tôi chia sẻ. Lời động viên của bà giúp mọi người cảm thấy tự tin hơn, mạnh mẽ hơn. Tôi càng thêm trân trọng bà nội nhiều hơn. Vì vậy, tôi mong sao bà luôn sống khỏe mạnh, vui vẻ bên con cháu.

Người bà cũng giống như người mẹ, đem đến cho chúng ta tình cảm yêu thương ngọt ngào, ấm áp. Vì vậy, mỗi người hãy biết trân trọng và yêu thương người bà của mình nhiều hơn.

Văn Mẫu Lớp 11: Cảm Nhận Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang (2 Dàn Ý + 8 Mẫu) Những Bài Văn Hay Lớp 11

Cảm nhận khổ 1 Tràng Giang hay nhất

Dàn ý cảm nhận khổ 1 Tràng Giang 

Cảm nhận khổ 1 Tràng giang hay nhất

Cảm nhận khổ 1 Tràng giang 

Cảm nhận Tràng Giang khổ 1 

Dàn ý cảm nhận khổ 1 Tràng Giang Dàn ý số 1

a) Mở bài

– Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm:

– Dẫn dắt vào vấn đề: Khổ thơ đầu bài thơ đã miêu tả xuất sắc cảnh sông nước mênh mang, heo hút của sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗi buồn của người thi sĩ trước không gian vô tận.

b) Thân bài

* Khái quát về tác phẩm

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều thu năm 1939 khi tác giả đứng ở bờ Nam Bến Chèm, ngắm cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước.

– Ý nghĩa nhan đề:

– Ý nghĩa câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

Gợi nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc

Thể hiện cảm xúc chủ đạo của tác giả xuyên suốt tác phẩm : tâm trạng “bâng khuâng”, nỗi buồn mênh mang, không rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi.

Không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp.

* Phân tích nội dung khổ 1 bài Tràng giang

– Bài thơ mở đầu bằng một khổ thơ mang vẻ đẹp thiên nhiên, đậm chất cổ thi. Cảnh vật thiên nhiên ấy lại được cảm nhận qua tâm hồn “sầu vạn kỉ” của nhà thơ:

“thuyền, nước, sóng,…” là các thi liệu trong thơ Đường được nhà thơ sử dụng gợi lên một bức tranh thủy mặc đẹp nhưng buồn đến tê tái.

Ở câu thứ 2, hình ảnh “thuyền”, “nước” còn sóng đôi, “song song” nhưng đến câu thứ 3 thì đã chia li tan tác: “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”.

Nếu nỗi buồn ở câu 1 còn mơ hồ chưa định hình rõ ràng thì đến đây nó đã trở thành nỗi sầu lan tỏa khắp không gian.

Ấn tượng nhất là hình ảnh ẩn dụ “củi một cành khô” từ thượng nguồn trôi dạt trên dòng sông, đang phải chọn lựa sẽ xuôi theo dòng nước nào.

Nghệ thuật đảo ngữ đã đẩy từ “củi” lên đầu câu nhằm nhấn mạnh thân phận nhỏ bé, bọt bèo của kiếp người trong cuộc sống.

– Đánh giá khái quát nội dung khổ thơ: Khổ thơ cho ta thấy được tâm trạng buồn bã, băn khoăn, ngơ ngác trước những ngã rẽ của cuộc đời. Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏ bé, lẻ loi, cô độc của một kiếp người giữa dòng đời rộng lớn.

* Đặc sắc nghệ thuật

– Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại:

Cổ điển ở thể thơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “tả cảnh ngụ tình”.

Hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là hình ảnh “cành củi khô” gây ấn tượng.

– Hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.

c) Kết bài

– Khái quát nội dung khổ thơ đầu bài Tràng giang

– Cảm nhận của bản thân về đoạn thơ

Dàn ý số 2

I. Mở bài:

– Giới thiệu về tác giả Huy Cận và tác phẩm Tràng giang

– Khổ thơ đầu mở ra nỗi sầu nhân thế của tác giả với không gian thiên nhiên bất tận.

II. Thân bài:

* Hoàn cảnh sáng tác bài thơ

– Khi tác giả đứng trước sông Hồng vào một chiều thu năm 1939, khi tròn hai mươi tuổi, ở bờ Nam bến Chèm, cùng nỗi sầu vô tận trong tâm hồn.

* Phân tích khổ 1:

– Tác giả đứng trên bờ sông nhìn xuống dòng nước mênh mông của sông Hồng, tạo nên những hình ảnh vừa chân thực lại vô cùng giàu sức gợi.

Một dòng sông lững lờ trôi với những cơn sóng gợn, với chiếc thuyền nhỏ và một cành củi khô giữa dòng.

Hai từ “tràng giang”: là từ Hán Việt, với hai âm “ang” tạo nên tiếng vọng cho câu thơ, vừa gợi lên một dòng sông dài rộng và cổ kính.

– Một con thuyền xuất hiện giữa dòng nước mênh mông

+ Con thuyền không đảo chèo, ngược sóng mà buông thõng mái chèo, “xuôi mái”, thụ động, mặc dòng nước đưa đẩy.

– Hình ảnh “Thuyền về … ngả”:

Hình ảnh thường xuất hiện trong thơ văn

Thuyền và nước tưởng gặp nhau, hứa hẹn cùng nhau nhưng ở đây, sự gặp gỡ chỉ là phút chốc, để rồi lại chia lìa đôi ngả.

Hình ảnh “thuyền về nước lại”: gợi lên cảnh chia li, xa cách.

“Sầu trăm ngả”: Mối sầu muôn dặm, to lớn, rộng khắp.

– Hình ảnh “Củi …mấy dòng”:

Đầu tiên là nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh hình ảnh cành củi khô giữa dòng nước.

Nhấn mạnh sự nhỏ bé, đơn độc của một cành củi nhỏ giữa sóng nước bao la.

“Cành củi khô”: Gợi lên sự khô héo, không còn sức sống lại ít ỏi

“Mấy dòng”: Vừa gợi lên cảnh sông nước mênh mông, vừa gợi lên hình ảnh của dòng đời, vô số bước đường đi nhưng không biết chọn hướng nào mà bước tới.

* Kết luận chung:

– Khổ thơ gợi lên nỗi buồn sâu lắng của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, gợi lên sự chia ly, xa cách giữa những con người, không có sự giao hoa, đặc biệt tác giả muốn nhận mạnh nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé, lênh đênh, vô định trước cuộc đời.

– Nghệ thuật: Huy Cận đặc biệt sử dụng thành công các hình ảnh gợi tả, cách gieo vần nhịp nhàng.

III. Kết bài:

– Khẳng định lại ý nghĩa của khổ thơ.

Cảm nhận khổ 1 Tràng giang hay nhất Bài làm mẫu 1

Huy Cận là một trong những nhà thơ thành công nhất phong trào thơ Mới. Người ta nhận xét thơ của Huy Cận thường buồn, một nỗi buồn sâu thăm thẳm, da diết, nỗi buồn của nhân thế, cuộc đời. Các tác phẩm thơ của ông thường nghiêng về nỗi buồn và một trong số đó là Tràng Giang. Bài thơ là điển hình cho nỗi buồn nhân thế mà Huy Cận luôn mang nặng trong lòng. Và ở khổ đầu tiên trong bài thơ, Huy Cận đã miêu tả một cách thật chân thực cái nỗi buồn heo hút, mênh mang trong lòng mình, nỗi buồn trước một không gian thiên nhiên vô cùng vô tận.

Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một chiều thu năm 1939, khi một mình ông đứng trước dòng sông Hồng hùng vĩ, lúc đó, ông hai mươi tuổi ở bờ Nam, bến Chèm, cùng nỗi buồn vô tận trong tâm hồn.

Bài thơ là hình ảnh của thiên nhiên rộng lớn, đẹp đẽ, hùng vĩ của quê hương, ẩn sau bức tranh đó là một nỗi buồn sâu thăm thẳm của Huy Cận và một tấm lòng nặng tình với quê hương. Hiện lên giữa không gian mênh mông của thiên nhiên là một cái tôi nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn giữa cuộc đời cùng nỗi cô đơn, sầu muộn vô cùng. Huy Cận, qua bài thơ, muốn thể hiện niềm khao khát được hòa nhập với con người, với thiên nhiên, và kín đáo đặt trong đó là nỗi niềm của một thanh niên yêu nước yêu quê hương vô cùng. Con người ở thế giới của ông, sống giữa quê hương của mình nhưng lại thấy bơ vơ, lạc lõng trên chính quê hương ấy, đây phải chăng là một nỗi niềm, xúc cảm của một người dân mất nước, bơ vơ giữa cuộc đời với tình yêu quê hương tha thiết của mình?

Bài thơ được Huy Cận kết hợp giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, ông đem tinh thần, cái tôi của thơ Mới vào trong một bài thơ thể thất ngôn với chất thơ Đường. Những hình ảnh với thi tứ cổ đầy gợi tả và sinh động. Chất thơ Đường cũng thật đậm đặc, thấm đẫm từ nhan đề thơ các bút pháp nghệ thuật (đối ngẫu, song đối).

Huy Cận đã sáng tác bài thơ khi đứng trên bến Chèm nhìn xuống dòng sông Hồng đang chầm chậm chảy, vậy nên mở đầu bài thơ, người ta mới thấy mở ra một không gian tràn đầy sóng nước cùng nỗi buồn miên man:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

Một hình ảnh vô cùng chân thực và giàu sức gợi tả. Một dòng sông lững lờ trôi với những con sóng gợn lên mênh mang. Cụm từ “tràng giang” được nhà thơ đặt ngay đầu của câu thơ đầu tiên, với hai âm “ang” tạo nên tiếng vọng cho câu thơ, cũng gợi lên cho người độc chúng ta hình ảnh về một dòng sông dài, rộng, mênh mông sóng nước, lại cổ kính, xa xưa. Huy Cận đã tinh tế vô cùng khi không đặt ở đây hai từ “trường giang” mà lại là “tràng giang” khiến cho người ta thấy rằng dòng sông không chỉ có chiều dài mà còn có một chiều sâu thật bí ẩn nữa. Hai từ “tràng giang” dường như cũng gợi lên phảng phất một chút gì đó trầm buồn đang rợn ngợp trong tâm hồn nhà thơ. Từng con sóng nối nhau liên tiếp, dồn dập “điệp điệp” tràn lên nhau, xô nhau đẩy vào bờ.

“Điệp điệp”, từ láy mà Huy Cận dùng ở đây để gợi lên sự liên tiếp, tiếp nối nhau không rời, không dứt. Những con sóng “gợn” lên trên mặt nước sông cứ “điệp điệp” nối nhau, vỗ lăn tăn trên mặt sông, trùng trùng như nỗi buồn trong lòng tác giả, miên man, chồng chất, trải dài vô tận, một nỗi buồn thật cụ thế. Từ láy “điệp điệp” càng nhấn mạnh cái nỗi buồn trong lòng nhà thơ.

Dòng sông dài rộng là thế, bao la là thế, đột ngột xuất hiện một chiếc thuyền nhỏ lênh đênh mà lạc lõng vô cùng:

“Con thuyền xuôi mái nước song song”

Một chiếc thuyền nhỏ bé, lững thững chảy trôi theo dòng nước đối lập với cái bao la, mênh mang của dòng sông. Điều ấy lại càng gợi lên sự nhỏ bé, cô liêu đến vô cùng của con thuyền kia. Con thuyền ấy không như con đò trên dòng sông Đà cuồn cuộn chảy của Nguyễn Tuân cố sức vượt thác ghềnh, con thuyền của Huy Cận lại buông thõng mái chèo “xuôi mái”, để dòng nước đẩy trôi một cách thụ động. Dưới con mắt nhìn của cái tôi lãng mạn, con thuyền kia phải chăng chính là những số phận nhỏ bé, những kiếp người lênh đênh giữa cuộc đời. Và dòng sông chính là dòng chảy của cuộc sống mà con thuyền chỉ là một vật thể quá đỗi nhỏ bé giữa dòng sông ấy? Từ xưa tới nay, con thuyền, dòng sông luôn là những hình ảnh gợi lên những điều xa xôi, những nỗi buồn xa vắng. Ở đây, Huy Cận cũng sử dụng cái hình ảnh cổ điển ấy để gợi lên tâm trạng, nỗi lòng của mình. Cùng với từ láy “song song”, người ta lại cảng cảm nhận được sự bất lực của con thuyền kia, nó chẳng hề biết mình sẽ theo dòng chảy trôi về đâu, nó chỉ biết xuôi mái chèo “song song” cùng dòng nước, bỏ mặc tất cả.

Nghệ thuật tiểu đối được nhà thơ sử dụng trong hai câu thơ đầu tiên “buồn điệp điệp” – “nước song song”, tạo nên sự nhịp nhàng, chậm rãi cho hai câu thơ nhưng làm người ta cảm thấy đó như tiếng thở dài đầy não nề của Huy Cận khi đứng nhìn dòng sông chảy.

Nỗi buồn của Huy Cận dường như thấm vào trong cảnh vật, mỗi hình ảnh ông nhìn đều là nỗi buồn, đều là những cảnh sầu muộn, không hề có chút vui tươi. Hình ảnh con thuyền giữa dòng sông cũng mang lại cho người ta một sự buồn bã, gợi lên cảnh lênh đênh. Và con thuyền ấy còn khiến người ta nghĩ về sự chia ly khi mà ông viết:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền với nước luôn là hai hình ảnh song hành với nhau, thế mà ở đây, lại mang đến một sự xa cách đầy buồn tủi. Nghệ thuật đối ngẫu “thuyền về nước lại” khiến người ta thấy được sự chia lìa, thuyền một hướng, nước lại một hướng, thật buồn bã biết bao. Thuyền và nước ở đây được nhân hóa như một con người, chúng cũng có cảm xúc “sầu trăm ngả”. Nỗi sầu ấy dường như lan tỏa ra, tràn ra vô tận, khắp mọi không gian. Đọc câu thơ lên mà người ta như thấy con thuyền cứ lênh đênh, cứ đi xa mãi, còn dòng nước cứ lặng lẽ ở lại, heo hút, mù mịt.

Đọc câu thơ mà người đọc như cảm nhận được nỗi buồn ngấm vào trong gan ruột, ngấm vào từng câu chữ, buồn đến vô cùng vô tận.

Thế nhưng, đặc sắc nhất trong thơ Huy Cận, trong tác phẩm Tràng Giang phải kể tới hình ảnh thơ độc đáo:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Các nhà thơ thường sử dụng những hình ảnh mang biểu tượng với ý nghĩa đẹp đẽ như vầng trăng, con thuyền, dòng sông, mặt nước, … thế nhưng ở đây, Huy Cận lại tận dụng một hình ảnh thơ có lẽ là độc nhất vô nhị trong thi ca Việt – cành củi khô. Hình ảnh cành củi khô giữa dòng nước vừa giản dị, vừa gợi lên bao cảm xúc khác lạ, mới mẻ trong lòng người đọc. Một cành củi khô lạc lõng giữa dòng chảy mênh mang của dòng sông, nó bơ vơ, không biết hướng về đây. “Cành củi” vốn đã tạo nên một cảm giác thật nhỏ bé, thật tầm thường, vậy mà ở đây lại chỉ là một cành củi “khô”, càng gợi lên sự hoang tàn, héo úa, thiếu sức sống. Cành củi ấy không như con thuyền, nó nhỏ bé hơn, bị quăng quật trong dòng nước bao la đến nỗi “lạc mấy dòng”. Nghệ thuật đảo ngữ được Huy Cận tận dụng triệt để ở đây, ông nhấn mạnh từ “củi” để gợi lên sự héo úa, thiếu sức sống đồng thời cũng để nhấn mạnh sự lẻ loi của cành củi giữa dòng sông rộng lớn. Một vật thể nhỏ bé, lại chỉ có một “củi một cành khô”, ít ỏi quá đỗi giữa cái mênh mông của sông nước này. Nhịp thơ 1/3/3, chậm rãi như gợi lên cái bé nhỏ quá đỗi của cành củi kia.

Cả câu thơ như muốn gợi lên hình ảnh của một thân phận bé nhỏ, bơ vơ giữa dòng đời. Cành củi lạc giữa dòng nước chảy trôi cũng như con người mang trong mình nỗi sầu vô hạn, bơ vơ giữa dòng đời đang xô tới. “Mấy dòng” nước, mấy dòng đời, vậy mà chẳng thể chọn lấy một con đường đi, con người ấy thật lạc lõng, thật lênh đênh quá. Như Tố Hữu cũng đã từng nói về sự bơ vơ, vô định, không biết hướng đi cuộc đời mình trong bài “Dậy lên thanh niên”:

Huy Cận cũng đang trong tình thế ấy, và Huy Cận còn có một nỗi buồn mênh mang, sâu lắng hơn cả Tố Hữu nữa.

Khổ thơ đầu bài thơ Tràng Giang đã cho chúng ta thấy được một nỗi buồn xuyên suốt trong từng câu chữ. Tất cả những hình ảnh thơ đều sầu muộn, không có lấy một chút sức sống, chúng đều lênh đênh, bơ vơ, lạc lõng giữa dòng nước trôi. Có lẽ bởi chính tâm hồn của Huy cận cũng đang trong một nỗi buồn nhân thế, chính vì vậy, nỗi buồn ấy đã ngấm sang từng cảnh vật quanh ông. Như Nguyễn Du đã từng khẳng định rằng:

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Bằng việc sử dụng cực kì hiệu quả những phép đối, những hình ảnh thơ, những biện pháp tu từ, ẩn dụ, nhân hóa, đã khiến cho chúng ta cảm nhận được một cái tôi thật nhỏ bé giữa cuộc đời, đặc biệt khi nó đứng trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, giữa vũ trụ bao la.

Khổ thơ nói riêng cũng như bài thơ Tràng Giang nói chung đều tiêu biểu cho hồn thơ mang nỗi sầu nhân thế của Huy Cận – một nhà thơ thuộc phong trào thơ Mới vô cùng tài năng.

Bài làm mẫu 2

Huy Cận được mọi người biết đến là nhà thơ của phong trào thơ mới. Các tác phẩm của ông hầu như ca ngợi về vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng lại chất chứa nỗi sầu của thế gian. Trong tất cả các tác phẩm, Tràng Giang được đánh giá cao về nội dung lẫn nghệ thuật.

Bài thơ được ông sáng tác vào năm 1939 khi đứng ở bờ Nam Bến Chèm và ngắm sông Hồng. Có thể nói, chính cảnh vật nơi đây đã khơi gợi nguồn cảm hứng bất tận trong ông.

Khổ 1 tuy chỉ có vài câu ngắn gọn nhưng đã thể hiện rõ được bức tranh sông nước mênh mông cùng với tâm tình của người thi sĩ.

Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ đậm chất cổ thi. Cảnh vật thiên nhiên được khắc họa qua tâm hồn của người thi sĩ trở nên mới lạ và độc đáo hơn. Bức tranh thủy mặc hiện lên vô cùng đẹp với hình ảnh sóng gợn và thuyền xuôi. Con sóng chỉ gợn nhẹ nhưng cứ “điệp điệp” mãi không thôi. Nhờ sóng mà con thuyền cứ mãi xuôi theo dòng nước. Trong 2 câu thơ này, tác giả còn sử dụng từ láy để làm gia tăng nhịp điệu cho lời thơ. Cách dùng từ của nhà thơ khá độc đáo mang đến điểm mới trong văn chương.

Bức tranh sông nước hiện lên vô cùng đẹp qua lời thơ của tác giả. Thế nhưng, tâm hồn con người lại ẩn chứa nỗi buồn sâu lắng. Do sự tác động ấy mà khi đọc hai câu thơ đầu, chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn man mác được thể hiện qua từ ngữ. Sông nước mênh mông là thế nhưng con người mãi chỉ là sinh vật nhỏ bé chẳng giữa đất trời.

Hình ảnh thuyền và nước sau khi được song song với nhau thì lại bị tách ra. Đây chính là sự xa cách giữa muôn trùng khơi. Hình ảnh ấy đã được nhân hóa khiến để gia tăng cảm xúc. Cụm từ “sầu trăm ngả” đã mang đến cho người đọc cảm giác buồn vô tận. Nỗi buồn ấy dường như đã lan tỏa ra khắp không gian. Đọc câu thơ, chúng ta sẽ hình dung được cảnh con thuyền lênh đênh vô tận giữa dòng nước bao la. Hình ảnh thuyền và sông đối lập nhau đã làm rõ rệt hơn nỗi buồn da diết của người thi sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, nhà thơ còn sử dụng hình ảnh “củi khô” điểm xuyết vào khung cảnh sông nước ấy. Chính yếu tố này đã khiến cho sự lẻ loi của con người giữa trời đất rộng lớn. Cành củi còn bị “khô” thể hiện sự thiếu sức sống của con người. Đặc biệt, tác giả còn sử dụng phép đảo ngữ cho cụm từ “củi một cành khô” cùng với nhịp thơ 1/3/3 để nhấn mạnh thân phận con người bị vùi dập. Đứng trước khung cảnh ấy, người thi sĩ cảm thấy nỗi buồn man mác. Ông buồn cho thân phận của con người, nghĩ về dòng đời lênh đênh, trôi nổi. Kiếp người vốn có nhiều sự thay đổi nhưng chẳng ai biết trước được điều gì. Con người luôn cô độc, lẻ loi và chơi vơi giữa dòng đời mà chẳng biết đi về đâu.

Nỗi buồn của thi sĩ khi đứng trước dòng đời bao la

Qua khổ thơ 1 bài Tràng Giang, chúng ta đã phần nào thấy rõ được sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhà thơ giữa bút pháp hiện đại và cổ điển. Nhờ đó mà lời thơ gần gũi nhưng vẫn tác động mạnh mẽ vào lòng người đọc. Thêm vào đó là cách đặt nhan đề độc đáo theo kiểu tả cảnh ngụ tình.

Thêm vào đó, sự xuất hiện của những từ láy trong khổ 1 còn mang lại nhiều giá trị biểu cảm. Thông qua đó, chúng ta sẽ cảm nhận được sự heo hút và mênh mông của dòng sông Hồng và sự nhỏ bé của con người trong khung cảnh ấy.

Ngoài ra, Huy Cận còn thành công trong việc sử dụng hình ảnh độc đáo. Có thể bạn chẳng thể bắt gặp được hình ảnh “củi một cành khô” trong thơ văn Việt Nam. Chính sự mới mẻ này đã tạo nên điểm nhấn ấn tượng nâng cao giá trị của tác phẩm.

Cảm nhận khổ 1 bài Tràng Giang, chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn xuyên suốt cả đoạn. Tất cả các hình ảnh được nhắc đến mặc dù gần gũi nhưng lại hiện lên rất buồn và không có sức sống dưới ngòi bút của Huy cận. Bởi vì, tâm hồn đang ẩn chứa nỗi buồn nên thơ văn và cảnh vật hiện lên trông rất ảm đạm.

Cảm nhận khổ 1 Tràng giang Bài làm mẫu 1

Huy Cận là cây bút tiêu biểu trong phong trào thơ Mới. Đến với thơ Huy Cận, người đọc sẽ dễ dàng rung động bởi nỗi buồn man mác quẩn quanh. Tràng Giang là một tác phẩm như thế. Bài thơ sẽ gợi lên cho chúng ta nỗi buồn nhân thế nặng sâu trong lòng tác giả. Nỗi buồn ấy đặc biệt mênh mang, heo hút giữa không gian thiên nhiên vô tận được khắc họa ở đoạn mở đầu bài thơ:

Mở đầu đoạn thơ, nhà thơ mở ra trước mắt ta một không gian tràn đầy sóng nước:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

Chỉ một câu thơ ngắn gọn nhưng bao quát được cả khung cảnh rộng lớn đồng thời gợi lên bao cảm xúc trong lòng người. Hình ảnh dòng sông lững lờ trôi với những làn sóng gợn mênh mang hiện lên vô cùng chân thực và giàu sức gợi. “Tràng giang” với âm “ang” nối liền tạo nên tiếng vọng trong câu thơ, vẽ lên trước mắt người đọc hình ảnh dòng sông dài rộng, mênh mông sóng nước. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng từ láy “điệp điệp” gợi sự liên tiếp, nối liền nhau dường như không dứt. Những con sóng gợn trên mặt sông rộng lớn, nối đầu lên nhau, lớp này tiếp lớp kia, lăn tăn không dứt. Không gian rộng lớn, mênh mông dường như càng làm nổi bật nỗi buồn miên man đang rợn ngợp trong lòng tác giả.

Giữa dòng chảy bao la ấy, chiếc thuyền nhỏ đột nhiên xuất hiện, lênh đênh lạc lõng:

“Con thuyền xuôi mái nước song song”

Hình ảnh chiếc thuyền bé nhỏ, lững thững trôi đối lập hoàn toàn với dòng sông mênh mang, vô tận. Không giống như con thuyền trên sông Đà của Nguyễn Tuân, mạnh mẽ vượt qua thác ghềnh, con thuyền trôi trên dòng sông trong thơ Huy Cận “xuôi mái” để dòng nước đẩy trôi đầy hững hờ. Thế nhưng, dưới cái nhìn của cái tôi Huy Cận, con thuyền ấy không phải là con thuyền bình thường. Nó phải chăng chính là biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé, cho những kiếp người đang lạc lõng lênh đênh giữa dòng chảy cuộc đời rộng lớn.

Từ láy “song song” được sử dụng trong câu thơ càng nhấn mạnh sự bất lực của con thuyền. Nó dường như chẳng biết mình sẽ trôi về đâu, buông xuôi mái chèo, bỏ mặc tất cả. Nghệ thuật tiểu đối “buồn điệp điệp” – “nước song song” liên kết hai câu thơ tạo sự nhịp nhàng, chầm chậm đồng thời cũng như lặng lẽ trút ra tiếng thở dài đầy não nề của Huy Cận trước cuộc đời thực tại.

Nỗi buồn của lòng người như thấm đượm vào cành vật. Trong cái nhìn sầu đau của thi sĩ, sự chia ly chậm rãi hiện diện:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước những tưởng là hai hình ảnh song song đồng hành với nhau, đến đây lại cách xa đầy buồn tủi. Hình ảnh đối ngẫu “thuyền về nước lại” gợi sự chia lìa xót xa, thuyền một hướng, nước một hướng, sầu thương vô cùng. Thuyền lênh đênh trôi mãi đi xa chỉ còn dòng nước lặng lẽ ở lại, heo hút, cô quạnh. Thuyền và nước ở đây không còn là sự vật vô tri vô giác của thiên nhiên mà đã được nhân hóa lên như một con người. Trước chia ly, chúng cũng có cảm xúc như con người: “sầu trăm ngả”. Nỗi sầu không ngả một bên mà ngả trăm đường, lan tỏa, tràn lan như nuốt chửng cả không gian. Câu thơ vang lên mà lòng người không khỏi trùng xuống.

Nỗi buồn vẫn man mác bao trùm, khổ thơ khéo lại bằng hình ảnh vô cùng độc đáo:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

“Củi” là thứ đơn sơ, mộc mạc, chưa từng xuất hiện trong thơ ca mang ý nghĩa biểu tượng. Thế nhưng dưới cái nhìn của Huy Cận, nó lại gợi lên bao cảm xúc khác lạ, mới mẻ trong lòng người đọc. “Cành củi” vốn đã mang cảm giác thật nhỏ bé, một cành củi “khô” ở đây càng gợi lên sự hoang tàn, héo úa. Một cành củi khô lạc lõng giữa dòng chảy mênh mang của dòng sông, bơ vơ, vô định. Nó thậm chí không thể xuôi dòng song song như con thuyền, bị quăng quật theo dòng nước, lạc đến mấy dòng. Lối viết đảo ngữ “củi một cành khô” được sử dụng càng nhấn mạnh nỗi cô đơn, lẻ loi, héo tàn.

Câu thơ như muốn gợi lên hình ảnh của thân phận nhỏ bé, bơ vơ lênh đênh giữa cuộc đời. Cành củi khô lạc giữa dòng nước dường như chính là hình ảnh biểu tượng cho con người mang trong mình nỗi sầu lo, lạc lõng vô định giữa dòng đời xô đẩy, không biết đi đâu về đâu.

Có thể nói, với 4 câu thơ ngắn gọn, Huy Cận đã sử dụng hiệu quả những biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Những hình ảnh thơ gợi cảm cùng phép đối và các biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, các từ láy đã giúp người đọc cảm nhận được cái tôi nhỏ bé, suy tư giữa cuộc đời. Nỗi buồn của nhà thơ trước không gian mênh mang, rộng lớn cũng chính là nỗi lòng của thế hệ thanh niên trí thức trước tình cảnh đất nước mất chủ quyền.

Với những giá trị trên, khổ thơ đã góp phần không nhỏ làm nên giá trị nội dung và tư tưởng của Tràng Giang. Đồng thời thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của Huy Cận. Để rồi năm tháng lặng lẽ chảy trôi, tiếng thơ Huy Cận vẫn còn âm vang mãi trong lòng độc giả.

Bài làm mẫu 2 Bài làm mẫu 3

Những cung bậc cảm xúc của con người thường được con người ẩn giấu qua những câu hát, giai điệu, câu thơ câu văn. Chính các nhà văn, nhà thơ thường bày tỏ nỗi lòng của mình qua các câu chữ thấm đậm tình. Huy Cận là một trong những nhà thơ như vậy. Độc giả luôn cảm nhận được tâm trạng của ông qua các bài thơ ông sáng tác. “Tràng giang” – một tác phẩm không thể không kể đến, một tác phẩm kiến người đọc phải bồi hồi trong cảm xúc của tác giả. Chắc hẳn mọi độc giả đều ấn tượng với khổ thơ đầu tiên. tác giả đã vẽ lên khung cảnh thiên nhiên thật đẹp trước sự cô đơn hiu quạnh quặn lòng.

Nhan đề bài thơ là từ Hán Việt “Tràng giang”, hai từ này nghĩa là “sông dài”, thật gợi hình gợi cảm tạo nên một không gian cổ kính. Thêm vào đó, điệp vần “ang” đã tạo nên một âm vang xa mà rộng, mà dài, kéo mãi gợi nên một không gian bao la rộng lớn dài thật trang nghiêm. Cùng với nhan đề, đề tựa của bài thơ cũng rất đặc biệt “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”. Phải chăng “bâng khuâng” chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ để tác giả gửi gắm nỗi buồn vô hình của mình. Hình ảnh con người thật là nhỏ bé cô đơn trước biển “trời rộng, sông dài”.

Mở đầu đoạn thơ, mở ra trước mắt ta là một dải sông dài rộng lớn:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

Một câu thơ chỉ vẻn vẹn có bảy chữ mà đã miêu tả được bao quát khung cảnh rộng lớn cùng với cảm xúc trong lòng tác giả. “Sóng gợn” – hình ảnh những làn sóng nhỏ li ti di chuyển trên một dòng sông dài và rộng làm cho con người ta khi đứng trước cảnh này không khỏi cảm thấy mơ hồ. Ở đây, tác giả đã sử dụng đến từ láy “điệp điệp” để miêu tả nỗi lòng của mình. Những gợn sóng cho ta cảm giác rất nhẹ nhàng nhưng không, nó cứ xô tiếp, “điệp điệp” kéo dài không ngớt, nó đẩy lòng người vào một nỗi buồn dai dẳng không ngừng.

Hình ảnh chiếc thuyền lại được xuất hiện thật gợi hình gợi cảm trong thơ của Huy Cận:

Trước một khung cảnh bao la bát ngát, xuất hiện lên một con thuyền khiến nó trở nên thật cô đơn hiu quạnh lênh đênh trên dòng sông nước rộng lớn. Những tưởng “thuyền” và “nước” là hai vật thể “song song” không thể tách rời, nhưng qua cái nhìn của Huy Cận, chúng lại chia lìa nhau. Một hình ảnh đối lập giữa “thuyền” và “nước”, một nỗi “sầu” của hai vật thể song song mà trải dài đến tận trăm ngả, điều đó càng giúp ta hiểu thêm được nỗi lòng của nhà thơ đó là nỗi buồn chia li, nỗi lòng tiếc nuối.

Nếu như thuyền, sông, sóng và nước quá đỗi quen thuộc với độc giả trong các bài thơ thì chắc chắn độc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên với hình ảnh nhà thơ đã mượn để miêu tả ở câu thơ cuối của khổ đầu:

“Củi một cành khô lạc mất dòng”

Có thể nói rằng đây là một câu thơ “đắt” nhất của khổ đầu. “Củi” một thứ mộc mạc đơn sơ giản dị, tưởng chừng không mang một ý nghĩa gì trong thơ văn, nhưng dưới cái nhìn của Huy Cận nó lại trở nên thật gợi hình gợi cảm. Một hình ảnh ẩn dụ mà mang tính hiện đại mới mẻ đến với người đọc. Lối viết đảo ngữ “củi một cành khô” gợi nên một sự cô đơn, lạc lõng nó gần như “khô” quạnh không có sức sống. Đó cũng chính là tâm trạng của tác giả cũng như bao con người đang lạc mình trong thời kỳ mất nước.

Một khổ thơ chỉ có hai mươi tám chữ mà đã vẽ lên cho người đọc bao cảm xúc bồi hồi của một tâm hồn lớn trước tình cảnh đất nước mất chủ quyền. Tác giả đã rất thành công trong việc miêu tả cảnh, sử dụng độc đáo các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ và ẩn dụ. Giữa không gian rộng lớn mênh mông, người nghệ sĩ thấy bơ vơ, nỗi buồn nhân thế giữa dòng đời xô đẩy.

Bài thơ “Tràng giang” nói chung cũng như khổ thơ đầu nói riêng đã đạt đến trình độ cao của văn chương, khiến người đọc không thể nào quên được. Huy Cận thật khéo léo khi kết hợp tả khung cảnh thiên nhiên và nỗi lòng của mình vào trong đó. Dù tác giả không có nhắc trực tiếp đến đất nước những từ tận sâu trong bài thơ đó là tình yêu Tổ quốc, một lòng đau đáu về đất nước, luôn cầu mong cho đất nước “quốc thái dân an”.

Bài làm mẫu 4

Nếu như Xuân Diệu là thi sĩ của niềm ám ảnh thời gian thì Huy Cận lại là nhà thơ của nỗi khắc khoải không gian. Đọc Tràng giang, chẳng ai có thể phủ nhận rằng Huy Cận chính là nhà thơ buồn nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Nỗi buồn cố hữu trong tâm hồn cùng với cảm giác lạc lõng trong cảnh đất nước mất chủ quyền mà ông đã viết lên bài thơ Tràng giang sau những chiều dạo chơi bên bến Chèm, Hà Nội. Nỗi lòng ấy, cái tôi ấy được thể hiện rõ ràng nhất trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ:

Huy Cận là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất trong phong trào thơ Mới 1939-1945, thơ ông mang một nét đặc sắc và giọng điệu riêng, có chiều sâu xã hội cũng như triết lí. Ông làm thơ từ năm 1934, đăng thơ từ năm 1936 và có nhiều tác phẩm tiêu biểu như tập thơ Lửa thiêng (1940), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960),…Tràng giang là một bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, sáng tác năm 1939, đăng lần đầu trên báo Ngày nay, sau đó in vào tập Lửa thiêng.

Ngay từ khổ đầu tiên, Huy Cận đã mở ra trước mắt đọc giả cảnh sông nước mênh mông bất tận:

Cảnh và tình người được thể hiện song song trong từng câu thơ. Con sóng trên mặt nước sông Tràng giang gờn gợn nhẹ nhàng không dứt cũng như nỗi buồn của con người cứ dào dạt đến hết đợt này lại đợt khác. Một nỗi buồn “ điệp điệp “ day dứt lòng người. Với tấm lòng sầu tư ngắm nhìn cảnh ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra từng đợt điệp điệp. Dư ba của dòng sông gợi những xao xuyến trong lòng người; nghệ thuật ẩn dụ đã khiến sóng sông hòa với sóng lòng, những gợn sóng trên sông triền miên, vô tận như hữu hình hóa những gợn buồn trong lòng người, nhẹ nhàng mà mênh mang không dứt. Câu thơ của Huy Cận nhấn mạnh tương quan về sắc thái: sóng gợn miên man vô tận cũng như nỗi buồn điệp điệp triền miên da diết khôn nguôi…Còn con thuyền trên sông, nó không phải được chèo lái mà là “ xuôi mái “ tự mình thả trôi theo dòng nước gợi lên sự lênh đênh trôi dạt phó mặc cho dòng nước chảy. Hình ảnh con thuyền đó gợi lên kiếp người nhỏ bé đơn côi với cuộc đời vô định của mình.

Advertisement

Giữa Tràng giang điểm nhìn của tác giả hướng vào con sóng nhỏ gợn trên mặt nước. Sóng tuy rất nhiều nhưng chúng hiện ra rồi lại tan biến vào hư vô mãi mãi như thời gian trôi qua không lấy lại được. Từ xưa tới nay thuyền và nước là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó không thể tách rời nhau. Vậy mà giờ thuyền với nước chỉ song song nhau thôi chứ không phải gắn bó lâu dài đi cùng nhau hết đoạn đường sông dài vô tận. Bởi vì nước xuôi trăm ngả thuyền biết theo lối nào. Thuyền – nước như hai đường thẳng song song phân cách nhau không bao giờ có điểm chung mà gặp gỡ, điều này dễ khiến ta liên tưởng đến cảnh chia ly , biệt ly giữa thuyền và con nước chảy bên dưới:

Câu cuối của khổ thơ Huy Cận đã mượn hình ảnh con thuyền cô độc một mình thả trôi trên sông để bộc lộ sự lạc lõng cô đơn, đó đã là một cách sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sâu sắc thế nhưng đọc đến câu thơ “Củi một cành khô lạc mấy dòng “ ta mới tận hưởng rõ nét cái tài, cái hay trong thơ của ông. Như nỗi buồn sầu cô đơn ngày càng ăn sâu vào tâm trí nhà thơ mà cái đơn độc nay còn được nhấn mạnh hơn ở sự nhỏ bé giảm dần của sự vật được đưa vào bài thơ. Giữa một dòng sông rộng lớn duy chỉ có con thuyền thôi đã thấy nhỏ nhoi, lạc loài giữa chốn sông nước, nay chỉ có độc một cành củi khô thì nghe sao thật bé nhỏ đến đáng thương.

Cảm nhận Tràng Giang khổ 1 Bài làm mẫu 1

Huy Cận ông thuộc thế hệ của những nhà thơ nổi tiểng trong phong trào thơ mới.Thơ Huy Cận được nhiều người nhận xét mang nỗi buồn nhân thế. Huy Cận sáng tác bài thơ Tràng Giang để lại tác phẩm điển hình cho hồn thơ Huy Cận. Khổ thơ đầu tiên trong bài thơ miêu tả cảnh sông nước của dòng sông Hồng, qua đó bộc lộ nỗi buồn của người thi sĩ trong khung cảnh thiên nhiên đó.

Những câu thơ mở đầu đầy cảm xúc thể hiện nỗi buồn của thi sỹ trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn. Đọc câu thơ người đọc sẽ mường tượng ra cảnh con sông rộng lớn không chỉ dài mà còn sâu. Cụm từ “tràng giang” cho thấy được dòng sông dài vô tận. Cụm từ “điệp điệp” thể hiện được quy luật thiên nhiên sóng sau xô sóng trước tràn vào bờ. Những câu thơ đầu tiên là nỗi buồn, đa sầu đa cảm của thi nhân, những con sóng như được nhân hóa lên thành nỗi buồn của con người, mỗi con sóng xô vào bờ là một nỗi buồn, cứ thế liên tiếp nhau mà không có dấu hiệu chấm dứt.

Giữa con sông đó xuất hiện con thuyền, hình ảnh thực sự đối lập nhau giữa thiên nhiên bao la và con thuyền lại nhỏ bé. “Con thuyền” chính là hình ảnh tả thực, dưới góc độ của tác giả nhìn con thuyền như thân phận nhỏ bé, nổi trôi của kiếp người lênh đênh trên sóng nước cuộc đời. Tác giả sử dụng hình ảnh con thuyền cổ điển trong thơ ca kết hợp với điệp từ “song song” mang lại nỗi buồn sâu thẳm.

Câu thơ thứ 3 trong khổ thơ đầu còn mang lại cảm giác chia lìa cho người đọc. Thuyền và nước hai hình ảnh gắn bó khăn khít với nhau nhưng giờ đây phải xa cách. Hình ảnh nước trong câu thơ ám chỉ con người, nước cũng cảm xúc biết “sầu” buồn. Cụm từ “sầu trăm ngả” gợi cho ta cảm giác nỗi buồn trải dài khắp không gian trăm ngả.Con thuyền cứ mãi lênh đênh để lại dòng nước lặng im thăm thẳm.

Câu thơ cuối trong khổ thơ đầu tác giả mang đến cho người đọc hình ảnh lạ, lạ so với các nhà thơ khác đó là hình ảnh “củi khô”. Câu thơ cuối mang giá trị gợi hình cao, chiếc củi khô thiếu sức sống và nhỏ bé đang trôi trên sông cô đơn, lạc lõng. Cụm từ “lạc mấy dòng” như muốn nói cành củi khô vốn bé nhỏ lại bị chia rẽ khắp mấy dòng sông. Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ, ông không viết “ một cành củi khô” mà viết “củi một cành khô” cùng nhịp thơ 1/3/3 khác hẳn với ba câu thơ trên như muốn nhấn mạnh hình ảnh cành củi khô cũng như thân phận nhỏ nhoi bị vùi dập lênh đênh trên dòng đời không biết bến bờ.

Tràng giang một bài thơ có mở đầu rất buồn, cảm xúc, các hình ảnh thiên nhiên dưới góc nhìn tác giả đều không có sức sống, cũng như chính tâm trạng buồn man mác, nỗi sầu kiếp người của chính nhà thơ.

Bài làm mẫu 2

Đọc “Tràng giang”, chẳng ai có thể phủ nhận danh hiệu nhà thơ “buồn” nhất trong văn học hiện đại Việt Nam. Nỗi buồn cố hữu trong tâm hồn cùng với cảm giác lạc lõng trong cảnh đất nước mất chủ quyền mà Huy Cận đã viết lên bài thơ “Tràng giang” sau những chiều dạo chơi bên bến Chèm, Hà Nội. Nỗi lòng ấy, cái tôi ấy được thể hiện rõ ràng nhất trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ:

Nhan đề bài thơ gồm hai vần “ang” đây là âm mở, gợi nên sự mênh mông, rộng lớn. Không gian dòng sông hiện ra không chỉ là một con sông bình thường mà nó còn là con sông lớn mang tầm vóc vũ trụ. Không chỉ vậy, sử dụng từ Hán Việt còn khiến cho bài thơ mang âm hưởng cổ kính, mang tính khái quát.

Không phải bất cứ tác phẩm nào cũng có lời đề từ, khi đề từ xuất hiện nó thường là một gợi dẫn có ý nghĩa bao quát toàn bộ nội dung tác phẩm. Trước khi bắt đầu bài thơ Tràng giang là lời đề từ do chính Huy Cận sáng tác:

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Câu thơ đề tự gợi ra không gian vũ trụ rộng lớn, bát ngát mở ra cả chiều rộng và chiều cao. Trước không gian ấy con người cảm thấy bơ vơ, lạc lòng, đây cũng là cảm xúc của biết bao thế hệ thi nhân xưa nay. Câu thơ đề từ đã khơi mạch cảm xúc chung của bài thơ.

Bài thơ mở đầu bằng khổ thơ thấm đượm nỗi buồn:

Những con sóng lăn tăn gợn theo chiều gió thổi, không gian ấy hoàn toàn yên tĩnh. Nhưng ở đây không chỉ có thiên nhiên mà ẩn khuất còn có tâm trạng của con người “buồn điệp điệp”, nỗi buồn không còn vô hình mà hữu hình qua từ láy “điệp điệp”. Nỗi buồn ấy tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau, nó tuy nhẹ nhàng mà thấm đẫm, mà lan tỏa trong lòng con người. Nổi bật trong không gian đó là hình ảnh con thuyền xuôi mái, lênh đênh, phiêu dạt.

Giữa dòng tràng giang con thuyền trở nên bé nhỏ, đơn côi tựa như chính hình ảnh con người. Từ “xuôi mái” cho thấy trạng thái buông xuôi, phó mặc cho dòng nước xô đẩy. Đó phải chăng cũng chính là tâm trạng của những con người Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Thuyền cứ trôi, cứ về để lại nỗi buồn mênh mang, vô hạn cho người ở lại – nước. Và hiển hiện trong hiện thực đó chính là những cành củi khô đơn độc, lẻ loi. Đảo ngữ “củi” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh sự vô nghĩa, tầm thường, không chỉ vậy đó còn là cảnh củi khô không còn sức sống lạc trôi giữa dòng đời vô định. Hình ảnh “củi khô” ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa sự mênh mông của dòng đời. Đồng thời còn ẩn dụ cho cái tôi lạc loài, bơ vơ trong Thơ mới.

Qua 4 câu thơ đầu bài Tràng giang đã góp phần không nhỏ làm nên giá trị nội dung và tư tưởng của Tràng Giang. Đồng thời thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của Huy Cận. Để rồi năm tháng lặng lẽ chảy trôi, tiếng thơ Huy Cận vẫn còn âm vang mãi trong lòng độc giả.

……………

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 9: Cảm Nhận Về Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long 2 Dàn Ý & 8 Bài Văn Mẫu Lớp 9 Hay Nhất trên website Quar.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!